Thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động ở huyện kỳ anh tỉnh hà tĩnh trong thời kỳ hội nhập - Pdf 33

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
tr¦êng §¹i häc Vinh

TRẦN HỒNG QUÂN

THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở HUYỆN KỲ ANH
TỈNH HÀ TĨNH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2015


2

Bộ giáo dục và đào tạo
trƯờng Đại học Vinh

TRN HNG QUN

THC THI CHNH SCH GII QUYT VIC
LM CHO NGI LAO NG HUYN K ANH
TNH H TNH TRONG THI K HI NHP
CHUYấN NGNH: CHNH TR HC
Mã số: 60310201

LUN VN THC S KHOA HC CHNH TR

Ngi hng dn khoa hc:
TS. V TH PHNG Lấ



5

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSXH

: Chính sách xã hội

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

XKLĐ

: Xuất khẩu lao động


6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

- Thị trường lao động Việt Nam, thực trạng và giải pháp của Tiến sĩ
Nguyễn Thị Thơm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
- Lao động, việc làm trong xu thế toàn cầu hoá của TS. Lê Văn Toan,
Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2007.
- Chính sách ứng phó khủng hoảng kinh tế của Việt Nam của Nguyễn
Minh Quang, Đoàn Xuân Thuỷ (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010.
- Xu hướng việc làm Việt Nam của Trung tâm Quốc gia Dự báo và Thông
tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2010.
Các bài báo, tạp chí bàn về vấn đề lao động, việc làm và thực thực thi
chính sách giải quyết việc làm cho người lao động như:
- Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng, Tạp
chí Cộng sản, số 23, tháng 8/2003.
- Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện
của Trần Việt Tiến, Tạp chí Kinh tế phát triển (số 181), 2012.
- Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hoá, công
nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn của TS Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lao
động - Xã hội, số 246 - 9/2004.
- Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập của Nguyễn Thị Kim Ngân,
Tạp chí Cộng sản, số 12/2007.
- Việc làm và chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay của tác
giả Phạm Đức Chính, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 363 - 8/2008.
- Để dạy nghề gắn với giải quyết việc làm của PGS, TS Cao Văn Sâm,
đăng trên Tạp chí Lao động & xã hội số 331 - 3/2008.


8
- Phương hướng giải quyết việc làm cho thanh niên đến năm 2015 của TS
Phạm Hữu Đắc, Tạp chí Lao động & xã hội số 353 - 2/2009.

- Nghị quyết Số: 96/2008/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
“Về việc phê chuẩn Đề án đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực lao động kỹ thuật
giai đoạn 2009-2015”, 2008.
-Vấn đề việc làm tại khu Kinh tế Vũng Áng, thực trạng và kiến nghị, của
Thăng Long, Mai Ngọc Anh, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (số 199); tr.64-70,
2014.
- Kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị về đào
tạo và bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà
Tĩnh trong Thông báo số: 248/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ (2010),…
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đây đã tiếp cận vấn đề việc làm
và giải quyết việc làm ở nhiều góc độ khác nhau, qua đó cũng gợi mở một số vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công
trình khoa học nào bàn về vấn đề thực thi chính sách giải quyết việc làm cho
người lao động ở một địa bàn cụ thể và đặc thù như huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh, đặc biệt là trong thời kỳ mà hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. Vì
vậy, đề tài được lựa chọn không trùng lặp với các công trình đã công bố.
Do đó, nghiên cứu về vấn đề thực thi chính sách giải quyết việc làm cho
người lao động ở huyện Kỳ Anh trong thời kỳ hội nhập đang là vấn đề thời sự
cấp thiết, có ý nghĩa then chốt trong việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội
của Huyện, góp phần xây dựng tỉnh Hà Tĩnh giàu đẹp, văn minh và phát triển
bền vững.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc phân tích thực trạng thực thi chính sách giải quyết việc
làm cho người lao động ở huyện Kỳ Anh trong thời gian từ 2008 đến 2014, luận
văn đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách
giải quyết việc làm cho người lao động trong những năm tiếp theo.


10
3. Nhiệm vụ nghiên cứu

ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, công trình nghiên cứu của tác giả có liên
quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.


