Nghiên cứu một số chỉ số sinh học ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
............... ∗∗∗ ..................

Trần Thị Trà My

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU
TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC


2
Nghệ An, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
............... ∗∗∗ ..................

Trần Thị Trà My

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU
TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14


Tác giả
Trần Thị Trà My


ii

MỤC LỤC


iii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ADA

Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ
(American diabetes Association)

BMI

Chỉ số khối cơ thể
(Body Mass Index)

ĐTĐ

Đái tháo đường

IDF

Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế
(International Diabetes Federation)


Nghiên cứu tiến cứu về đái tháo đường của Vương quốc Anh
(United Kingdom Prospective Diabetes Study)

WHO

Tổ chức Y tế Thế giới
(World Health Organization)

RBC

Số lượng hồng cầu
(Red blood cells)

WBC

Số lượng bạch cầu
(White blood cells)


iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU


v

DANH MỤC HÌNH VẼ




2
khác nhau [4]
Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao
nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Một nghiên cứu của
Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt
Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2002) lên 5% (năm 2012), tăng 211% sau 10
năm, trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh [5].
Đái tháo đường đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ cộng
đồng Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về đái tháo đường đã được
tiến hành trên phạm vi cả nước nhưng để xác định được cụ thể yếu tố cốt lõi
của bệnh đái tháo đường, cần tăng cường thêm những nghiên cứu điều tra
phân tích chính xác về các chỉ tiêu hình hình thái, sinh lí, hóa sinh và các biến
chứng thường gặp của bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, nhằm góp phần vào
công tác chữa trị sau này.
Tại Thanh Hóa, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về
kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện thì tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường
tại các cơ sở khám chữa bệnh đang ngày một gia tăng. Biện pháp hữu hiệu
để làm giảm tiến triển và biến chứng của bệnh, chi phí cho chữa bệnh ít tốn
kém nhất là phải phát hiện sớm và điều trị người bệnh kịp thời. Tuy
nhiên, công tác phát hiện sớm, chăm sóc và điều trị bệnh đái tháo đường tại
Thanh Hóa còn rất nhiều hạn chế.
Để góp phần cung cấp dẫn liệu cho việc tìm hiểu và ngăn ngừa bệnh đái
tháo đường tuýp 2 ở tỉnh Thanh Hóa, tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu một số chỉ
số sinh học ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị tại Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Thanh Hóa ".
* Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá thực trạng bệnh đái tháo đường tuýp 2 thông qua bệnh nhân
đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa.
- Phân tích một số chỉ số sinh lí, sinh hóa máu, huyết học của bệnh nhân

Trong các bệnh chuyển hoá, đái tháo đường là bệnh lý thường gặp
nhất và có lịch sử nghiên cứu rất lâu năm nhưng những thành tựu nghiên
cứu về bệnh chỉ có được trong vài thập kỷ gần đây.
Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus đã bắt đầu mô tả về những
người mắc bệnh đái nhiều. Dobson (1775) lần đầu tiên hiểu được vị ngọt
của nước tiểu ở những bệnh nhân đái tháo đường là do sự có mặt glucose [5].
Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo, gồm 2 loại tế bào bài
tiết ra insulin và glucagon không nối với đường dẫn tụy. Năm 1889,
Minkowski và Von Mering gây đái tháo đường thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ
tụy, đặt cơ sở cho học thuyết đái tháo đường do tụy [50].
Năm 1921, Banting và Best cùng các cộng sự đã thành công trong
việc phân lập insulin từ tụy [5]. Vào các năm 1936, 1976 và 1977 các tác giả
Himsworth, Gudworth và Jeytt phân loại đái tháo đường thành hai tuýp là
đái tháo đường tuýp 1 và tuýp 2 [50].
Nghiên cứu DDCT (Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát
bệnh và biến chứng đái tháo đường, được công bố năm 1993) và nghiên cứu
UKPDS (được công bố năm 1998) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị
bệnh đái tháo đường, đó là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y
học dự phòng, dự phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển
bệnh [5]. Đáng lưu ý là trong nghiên cứu UKPDS, có tới 50% bệnh nhân khi
phát hiện bệnh thì đã có các biến chứng [60]. Điều này nhấn mạnh thêm tầm
quan trọng của việc cần phải phát hiện và điều trị sớm bệnh đái tháo đường.
1.2. Khái niệm về bệnh đái tháo đường
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, “Đái tháo đường là một hội chứng có
đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn
toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt


