khái quát về giáo dục phổ thông tỉnh Tuyên Quang - Pdf 33

khái quát về giáo dục phổ thông tỉnh Tuyên Quang
1 Quy mô phát triển giáo dục
- Giáo dục tiểu học: Tỉnh đã hoàn thành phổ cập tiểu học và xóa mù chữ từ
năm 1995. Đến năm 2003, toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ
tuổi; chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đang được thực hiện một
cách vững chắc. Tỉnh có 170 trường tiểu học, thu hút 100% học sinh trong độ tuổi
vào tiểu học.
- Giáo dục trung học: Giáo dục trung học (trung học cơ sở và trung học phổ
thông) phát triển mạnh. Số học sinh tăng nhanh (bình quân học sinh trung học cơ
sở tăng 12%/ năm và trung học phổ thông tăng 16% /năm). Tỷ lệ thu hút học sinh
tốt nghiệp lớp 5 vào học lớp 6 hàng năm đạt 100%; học sinh tốt nghiệp lớp 9 vào
lớp 10 trung học phổ thông đạt trên 80%.
Tất cả các xã có trường trung học cơ sở, mỗi huyện có ít nhất ba trường
trung học phổ thông. Toàn tỉnh có 152 trường trung học cơ sở và có 28 trường
trung học phổ thông.
Trường Phổ thông dân tộc nội trú đã mở 2/6 huyện: Có 1 trường trung học
phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, hàng năm có khoảng 450 học sinh tạo nguồn cán bộ là
người dân tộc cho địa phương; một trường trung học cơ sở dân tộc nội trú của huyện
vùng cao Na Hang, mỗi năm có 250 học sinh học tập.
2. Chất lượng giáo dục
- Chất lượng giáo dục phổ thông:
Chất lượng giáo dục đại trà tương đối ổn định: Tỷ lệ lên lớp hàng năm đạt
từ 96- 98%; học sinh xếp loại học lực khá, khá giỏi từ 6-19%, tỷ lệ học sinh tốt
nghiệp tiểu học từ 98- 99%, trung học cơ sở từ 97- 98%, trung học phổ thông từ
85- 90%.


Giáo dục mũi nhọn có tiến bộ, số học sinh thi đỗ vào đại học tập trung vào
trường Trung học phổ thông Chuyên của tỉnh. Số học sinh đạt giải Quốc gia được
giữ vững hàng năm có trên dưới 30 em đạt giải.
Công tác phổ cập giáo dục (PCGD) trung hoc cơ sở được đẩy mạnh cùng với

Giáo dục và đào tạo còn rất nhiều khó khăn, đáng quan tâm hàng đầu là
những vấn đề lớn sau đây:
- Thứ nhất: Chất lượng và hiệu quả Giáo dục và Đào tạo còn thấp so với yêu
cầu. Giáo dục và Đào tạo chưa thực sự đáp ứng được kịp thời những đòi hỏi ngày
càng cao về nhân lực của tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội và sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (mới đạt tới
20%), đào tạo chưa gắn với sử dụng, thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu
khoa học và công nhân lành nghề cho các ngành cơ bản của một tỉnh nông lâm
nghiệp miền núi như hiện nay. Sự bất cập về quy mô đào tạo đang trở thành một
vấn đề nan giải mà chưa thể giải quyết ngay được.
Trình độ kiến thức của một bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông và cao
đẳng, trung cấp chuyên nghiệp... chưa thực sự đạt tới yêu cầu chuẩn của từng cấp
học, ngành học. Tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học còn thấp so với các tỉnh
khác trong khu vực và so với nhu cầu cán bộ khoa học của tỉnh.
Nói chung đây là những thách thức rất lớn mà công tác quản lý giáo dục của
tỉnh phải đối mặt.
- Thứ hai: Đội ngũ giáo viên vừa thừa vừa thiếu (nhất là cấp tiểu học) và yếu
về chất lượng, không đồng bộ về cơ cấu. Về trình độ và cơ cấu còn nhiều bất cập;
trình độ chuyên môn đạt chuẩn còn thấp so với Quy định của Điều lệ, đặc biệt là về
bồi dưỡng chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ còn rất yếu. Đây cũng
chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới chất lượng đầo tạo và hiệu quả quản
lý chưa cao. Sự yếu kém về chất lượng đội ngũ giáo viên do rất nhiều nguyên nhân
trong đó phải kể đến:


