Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Bùi Thị Hoa GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN
(1945 – 1954) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
2.2 Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên trong những năm đầu toàn quốc
kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1949 34
2.2.1 Chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp 34
2.2.2 Tình hình giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên 40
Chương 3: GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 1950 ĐẾN NĂM 1954. 51
3.1 Chủ trương cải cách và phát triển giáo dục của Đảng 51
3.2 Bước chuyển biến mới của giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên 57
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục phổ thông là
nền tảng văn hóa, là sức mạnh tương lai của một dân tộc. Nó đặt những cơ sở
ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì thế mà giáo dục phổ thông là bộ phận rất
quan trọng trong hệ thống giáo dục nước ta, luôn được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
vừa ra đời đã gặp muôn vàn khó khăn. Trước tình hình mới, chính quyền cách
mạng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có những chỉ đạo kịp thời để
nhân dân, ngành Giáo dục tỉnh Thái Nguyên có nhiệm vụ xây dựng và phát
triển hệ thống giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng chế độ
mới cũng như công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Những thành tựu về việc
xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục phổ thông của tỉnh Thái Nguyên là
một trong những bằng chứng cụ thể khẳng định tính đúng đắn của Đảng ta về
việc chỉ đạo phát triển giáo dục giai đoạn 1945 – 1954.
Vì vậy, nghiên cứu hoạt động và những thành tựu của giáo dục phổ
thông ở tỉnh Thái Nguyên là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học. Hơn
nữa, việc nghiên cứu này còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc phát triển giáo
dục phổ thông hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên.
Xuất phát từ những ý nghĩa trên, tôi đã mạnh dạn chọn nghiên cứu vấn
đề “Giáo dục phổ thông ở Thái Nguyên (1945 – 1954)” làm đề tài Luận văn
Thạc sĩ Sử học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Giáo dục phổ thông ở nước ta nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng
trong giai đoạn 1945 – 1954 là một vấn đề thu hút các nhà khoa học nghiên
cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong cuốn “35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông” (Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1980), tác giả Võ Thuần Nho đề cập đến lịch sử
giáo dục phổ thông nước ta từ năm 1945 đến 1980, trong đó dành một phần
rất ít để nói về tình hình giáo dục phổ thông nước ta từ năm 1945 đến năm
1954. Cuốn sách giúp cho chúng ta nắm được lịch sử cơ bản của 35 năm phát
triển sự nghiệp giáo dục phổ thông Việt Nam.
Ở bài viết “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với sự nghiệp
văn hoá, giáo dục thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)” đăng trên
phát triển của Đảng bộ tỉnh. Cuốn sách cũng đã ghi lại những thành tựu to lớn
của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên tất cả các lĩnh vực, trong
đó đã trình bày một cách sơ lược về giáo dục phổ thông thời kì kháng chiến
chống thực dân Pháp.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu nghiên
cứu về giáo dục phổ thông Thái Nguyên giai đoạn 1945 – 1954, làm rõ những
thành tựu, hạn chế, ý nghĩa của việc phát triển giáo dục phổ thông đối với tỉnh
nhà cũng như công cuộc kháng chiến, kiến quốc nói chung, để từ đó rút ra
những kinh nghiệm thực tiễn cho việc phát triển giáo dục phổ thông hiện nay.
Đó là những vấn đề mà Luận văn sẽ tập trung đi sâu khai thác và giải quyết.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Giáo dục phổ thông ở Thái Nguyên.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Thời gian: Từ năm 1945 đến năm 1954. Tuy nhiên, để làm rõ yêu cầu
của đề tài, Luận văn đề cập đến tình hình giáo dục ở Thái Nguyên trong thời
gian trước năm 1945.
3.3 Nhiệm vụ của đề tài.
- Khái quát tình hình giáo dục ở Thái Nguyên trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945.
- Trình bày hệ thống quá trình xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục
phổ thông ở Thái Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển giáo dục phổ
thông ở Thái Nguyên.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
1.2 Tình hình giáo dục tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm
1949
2.1 Sự hình thành và phát triển bước đầu của giáo dục phổ thông tỉnh
Thái Nguyên (1945 – 1946)
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của
Đảng.