5
động của insulin" [5].

có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển của đái tháo đường tuýp 1 [50].
Đái tháo đường tuýp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường
được phát hiện trước 40 tuổi. Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị
thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đa
số các trường hợp được chẩn đoán bệnh đái tháo đường tuýp 1 thường là
người có thể trạng gầy, tuy nhiên người béo cũng không loại trừ [4]. Người
bệnh đái tháo đường tuýp 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn.
Có thể có các nhóm dưới đây:
- Đái tháo đường qua trung gian miễn dịch.
- Đái tháo đường tuýp 1 không rõ nguyên nhân.
1.3.2.2. Đái tháo đường tuýp 2
Đái tháo đường tuýp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% đái tháo đường trên
thế giới, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi. Nguy cơ mắc bệnh
tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về
thói quen ăn uống, đái tháo đường tuýp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu
hướng phát triển nhanh [20].
Đặc trưng của đái tháo đường tuýp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu
hụt tiết insulin tương đối. Đái tháo đường tuýp 2 thường được chẩn đoán rất
muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu
chứng. Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về
chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận…,
nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng.
Theo Tạ Văn Bình, đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo
đường tuýp 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong
cơ chế bệnh sinh [5]. Người mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 có thể điều trị
bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose
máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân
cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.



suất thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng nguy hiểm.
• Nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan ceton
Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid do
thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton


8
gây toan hóa tổ chức. Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về trang
thiết bị, điều trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao 5 - 10%.
• Hôn mê tăng áp suất thẩm thấu ( Hôn mê tăng glucose máu).
Theo Tạ Văn Bình đây là hội chứng thường gặp ở người mắc đái tháo
đường tuýp 2 trên 60 tuổi, nữ thường gặp hơn nam [5]
Hôn mê tăng áp suất thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa
glucose nặng, đường huyết tăng cao. Hôn mê tăng glucose máu chiếm 5 10%. Ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 nhiều tuổi, tỷ lệ tử vong từ 30 50% [50].
Nhiều bệnh nhân hôn mê, dấu hiệu đầu tiên của bệnh chính là tăng
glucose máu. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết về bệnh đái tháo đường còn
chưa được phổ biến trong cộng đồng.
1.4.2. Biến chứng mạn tính
1.4.2.1. Biến chứng tim - mạch
Bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường là biến chứng thường
gặp và nguy hiểm. Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành,
nhưng các nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy
cơ mắc bệnh mạch vành và các biến chứng tim mạch khác. Người đái tháo
đường có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần
so với người bình thường. Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung
chiếm khoảng 75% tử vong ở người bệnh đái tháo đường, trong đó thiếu
máu cơ tim và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất. Một
nghiên cứu được tiến hành trên 353 bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 là
người Mỹ gốc Mêhicô trong 8 năm thấy có 67 bệnh nhân tử vong và 60% là
do bệnh mạch vành [5].

dương tính khá cao chiếm 71% trong số người mắc bệnh đái tháo
đường týp 2 [5].
1.4.2.3. Bệnh lý mắt ở bệnh nhân đái tháo đường
Đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp ở bệnh nhân đái tháo
đường, có vẻ tương quan với thời gian mắc bệnh và mức độ tăng đường


10
huyết kéo dài. Đục thuỷ tinh thể ở người đái tháo đường cao tuổi sẽ tiến
triển nhanh hơn người không đái tháo đường.
Bệnh lý võng mạc đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu của mù
ở người 20 - 60 tuổi. Bệnh biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch, ở
giai đoạn muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch
máu với thành mạch yếu dễ xuất huyết gây mù loà. Sau 20 năm mắc
bệnh, hầu hết bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 và khoảng 60% bệnh nhân
đái tháo đường tuýp 2 có bệnh lý võng mạc do đái tháo đường.
Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh tại Bệnh viện
Thanh Nhàn - Hà Nội, số bệnh nhân có bệnh về mắt chiếm 72,5%, trong
đó tỷ lệ bệnh võng mạc đái tháo đường 60,5%, đục thủy tinh thể 59% [22].
Nghiên cứu của Đặng Văn Hòa tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương
Thái Nguyên cho thấy 52,94% bệnh nhân bị đục thuỷ tinh thể, 22,94%
bệnh nhân bị bệnh võng mạc đái tháo đường [30].
1.4.2.4. Bệnh thần kinh do đái tháo đường
Bệnh thần kinh do đái tháo đường gặp khá phổ biến, ước tính
khoảng 30% bệnh nhân đái tháo đường có biểu hiện biến chứng này. Người
bệnh đái tháo đường tuýp 2 thường có biểu hiện thần kinh ngay tại thời điểm
chẩn đoán.
Bệnh thần kinh do đái tháo đường thường được phân chia thành các
hội chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh
thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi [4].