12
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
1.1. Việc làm và thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động
Có nhiều cách quan niệm khác nhau về việc làm, song xét dưới góc độ
triết học, thực chất của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con người với tư
liệu sản xuất. Ở Việt Nam, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao
cấp trước đây, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa
nhận là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh,
tập thể). Theo đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế
khác và cũng không thừa nhận có hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp…
Khi chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
quan niệm về việc làm của Đảng và Nhà nước đã được thay đổi một cách căn
bản. Theo Bộ luật Lao động ở nước ta hiện nay (2012), tại Điều 9: Việc làm,
giải quyết việc làm đã khẳng định: 1.Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu
nhập mà không bị pháp luật cấm. 2.Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội
có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả
năng lao động đều có cơ hội có việc làm [38, tr.5].
Từ quy định trên, có thể khái quát khái niệm việc làm như sau: việc

việc làm và phát triển thị trường lao động ở nước ta.
Khái niệm việc làm có hai đặc trưng cơ bản đó là mang lại thu nhập và
không bị pháp luật cấm là cơ sở để xã hội thừa nhận là việc làm. Điều này thể
hiện như sau: Về mặt pháp lý: việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh


14
của pháp luật về độ tuổi, về những ngành nghề được làm và không được làm. Về
mặt kinh tế: việc làm phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao động, người
sử dụng lao động và đóng góp cho tăng trưởng và phát triển quốc tế. Về chính
trị: việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối lãnh đạo của giai cấp cầm
quyền. Về xã hội: việc làm phải phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức,
phong tục tập quán, công bằng xã hội. Về mặt cá thể: việc làm thể hiện những tri
thức, năng lực, phẩm chất của người lao động khi tham gia việc làm ở những
ngành cụ thể.
Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm, cần làm sáng rõ khái niệm người có
việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp.
Người có việc làm:
Đối với nước ta, người có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên
đang làm việc trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, đang làm việc để nhận tiền
lương (tiền công), hoặc đang làm công việc dịch vụ cho bản thân, gia đình và
các việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình.
Có việc làm là có thu nhập, là đòi hỏi chính đáng của người lao động.
Tạo được việc làm tức là thu hút được nguồn lực lao động vào quá trình sản
xuất, làm ra nhiều của cải cho xã hội, tạo ra tiền đề vật chất để giải quyết tốt mối
quan hệ gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Trong hoạch
định chính sách và chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta luôn quan tâm đến con người, tạo
mọi điều kiện để con người phát triển.
Thiếu việc làm: Thiếu việc làm được hiểu là trạng thái trung gian giữa có
việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là tình trạng có việc làm, nhưng do nguyên

các công trình sản xuất... Chính sách Nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề
giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các
hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm
cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao
động phù hợp năng lực và yêu cầu...


16
Trong ý nghĩa đó, giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm
được việc làm mới cho người lao động. Ở đây là tạo thêm việc làm mới cho
người lao động mang tính chất là người lao động đang không có việc làm chứ
không phải là người lao động đang đi làm có thêm việc làm khác nữa. Với quan
niệm như vậy, thì giải quyết việc làm là tạo thêm việc làm mới từ các cơ chế
chính sách của Nhà nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động của các cơ
quan, doanh nghiệp thông qua việc hình thành môi trường cho sự kết hợp các
yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất. Nghĩa là, thông qua cơ chế chính sách
khuyến khích đầu tư, để các chủ thể trong nền kinh tế, các doanh nghiệp mở
rộng hoạt động đầu tư, sản xuất nhằm tạo thêm nơi làm việc mà người lao động
có thể vận dụng sức lao động của mình mà sản xuất của cải cho xã hội.
Với cách tiếp cận như trên, giải quyết việc làm không chỉ là nhiệm vụ
chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan
doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động. Giải quyết việc làm là nhằm tạo
ra việc làm đầy đủ cho người lao động và cao hơn, đó là tạo ra sự tự do trong lựa
chọn việc làm để triệt để giải phóng sức lao động và các nguồn lực của xã hội.
Như vậy, giải quyết việc làm thực chất là một quá trình tác động có chủ
đích của chủ thể xã hội và người lao động nhằm giúp người lao động có việc
làm, việc làm đầy đủ, có thu nhập và phải hướng tới không ngừng nâng cao chất
lượng việc làm, thu nhập cao, ổn định để người lao động có cuộc sống vật chất
và tinh thần ngày càng cao.
1.1.1.2. Thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động