+ Một thời kỳ phát triển giáo dục ồ ạt giáo viên được đào tạo gấp qua nhiều
hệ (7+2; 9+3;9+1; 9+32 tuần;12+2...). mặt khác do cơ chế ngành Giáo dục và Đào
tạo không thu hút tuyển chọn được học sinh giỏi tài năng vào các trường sư phạm
cho nên chất lượng rất hạn chế.
+ Công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên còn hình thức, tác dụng, hiệu quả thấp,

+ 396 dân tộc ít người, tỷ lệ: 23.72 %
- Về trình độ giáo viên trung học phổ thông:
+ 03 người có trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ chiếm 3.84 %.
+ 1.475 người có trình độ đại học chiếm 88,37 %.
+ 194 người có trình độ cao đẳng, tỷ lệ 11,63%.
- Về độ tuổi giáo viên trung học phổ thông:
+ Dưới 30 tuổi: 920 người tỷ lệ: 55.12 %.
+ Từ 30 đến 50 tuổi: 413 người tỷ lệ: 24,92 %.
+ Trên 50 tuổi: 89 người tỷ lệ: 19.96 %.
Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trừ một số giáo viên môn thể dục, tin
học, toán, lý còn lại đều đạt chuẩn, có trình độ trên chuẩn ít.
Bảng 2.1: Khái quát quy mô phát triển trường lớp, giáo viên trung học
phổ thông tỉnh Tuyên Quang năm 2000- 2006

Năm
học

20002001
20012002
20022003
20032004
2004-

Số trường trung học
phổ thông

Số
lớp

Tổn


27

27

831

Dân
lập

Số
học
sinh

Số giáo
viên trung
học phổ
thông

Ghi chú

561

18 trường cấp 2,3

734

18 trường cấp 2,3

809


28

28

912

39.92
4

989

20062007

28

28

905

39.78
8

1.669

Đã tách hết cấp 2 ra
khỏi cấp 3, mở thêm
1 trường trung học
phổ thông


phổ thông
Cán bộ quản lý
Tổng Hiệu truởng
Phó Hiệu trưởng
Đơn vị
trườ
ng Tổn
Dân Tổn
Dân
Nữ
Nữ
g
tộc g
tộc
Huyện Na Hang
3
3
1
2
3
3
3
Huyện Chiêm Hóa
6
6
1
5
2
2
2

4
1
0
6
6
1
Quang
Cộng
28
28
4
9
26
26
10

Tổng cán bộ quản

Dân
Tổng
Nữ
tộc
8
6
5
14
4
7
10
3

tỷ lệ 25,64 % (Hiệu trưởng 08, Phó Hiệu trưởng:12).
Là tỉnh miền núi có 20 dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số sống định cư lâu
đời chiếm tỷ lệ 52,01% dân số toàn tỉnh. Vì vậy, việc tập trung vấn đề cơ cấu dân
tộc, cơ cấu vùng miền là điều tất yếu. Đối với ngành giáo dục và đào tạo nói


chung, cấp trung học phổ thông nói riêng, số cán bộ quản lý trường học là người
dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao. Điều này cho thấy chính sách quan tâm cơ cấu
dân tộc đối với cán bộ quản lý tương đối tốt. Vấn đề là phải tập trung tạo điều kiện
cho cán bộ quản lý người dân tộc được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ để tự
họ khẳng định năng lực và tài năng trên lĩnh vực công tác của mình.
* Tuy nhiên qua bảng trên cũng cho thấy: Theo quy định của Bộ Nội vụ tại
Thông tư 35/2006/TT-BNV thì tối thiểu mỗi trường trung học phổ thông có 3 cán
bộ quản lý thì 28 trường cần 84 cán bộ quản lý, như vậy vẫn còn thiếu tối thiểu 6
cán bộ quản lý. Việc thiếu cán bộ quản lý do chưa bổ nhiệm được do nhiều nguyên
nhân, nhưng trong đó chủ yếu do công tác cán bộ (quy hoạch, bổ nhiệm...).
Bảng 2.3: Cơ cấu của đội ngũ cán bộ quản lý về Đảng, thâm niên quản