lipoprotein huyết tương thấp, tăng mức LDC - C hạt nhỏ, đậm đặc. Các bất
thường này sẽ được cải thiện song hành với mức kiểm soát glucose máu.
Người đái tháo đường tuýp 2 thường có tăng triglycerid máu và
giảm HDL - C (loại lipoprotein được xem là có chức năng bảo vệ thành
mạch), đôi khi không phụ thuộc vào mức độ kiểm soát đường máu. Người
bệnh mới mắc đái tháo đường tuýp 2 thường có mức HDL - C thấp ở nam từ
20 - 50%, nữ 10 - 25%. Chuyển hoá LDL - C cũng bị rối loạn ở người đái
tháo đường tuýp 2, chỉ cần LDL - C tăng nhẹ cũng đã là yếu tố nguy cơ làm
bệnh mạch vành tăng rõ rệt [20].


12

1.6. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường
1.6.1. Tuổi
Qua nhiều nghiên cứu thấy tuổi có sự liên quan đến sự xuất hiện bệnh đái
tháo đường tuýp 2. Tuổi càng tăng, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường càng cao.
Ở châu Á, đái tháo đường tuýp 2 có tỷ lệ cao ở những người trên 30
tuổi. Ở châu Âu, thường xảy ra sau tuổi 50 chiếm 85 - 90% các trường hợp đái
tháo đường [5]. Từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ bệnh đái tháo đường lên tới 16% [37].
Sự gia tăng đái tháo đường tuýp 2 theo tuổi có nhiều yếu tố tham gia,
các thay đổi chuyển hóa hydrate liên quan đến tuổi, điều này giải thích
tại sao nhiều người mang gen di truyền đái tháo đường mà lại không bị
đái tháo đường từ lúc còn trẻ đến khi về già mới bị bệnh.
Tuy nhiên với tốc độ phát triển cuộc sống hiện nay, ngày càng có
nhiều người trẻ tuổi mắc đái tháo đường tuýp 2. Quan sát sự xuất hiện bệnh
đái tháo đường tuýp 2 trong gia đình có yếu tố di truyền rõ ràng, người ta
thấy rằng ở thế hệ thứ nhất mắc bệnh ở độ tuổi 60 - 70, ở thế hệ thứ 2 tuổi
xuất hiện bệnh giảm xuống còn 40 - 50 tuổi và ngày nay người được
chẩn đoán đái tháo đường tuýp 2 dưới 20 tuổi không còn là hiếm [50].

năng mắc đái tháo đường tuýp 2. Có nhiều phương pháp chẩn đoán và phân
loại béo phì, trong đó chẩn đoán béo phì bằng chỉ số khối cơ thể và chỉ số
bụng mông được áp dụng khá rộng rãi. Cho tới nay, tiêu chuẩn chẩn đoán
béo phì đã được WHO thống nhất. Tuy nhiên tiêu chuẩn này là khác nhau
cho các vùng địa lý, châu lục khác nhau.
Trong bệnh béo phì, tích lũy mỡ xảy ra trong một thời gian dài, do đó
sự suy giảm khả năng tự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm mỡ có thể xảy
ra ở một số thời điểm và triglycerid dần được tích lũy lại. Ở người béo
phì, đái tháo đường lâm sàng thường xuất hiện sau khi 50 - 70% tiểu đảo
Langerhans bị tổn thương.
Béo bụng còn được gọi là béo dạng nam, là một thuật ngữ chỉ
những người mà phân bố mỡ ở bụng, nội tạng và phần trên cơ thể chiếm
tỷ trọng đáng kể. Béo bụng, ngay cả với những người cân nặng không thực