2.1.2 Sự hình thành và phát triển bước đầu của nền giáo dục phổ thông
tỉnh Thái Nguyên.
2.2 Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên trong những năm đầu toàn
quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1949).
2.2.1 Chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp.
2.2.2 Tình hình giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Giáo dục phổ thông Thái Nguyên từ năm 1950 đến năm 1954.
3.1 Chủ trương cải cách và phát triển giáo dục của Đảng
3.2 Bước chuyển biến mới của giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Chương 1
GIÁO DỤC TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
1.1 Thái Nguyên dưới ách cai trị của thực dân Pháp
Cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa và đẩy mạnh các cuộc xâm lược thuộc địa. Nước Việt Nam giàu tài
nguyên khoáng sản lại đang trong tình trạng suy yếu bởi chính sách cai trị của
triều Nguyễn đã trở thành miếng mồi ngon cho tư bản Pháp. Ngày 1/9/1858,
liên quân Pháp – Tây Ban Nha cho các tàu chiến ở ngoài cửa biển Đà Nẵng
thành 7 huyện, bao gồm: Tư Nông, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ,
Văn Lãng, Phú Lương và châu Định Hoá với 51 tổng, 199 làng. Ngoài ra,
thực dân Pháp còn đặt thêm ở Thái Nguyên 3 trung tâm hành chính là Chợ
Chu (Định Hoá), Phương Độ (Phú Bình) và Hùng Sơn (Đại Từ).
Bộ máy cai trị ở cấp tỉnh gồm có 1 viên Công sứ người Pháp thuộc
ngạch quan cai trị hạng ba làm chủ tỉnh; 1 Phó Công sứ thuộc ngạch quan cai
trị hạng 4; 2 Tham tá; 3 Thanh tra lính khố xanh; 8 Trưởng trại lính khố xanh;
1 Trưởng đồn lính sen đầm; 2 nhân viên thuế đoan và độc quyền; 1 nhân viên
ngành Công chính; 1 nhân viên Bưu điện; 1 viên chức thuộc ngạch quan cai
trị hạng năm đại diện Công sứ tại Chợ Chu; 1 Tham tá bậc nhất đại diện Công
sứ tại Phương Độ.
Giúp việc cho bộ máy hành chính cai trị của Pháp là quan lại người Việt
từ tỉnh xuống các châu, huyện gồm 1 Án sát mang hàm Tuần phủ phụ trách
chung toàn tỉnh; 1 Thương tá phụ tá cho Án sát; 2 Tri phủ (Phú Bình và Đại
Từ); 4 Tri huyện (Phú Lương, Phổ Yên, Võ Nhai, Đồng Hỷ); 1 Tri châu
(Định Hóa); 1 mang hàm Tri phủ phụ trách trung tâm hành chính Phương Độ;
3 nhân viên gồm: 1 giáo thụ, 1 thông ngôn (phiên dịch), 1 lại mục tại trung
tâm hành chính Phương Độ; 1 nhân viên bưu điện Chợ Chu; 1 nhân viên bưu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
điện Chợ Mới. Ở các tổng có các Chánh tổng, Phó Tổng cai quản; ở các làng
(thôn) có Lý trưởng, Phó Lý trưởng và Hội đồng kì hào, kỳ mục điều hành
công việc. Hầu hết các viên quan nắm quyền cai trị từ cấp làng (thôn) trở lên
ở Thái Nguyên đều thuộc giai cấp địa chủ phong kiến cấu kết và làm tay sai
cho thực dân Pháp.