TT
1
2

Đặc tỉnh
Tổng
Đảng viên
Đảng, ngoài
đảng
Ngoài đảng
Từ 1 đến 5 năm
Thâm niên quản Từ 5 năm đến 10



chuyên môn và quản lý nhưng chưa được xem xét kỹ để bổ nhiệm sẽ thiếu những
cán bộ có năng lực mà không được bổ nhiệm.
- Về thâm niên cán bộ quản lý:
+ Thâm niên quản lý nhiệm kỳ thứ nhất 5 năm là 56 người, tỷ lệ 71,79%.
+ Thâm niên quản lý nhiệm kỳ thứ 2 từ 5 đến dưới 10 năm là 18 người, tỷ lệ
23,07%.
+ Thâm niên quản lý tại một đơn vị nhiệm kỳ 3 từ 10 năm trở lên 4 người, tỷ
lệ 5,14%.
Thâm niên quản lý của cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh
Tuyên Quang cũng là vấn đề bức xúc cần được nhìn nhận nghiêm túc, khách quan
để giải quyết sớm bằng cách luân chuyển xem xét tạo điều kiện bổ nhiệm lại hoặc
bãi miễn thay thế. Thực trạng hiện nay có tới 28,21% cán bộ quản lý trường trung
học phổ thông đang giữ chức vụ từ 2 nhiệm kỳ trở lên phản ánh điều kiện dẫn đến
sự trì trệ bảo thủ của cán bộ quản lý và sự quan tâm chưa đúng mức của Sở Giáo
dục và Đào tạo đối với đội ngũ Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường trung học
phổ thông.
Bảng 2.4: Về cơ cấu độ tuổi cán bộ quản lý

Nam

Nam tuổi
từ 55-59
và nữ từ
50- 54
8

Nam tuổi
từ 50-54


Cán bộ
quản lý
dưới 30

26

8

0

26
33

8
11

0
0

10
0
10
13

Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang năm
2006.
Qua bảng trên chúng tôi đánh giá như sau về độ tuổi cán bộ quản lý:
- Số nam tuổi từ 55-59 và nữ từ 50- 54 là 15 người, tỷ lệ 19%.


Ngoại trung
ngữ
học
cao
cấp

Giáo
viên
trung
học

Thạc


Đại
học

2

75

27

9

78

78

9

2006.
Qua bảng trên chúng tôi đánh giá như sau về trình độ cán bộ quản lý:
- Trình độ chuyên môn:
+ Có 01 cán bộ quản lý trình độ Tiến sỹ, tỷ lệ 1,28 %.
+ Có 02 cán bộ quản lý trình độ Thạc sỹ, tỷ lệ 2,56 %.
+ Có 75 cán bộ quản lý trình độ đại học tỷ lệ 94,16 %.
Đội ngũ cán bộ trường trung học phổ thông đạt chuẩn đào tạo 100 % trở lên.
Tuy vậy, số có trình độ cao học còn ít.
- Trình độ chính trị:
+ Trình độ lý luận cao cấp: 09 người, tỷ lệ 11,53 %.
+ Trình độ trung cấp chính trị: 15 người, tỷ lệ 19,23%.
+ Trình độ sơ cấp chính trị: 54 người tỷ lệ 69,24 %


Số có trình độ lý luận cao cấp còn thấp do chỉ tiêu đào tạo cử nhân và cao
cấp chính trị của tỉnh hàng năm được phân bổ ít. Tuy vậy, trong khả năng của
ngành giáo dục và đào tạo, việc mở các lớp trình độ chính trị trung cấp chưa được
chú ý. Hầu hết cán bộ quản lý trường trung học phổ thông chỉ có trình độ sơ cấp
chính trị, đây là công tác cần được quan tâm của ngành giáo dục và đào tạo.
- Trình độ quản lý:
+ 27 cán bộ quản lý được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục được học
tại Học viện cán bộ quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ những năm 2000 trở về
trước, tỷ lệ 34,61 %.
+ 51 cán bộ quản lý chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, tỷ lệ 65,39%.
Một thực tế đáng quan tâm là số cán bộ quản lý được bồi dưỡng nghiệp vụ
quản lý chiếm tỷ lệ thấp, thời gian bồi dưỡng đã lâu, điều này đặt ra yêu cầu cấp
bách với công tác đào tạo lại và bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý, trong đó chú ý
bồi dưỡng cập nhật kíên thức mới về nghiệp vụ quản lý, nhất là đối với yêu cầu đổi
mới giáo dục phổ thông hiện nay.
- Trình độ tin học và ngoại ngữ:

Ngoại Giáo Giáo
ngữ viên viên
ngữ trung trung



giáo
dục
Số
lượng
Tỷ lệ %

78

học
cao
cấp

học

01

2

75

27

9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status