lựa chọn giữa các phương án chính sách công, Nhà nước phê chuẩn một phương
án tối ưu nhất và ban hành chính sách để đưa vào thực thi.
+ Giai đoạn thực thi chính sách công là giai đoạn thực hiện các mục tiêu
của chính sách công trên thực tế, là giai đoạn vận dụng các giải pháp định trước
để đạt được những mục tiêu của chính sách công. Chính trong giai đoạn này,
chính sách công được biến thành các kết quả thực tế. Giai đoạn này nó cần có sự
tham gia của nhiều nguồn lực. Tuy nhiên, giai đoạn này thường chịu nhiều tác


18
động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, làm ảnh hưởng đến kết quả,
trong đó việc tổ chức thực thi và duy trì chính sách là yếu tố quan trọng hàng
đầu bảo đảm sự thành công của chính sách công.
+ Giai đoạn phân tích chính sách công là giai đoạn sử dụng các biện pháp
chuyên môn để để nghiên cứu, xem xét mục tiêu, nội dung chính sách công đã
đề ra cũng như quá trình thực thi chính sách công, từ đó tìm ra những điểm
mạnh, điểm yếu, những chỗ chưa phù hợp để có kế hoạch điều chỉnh, bổ sung
hoặc đưa ra chính sách mới thích hợp hơn. Tuy giai đoạn này không trực tiếp tạo
ra sản phảm cụ thể, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ ra những khuyết
tật của sản phẩm đó, từ đó làm cho chúng hoàn hảo hơn và thích hợp hơn với
môi trường hiện có. Phân tích chính sách công là một phương tiện hữu hiệu góp
phần nâng cao năng lực của Nhà nước trong việc ban hành và thực thi chính
sách công.
+ Giai đoạn đánh giá chính sách công là giai đoạn quan trọng trong chu
trình chính sách. Trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của
chính sách công với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội đạt
được thông qua việc thực thi chính sách công trên thực tế. Việc đánh giá chính
sách công phải dựa trên một số kỹ thuật đánh giá và các tiêu chí kinh tế - xã hội
nhất định. Từ những kết quả đó, Nhà nước quyết định xem có nên tiếp tục duy
trì chính sách đó nữa không hoặc cần bổ sung, chỉnh sửa như thế nào để có hiệu

Nhu cầu được lao động và có việc làm ổn định là một trong những nhu
cầu hết sức cơ bản của con người. Hiện nay, sự hoàn thiện dần của hệ thống
pháp luật đã và đang góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho thị
trường lao động phát triển. Bộ luật Lao động, sửa đổi bổ sung năm 2002 và
2006, 2012, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài; các nghị định, thông tư liên quan tới lao động,
thị trường lao động và việc làm đã hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường lao
động phát triển, tăng cường cơ hội việc làm và hoàn thiện quan hệ lao động. Các


20
chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao
năng suất lao động và cải thiện thu nhập của người lao động.
Chính sách về kết nối cung - cầu lao động
Hệ thống dịch vụ việc làm được phát triển từ năm 1992 qua Chương trình
việc làm quốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992, đã
tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung - cầu về lao động, tăng
cường cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công
việc. Đặc biệt, với việc sửa Điều 18 của Bộ luật lao động năm 1995, Nghị định
số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của Chính
phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP đã từng
bước hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ việc làm. Cùng với các trung tâm
giới thiệu việc làm công lập, các doanh nghiệp cũng được phép hoạt động giới
thiệu việc làm, kể cả sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Chính sách về hỗ trợ lao động di chuyển
Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế
mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số
(Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg); Chương trình di dân gắn với xóa đói giảm
nghèo (thuộc nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai

suy giảm kinh tế từ 2007 đến nay nhằm giúp cho nhiều doanh nghiệp, các hộ sản
xuất kinh doanh vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì sản xuất, trả lương và đóng
bảo hiểm xã hội cho người lao động. Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg ngày
23/02/2009 về việc hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh
nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế; Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày
08/7/2009 về tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó
khăn. Một số biện pháp hỗ trợ khác như: miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp, giãn
thời gian nộp một số loại thuế (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về
những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo


22
đảm an sinh xã hội. Ngoài ra, còn có các biện pháp hỗ trợ như khuyến khích xuất
khẩu, ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau... đã tác
động trực tiếp tới vấn đề duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động trong
bối cảnh suy giảm kinh tế, người mất việc làm gia tăng.
Chính sách về đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách thúc đẩy việc làm ngoài
nước, xây dựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay vốn để hỗ trợ người
lao động khi về nước, đặc biệt là người lao động thuộc hộ nghèo: Quyết định số
365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc
thành lập, quản lý Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐTTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất
khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020.
Chính sách về cho phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách thúc đẩy việc làm ngoài
nước, xây dựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay vốn để hỗ trợ người
lao động khi về nước, đặc biệt là người lao động thuộc hộ nghèo: Quyết định số
365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc

này trở thành một thực thể siêu quốc gia. Các nước trong Cộng đồng các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN) cũng đang tiến hành mở rộng và làm sâu sắc tiến trình
hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn thông qua xây dựng Cộng đồng
ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và
Cộng đồng văn hóa - xã hội.
Những khảo sát về hội nhập trên thế giới và ở nước ta thời gian qua cho thấy
có những điểm chung cả về quan niệm lẫn hành động của các chủ thể. Từ góc độ
nhà nước, hội nhập quốc tế là quá trình một quốc gia tham gia các hoạt động chung


24
của cộng đồng quốc tế theo các nguyên tắc, chuẩn mực mà cộng đồng quốc tế thừa
nhận. Hội nhập quốc tế là yêu cầu có tính khách quan, theo đó các quốc gia tham gia
các hoạt động của đời sống quốc tế trên hầu hết các lĩnh vực và ở các mức độ khác
nhau do tác động của quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng. Nhưng việc lựa
chọn lĩnh vực, mức độ và lộ trình hội nhập lại là quyết định chủ quan của từng quốc
gia phù hợp với lợi ích và hoàn cảnh cụ thể mình.
Về bản chất, có thể coi hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển
cao của hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế là quá trình các nước giao lưu hoặc hành
động cùng nhau để đạt được một mục tiêu, lợi ích nào đó. Có thể chia hợp tác
quốc tế thành ba mức độ cơ bản, là: trao đổi, tham vấn; phối hợp chính sách, triển
khai hoạt động phối hợp và thực hiện các dự án chung và xây dựng, áp dụng luật
lệ, chuẩn mực chung. Mức độ thứ ba là điểm trùng giữa hợp tác quốc tế và hội
nhập quốc tế. Nói rộng ra, hội nhập quốc tế bao hàm việc chấp nhận, tham gia
xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc tế, bao gồm: các thể chế, luật lệ, tập
quán, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được chấp nhận rộng rãi. Các chuẩn mực
này có thể được hình thành từ quá trình hợp tác quốc tế, thông qua những hiệp
định, thỏa thuận giữa các nhà nước hoặc các chuẩn mực, tập quán được đặt ra bởi
các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ được những tổ chức, cá nhân trên thế giới
chấp nhận rộng rãi.

nước để phát triển kinh tế. Vì vậy nó có ảnh hưởng nhất định đến các vấn đề kinh
tế - xã hội đặc biệt là vấn đề việc làm. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xoá
bỏ từng bước, từng phần của rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia,
vì vậy quá trình hội nhập đã làm cho một đất nước có tiềm năng về tài nguyên
thiên nhiên và sự bình ổn về chính trị trở thành địa chỉ đầu tư đáng tin cậy của
các nước phát triển trên thế giới vào các lĩnh vực công nghệ cao hay là các khu
công nghiệp góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động. Hội nhập kinh tế
quốc tế tạo điều kiện mở rộng thị trường ngoài nước, khơi thông các nguồn lực
trong và ngoài nước để phát triển kinh tế. Từ đó, nhiều doanh nghiệp trong nước


Trích đoạn Bản chất của chớnh sỏch giải quyết việc làm Bối cảnh kinh tế, xó hội, khoa học kỹ thuật và cụng nghệ và chớnh trị Trỡnh độ văn hoỏ, khoa học kỹ thuật của người lao động Nõng cao năng lực đội ngũ cỏn bộ, cụng chức trong quỏ trỡnh tổ chức, triển khai, theo dừi, kiểm tra thực thi chớnh sỏch giải quyết việc làm Phỏt huy dõn chủ trong quỏ trỡnh thực thi chớnh sỏch giải quyết việc làm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status