Bên cạnh bộ máy cai trị, thực dân Pháp còn thiết lập bộ máy đàn áp với
một lực lượng quân sự lớn được bố trí ở 37 đồn binh rải khắp tỉnh. Mỗi đồn
binh lẻ có khoảng từ 30 đến 50 lính, những đồn binh lớn gồm nhiều trại lính
lạc hậu, lỗi thời, mê tín dị đoan, tuyên truyền phổ biến lối ăn chơi truỵ lạc,
trác táng. Chúng bắt nhân dân ta phải uống “rượu ty” của chúng đưa về, làng
bản nào không tiêu thụ hết số rượu của chúng vẫn phải trả tiền và bị coi là
phiến loạn. Chúng dùng thuốc phiện để đầu độc nhân dân ta và làm suy yếu
giống nòi. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, thuốc phiện được bán công khai,
nhiều tiệm hút, tiệm rượu, sòng bạc được mở ra để thu hút, lôi kéo thanh niên
vào con đường nghiện nghập, ăn chơi sa đoạ, mòn mỏi về thể xác và tinh
thần, lãng quên con đường đấu tranh cách mạng. Năm 1910, nhân dân tỉnh
Thái Nguyên đã phải tiêu thụ 43626 lít rượu cồn, 710 kg thuốc phiện… mang
lại nguồn lãi lớn cho bọn thực dân, phong kiến.
Công tác y tế, chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân không được chính
quyền thực dân chú ý. Trong toàn tỉnh, chúng cũng thành lập một Ban y tế do
viên Công sứ (chủ tỉnh) làm Chủ tịch và 6 uỷ viên gồm: 1 thầy thuốc người
Pháp, 1 nhân viên công chính người Pháp, 1 thầu khoán ngành vận tải người
Pháp và 3 người Việt là Án sát, Tri huyện Đồng Hỷ và Trưởng phố; nhưng
đến năm 1932, cả tỉnh Thái Nguyên cũng chỉ có một nhà thương với 30
giường bệnh đặt tại thị xã Thái Nguyên và một bệnh xá 30 giường bệnh đặt
tại Chợ Chu (Định Hoá); các huyện Phú Lương, Phú Bình mỗi huyện có 1 nhà
thương nhỏ dành cho bọn quan lại; huyện Phổ Yên chỉ có 1 y tá, cả huyện
Đồng Hỷ không có 1 cơ sở y tế nào… Người dân ốm đau, bệnh tật chỉ biết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
trông chờ vào sự may rủi, đồng bào các dân tộc thiểu số thường mời thày
cúng về “cúng ma”… Tình trạng hữu sinh, vô dưỡng gần như là phổ biến
trong nhân dân các dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên, nhất là trong đồng bào dân
tộc Dao.
1.2 Tình hình giáo dục ở Thái Nguyên
Từ thời nhà Lý (1010 – 1025), nước ta là nước văn hiến. Triều đình đã
Cũng là một tỉnh trung du miền núi, Tuyên Quang vào thời Lê được làm 1
trong 9 địa điểm thi hương, trong khi đó Thái Nguyên chưa từng có vinh dự
ấy. Song, truyền thống hiếu học của người dân Thái Nguyên không phải là
không có.
Ở những thế kỉ trước, khi quê hương đất nước còn triền miên trong cảnh
tranh giành quyền lực của các triều đình phong kiến (Lê, Mạc), nạn ngoại
xâm thường xuyên đe doạ, nhân dân phải sống trong cảnh đói khổ, áp bức, thì
ở Thái Nguyên đã từng xuất hiện nhiều vị đỗ đạt cao. Tiêu biểu phải kể đến
các danh nhân:
1. Trịnh Hiển – thuộc xứ Thái Nguyên đỗ khoa Minh Kinh bác học
năm Thuận Thiên thứ 2 (1429) đời vua Lê Thái Tổ.
2. Nguyễn Cầu quê ở thôn Thanh Thù, xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên,
đỗ đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân (tiến sỹ) khoa Quý Mùi, niên hiệu
Quang Thuận năm thứ 4 (1463) đời vua Lê Thánh Tông, được truy phong
chức Khâm sai đại thần chỉ huy sứ thị vệ long quân Cẩn hầu, Chính đô đốc
đức bác quận công. Ông làm quan trong suốt 6 đời vua Lê (từ năm 1463 đến
năm 1522).