14
sự xếp vào loại béo phì hoặc chỉ béo vừa phải là một yếu tố nguy cơ độc lập
gây ra rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa đường.
Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng béo phì là nguyên nhân quan trọng
nhất dẫn đến sự kháng insulin [41, 56]. Nghiên cứu của Colditz G.A và cộng
sự kết luận béo phì và tăng cân đột ngột làm tăng nguy cơ của đái tháo đường
[53]. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Kim Ước cho thấy những người có
BMI > 23 có nguy cơ đái tháo đường tuýp 2 gấp 2,89 lần so với người bình
thường [52].
Ngày nay, béo phì đang ngày càng gia tăng, kéo theo sự gia tăng
của bệnh đái tháo đường tuýp 2 và bệnh tim mạch.
1.6.5. Thuốc lá và bia rượu
Thuốc lá và bia rượu là những chất gây hại cho cơ thể, làm nặng
thêm các rối loạn chuyển hoá.
Một số nghiên cứu ở châu Âu cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở bệnh nhân

tuýp 2 chiếm khoảng 85 - 95 % tổng số bệnh nhân đái tháo đường ở các
nước phát triển và thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển [29].
Tỷ lệ bệnh đái tháo đường thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp
phát triển hay đang phát triển và thay đổi theo từng vùng địa lý khác nhau.
Trong đó, nơi có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất là khu vực Bắc Mỹ
(7,8%), khu vực Địa Trung Hải và khu vực Trung Đông (7,7%), châu Âu
(4,9%) và châu Phi (1,2%) [4].
Hiện khu vực Tây Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á là hai khu
vực có số người mắc đái tháo đường cao nhất tương ứng là 44 triệu người và
35 triệu người [22]. Những báo cáo mới đây của Hiệp hội đái tháo đường
quốc tế cũng khẳng định tỷ lệ bệnh đái tháo đường tuýp 2 chiếm khoảng 85 95% tổng số bệnh nhân đái tháo đường ở các nước phát triển và tỷ lệ này
thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển.
Năm 1994 cả thế giới có 110 triệu người đái tháo đường. Năm 1995 tăng
lên 135 triệu người (chiếm 4% dân số thế giới). Năm 2000 có khoảng 157,3
triệu người đái tháo đường, dự báo năm 2025 sẽ là 300 triệu người (chiếm
5,4% dân số thế giới). Hậu quả của lối sống ít hoạt động thể lực, môi trường


16
sống và làm việc căng thẳng, chế độ ăn không cân đối, nhiều mỡ là những yếu
tố môi trường quan trọng làm tăng tỷ lệ bệnh đái tháo đường. Những yếu tố
khác như sự già hóa của quần thể, bệnh béo phì cũng là những yếu tố nguy cơ
quan trọng làm tăng nhanh tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường [3].
Tỷ lệ đái tháo đường ở châu Á cũng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt ở khu
vực Đông Nam Á (5,3%) [4, 56]. Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh nhanh
chóng là do mức độ đô thị hóa nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra
thành thị nhiều, sự thay đổi nhanh chóng về lối sống công nghiệp, giảm hoạt
động chân tay, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và chế độ ăn không cân đối,
nhiều mỡ.
Tại Mỹ, năm 2010, khoảng 1,9 triệu người Mỹ được lần đầu tiên

Mỹ
30,3
4
Indonesia
8,4
Indonesia
21,3
5
Nhật Bản
6,8
Pakistan
13,9
6
Pakistan
5,2
Brazil
11,3
7
Nga
4,6
Bangladesh
11,1
8
Brazil
4,6
Nhật Bản
8,9
9
Ý
4,3

nghiên cứu tại Phú Thọ, Sơn La kết luận đái tháo đường là bệnh gặp chủ yếu
ở người có thu nhập cao, có đời sống vật chất và địa vị trong xã hội [21],
[6]. Đó là một thách thức lớn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội
và sức khoẻ cộng đồng.
Nghiên cứu của Lê Cảnh Chiến và cộng sự (2006) tại Tuyên Quang;
Hoàng Thị Đợi, Nguyễn Kim Lương tại Thái Nguyên cũng cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh ở nữ cao hơn nam, ở nhóm ít hoạt động thể lực cao hơn nhóm
hoạt động thể lực nhiều [9, 16].
Tại Bắc Kạn, số bệnh nhân đái tháo đường ngày một tăng nhưng nhiều



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status