3. Đỗ Cận (tự là Hữu Khúc) người xã Thống Thượng (nay là xã Minh
Đức) – Phổ Yên, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân (tiến sỹ) khoa thi Mậu
Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478) dưới đời vua Lê Thánh Tông,
được thăng tới chức Thượng thư – một trong sáu vị quan đứng đầu bộ máy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông. Ông cũng là 1 trong 28 vị thuộc
“Tao đàn nhị thập bát tú” do Lê Thánh Tông làm Tao đàn nguyên soái.
4. Phạm Nhĩ, quê ở Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, đỗ Hoàng giáp khoa
Quý Sửu (1493) năm Hồng Đức thứ 24 đời vua Lê Thánh Tông, được bổ
nhiệm làm quan tới chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên (viên quan đứng đầu
- Lớp đồng ấu (enfantin), còn gọi là lớp 5
- Lớp dự bị (préparatoire), còn gọi là lớp 4 (tư)
- Lớp sơ đẳng (Elémentaire) còn gọi là lớp 3
- Lớp nhì năm thứ nhất (moyen 1ère année)
- Lớp nhì năm thứ hai (moyen 2 ième année)
- Lớp nhất (supérieur).
Ba lớp đầu (5, 4, 3) được gọi là bậc sơ học.
Một thời gian dài kể từ ngày hoàn thành việc đánh chiếm Thái Nguyên,
thực dân Pháp không mở trường học. Sau này, do nhu cầu đào tạo tay sai,
chúng phải mở một vài trường, lớp ở thị xã Thái Nguyên và một số thị trấn.
Năm 1905, trong bộ máy quan lại người Việt ở tỉnh Thái Nguyên có một giáo
thụ coi việc giáo dục, làm việc tại trung tâm hành chính Phương Độ (phủ lỵ
phủ Phú Bình).
Thực hiện chính sách ngu dân đối với nhân dân Việt Nam nói chung và
nhân dân Thái Nguyên nói riêng, hằng năm khoản ngân sách mà thực dân
Pháp dành cho giáo dục hết sức ít ỏi. Tính riêng năm 1931, chi phí cho giáo
dục chỉ chiếm 1,2% tổng chi ngân sách của tỉnh và không bằng một phần
mười chi phí cho xây dựng và tu bổ nhà tù. Năm học 1932 – 1933 được coi là
năm học đỉnh cao của nền giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương, thì số
nhân viên làm công tác giáo dục toàn tỉnh Thái Nguyên chỉ có 37 người, trong
đó có 1 giáo thụ thanh tra các trường, 33 giáo viên và trợ giáo nam, 3 giáo
viên nữ. Một số người có đủ khả năng cần thiết lại không chấp hành theo sự
phân công của chính quyền thực dân. Năm học 1932 – 1933, cả tỉnh Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Nguyên mới có 2 trường tiểu học kiêm bị (Ecole de plein éxercice) ở tỉnh lỵ
Thái Nguyên. Trong đó 1 trường con trai (Trường Renée Robin) nằm trên
đường Đumarê Canphốc (nay là khu vực phía sau Nhà Văn hoá tỉnh Thái
là con em các tầng lớp trên của Thái Nguyên sẽ dần bị “Pháp hoá”, sùng bái
văn chương và nền văn hoá Pháp, coi khinh nền văn hoá cổ truyền của dân tộc
và trở thành người dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc Pháp. Do vậy, nội
dung giáo dục trong các trường học do thực dân Pháp lập ra hết sức phản
động, phản khoa học, phản dân tộc. Tiếng Pháp được học từ lớp đồng ấu. Các
môn khoa học tự nhiên nặng về lý thuyết, thiếu phần thực hành và thiếu hẳn
những tri thức thực tiễn về Việt Nam. Các môn khoa học xã hội đều mô
phỏng theo sách dùng ở nước Pháp hoặc có biên soạn lại ít nhiều. Những con
người tiêu biểu cho lực lượng nhân dân, những cuộc khởi nghĩa oanh liệt của
quần chúng chống lại chính quyền thống trị bị xem là những cuộc nổi loạn.
Nguyễn Ái Quốc đã từng có những nhận xét khá đầy đủ về mục đích của các
trường học do thực dân Pháp lập ra ở Việt Nam: “Trường học lập ra không
phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân
thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ. Ngoài mục đích giáo dục
để đào tạo tuỳ phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho
bọn xâm lược – người ta gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy
hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục … chỉ dạy cho họ biết sùng
bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không
phải Tổ quốc của mình và đang áp bức mình. Nền giáo dục ấy dạy cho thanh
niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình… Nói tóm lại, trường học thật là
tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó” [41, tr 81]
Về mặt tổ chức quản lý giáo dục, ở tỉnh có Nha học chính tỉnh trực
thuộc Nha học chính Bắc Kì ở Hà Nội. Đứng đầu Nha học chính Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
có quan Kiểm học Trần Ngọc Quang. Nha học chính chưa có tổ chức quản lý
các trường. Pháp trả lương cho toàn bộ giáo viên.
Năm 1940, Pháp mở thêm một số trường bán cấp tiểu học ở các xã đông
gian dài là rất rõ. Tuy nhiên, một thực tế khách quan nằm ngoài mong muốn
của thực dân Pháp là nền giáo dục thuộc địa cũng du nhập vào nước ta những
giá trị của nền văn minh phương Tây. Nền giáo dục ấy đã tạo ra một tầng lớp
công chức phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác thuộc địa nhưng đồng
thời cũng tạo ra lớp người tân học từ chỗ tiếp thu những văn minh phương
Tây mà nảy nở ra hoài bão tự chủ phù hợp với thời đại mới. Ngay cả lớp
người du học cũng đã biến “con đường sang Pháp là con đường chống Pháp”.
Chính vì vậy, xuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc, dòng giáo dục yêu nước do các văn thân sĩ phu tiến bộ khởi xướng và chỉ
đạo đã diễn ra và tồn tại trong hai thập kỉ đầu thế kỉ XX. Dòng giáo dục yêu
nước đầu thế kỉ XX gắn liền với những hoạt động giáo dục trong cuộc vận
động Đông du do Phan Bội Châu khởi xướng, cuộc vận động Duy tân ở
Trung Kì do Phan Châu Trinh phát động với việc mở trường học dùng chữ
quốc ngữ thay cho chữ Hán, dạy các môn học mới thay cho tứ thư ngũ kinh,
đặc biệt là phong trào Đông Kinh nghĩa thục do các nho sĩ yêu nước, thức
thời như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Nghiêm Xuân Quảng cùng với
những trí thức tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Trần Hữu
Đức, Phan Huy Thịnh lập nên. Đông Kinh nghĩa thục – một mô hình giáo dục
tư thục mới lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện giảng dạy chủ yếu, coi trọng
thực học, gắn học với hành… Mô hình giáo dục này vừa kế thừa những giá trị
văn hoá truyền thống, vừa tiếp nhận những giá trị văn hoá phương Tây hiện
đại mới du nhập vào nước ta. Mô hình giáo dục đó thích hợp với hoàn cảnh
lịch sử đất nước những năm đầu thế kỉ XX khi mà nền Nho học (Cựu học)
đang suy tàn nhưng chưa chết hẳn, còn nền giáo dục Pháp – Việt (Tân học)
đang bước đi những bước đầu tiên để phục vụ cho chế độ thực dân, đi ngược
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
lại lợi ích dân tộc. Mặc dù các phong trào đấu tranh của nhân dân ta những
thiết lúc bấy giờ. Đây cũng là một nội dung trong cuộc đấu tranh đòi tự do,
dân chủ, chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp ở thuộc địa. Năm
1936, Đảng đưa ra bản yêu sách 12 điểm, trong đó nêu rõ phải mở rộng nền
giáo dục, sửa đổi những thể lệ vào trường học, lên lớp, thi cử, cưỡng bách
giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ…
Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
(26/7/1936), chi bộ hải ngoại Long Châu quyết định đưa cán bộ, đảng viên về
nước hoạt động, trong đó đồng chí Đặng Tùng được cử về gây dựng cơ sở,
phát triển phong trào cách mạng ở Thái Nguyên. Cuối năm 1936, đồng chí
Đặng Tùng đã gây dựng cơ sở Đảng đầu tiên tại xã La Bằng huyện Đại Từ.
Sau khi thành lập, cơ sở Đảng ở La Bằng đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
vận động quần chúng vào Hội tương tế; giáo dục, rèn luyện họ thành lực
lượng nòng cốt trong đấu tranh cách mạng. Từ mùa xuân năm 1937, chi bộ
Võ Nhai được thành lập và đặc biệt quan tâm đến công tác xoá mù chữ cho
nhân dân. Nhiều lớp truyền bá quốc ngữ được mở ra ở các xã Phú Thượng, La
Hiên, Tràng Xá, lôi cuốn nhiều nam, nữ thanh niên thuộc đủ các thành phần
dân tộc trong huyện đến học. Các nam nữ thanh niên đã lập ra các nhóm đọc
báo tiến bộ như báo “Đời nay”, “Tin tức” để thông qua đó tuyên truyền
đường lối, chủ trương cách mạng của Đảng cho quần chúng. Tại thị xã Thái
Nguyên, phong trào học chữ quốc ngữ diễn ra khá sôi nổi, lôi cuốn các tầng
lớp nhân dân, nhất là thanh niên, phụ nữ.
Đầu năm 1938, theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh, Ban Chấp
hành Đảng bộ Bắc Kì đã quyết định vận động thành lập tổ chức công khai
chống nạn thất học. Tháng 5/1938, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Võ
Nguyên Giáp cùng một số nhân sĩ tiến bộ đứng ra thành lập Hội Truyền bá
quốc ngữ, bầu Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng. Hệ thống của Hội được xây
dựng từ ban vận động trung ương đặt trụ sở tại Hà Nội cho tới các chi nhánh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
thạo chữ quốc ngữ, vừa nắm được một số kiến thức thông thường, ngoài ra
làm được đủ bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia và những bài toán đơn giản.
Thông qua việc áp dụng chương trình học của Hội đề ra, Chi hội Truyền
bá quốc ngữ Thái Nguyên mong muốn những người thất học được thoát nạn
mù chữ một cách chắc chắn, được cung cấp một số kiến thức thường dùng và
sử dụng có ích vốn kiến thức ấy trong sinh hoạt và hoạt động xã hội của mình.
Từ những năm 1943 – 1944, khi Mặt trận Việt Minh bắt đầu phát triển
mạnh ở Thái Nguyên, nhiều giáo viên và học viên tiến bộ đã được tuyên
truyền và kết nạp vào các tổ chức của Đảng, của Mặt trận. Cũng trong thời
gian này, ngoài những lớp học của Chi hội Truyền bá quốc ngữ, còn có các
lớp do hội viên Mặt trận Việt Minh tổ chức được nhân dân và các chiến sĩ
Cứu quốc quân hăng hái tham gia. Phong trào học chữ quốc ngữ được đẩy
mạnh hơn khi các căn cứ cách mạng được thành lập. Mặt trận Việt Minh ra
đời tháng 5 năm 1941 đã đề ra một chương trình hành động – “Chương trình
Việt Minh”- gồm 10 chính sách lớn. Trong đó khẳng định rõ: Huỷ bỏ nền
giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bậc sơ
đẳng, cho phép các dân tộc được dùng tiếng mẹ đẻ của mình, phổ thông trong
việc giáo dục mình.
Tháng 6 năm 1945, Khu giải phóng được thành lập gồm 6 tỉnh: Cao
Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang do Uỷ ban
chỉ huy lâm thời đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Quán triệt chỉ chị của
Tổng bộ Việt Minh, Uỷ ban giải phóng các cấp tỉnh Thái Nguyên có nhiệm
vụ: “tổ chức việc chống nạn mù chữ” và mở lớp dạy chữ quốc ngữ, mở
trường sơ cấp cứu quốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên