BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
__________________
PHẠM THỊ HỒNG KIỀU LOAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN- NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
__________________
PHẠM THỊ HỒNG KIỀU LOAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
PHẠM THỊ HỒNG KIỀU LOAN
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.3. Một số vấn đề về người giáo viên mầm non trong
bối cảnh hiện nay
1.4. Một số vấn đề về quản lý nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên mầm non
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội, giáo dục
quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh
2.2. Khái quát về điều tra thực trạng
2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non quận 2
Thành phố Hồ Chí Minh
PHỤ LỤC
99
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH
BDTX
CBQLGD
CSVC
CNH- HĐH
CNTT
GVMN
GDMN
GD&ĐT
HĐND
PHHS
PCGD
TPHCM
TCVN
TH
THCS
THPT
TTGDTX
TTHTCĐ
TTKTTHHN
UBND
Ban giám hiệu
Bồi dưỡng thường xuyên
Cán bộ quản lý giáo dục
Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời'” và
thực hiện chính sách: trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền
địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền.
Luật Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận giáo dục mầm
non là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản.
Luật Giáo dục Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng
chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dục mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc
tế về quyền trẻ em. Còn theo ông Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng
Giáo dục UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, giáo dục mầm non
thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức
và thể chất của trẻ, chính những kỹ năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các
chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho hoạt động học
tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng của bộ
não trẻ.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo dục mầm non.
Trong buổi lễ giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với
các bậc học khác, đến nay chúng ta chưa lo được nhiều cho giáo dục mầm
non. Đây là một mảng còn yếu của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn
ngành cần cố gắng khắc phục trong thời gian ngắn nhất”.
Giai đoạn trẻ em từ 0-6 tuổi có vị trí cực kỳ quan trọng trong việc hình
thành nhân cách trẻ. Do vậy để đảm bảo sự nghiệp giáo dục mầm non, vừa có
thể mở rộng được quy mô, vừa có thể nâng cao chất lượng theo mục tiêu đào
tạo của bậc học, vấn đề có ý nghĩa quan trọng đặt ra là phải phát triển đồng
bộ, mạng lưới trường lớp và tăng cường cơ sở vật chất trường học và đặc biệt
là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đó là điều kiện thiết yếu ban đầu
cho hoạt động chăm sóc, giáo dục mầm non.
Để đáp ứng yêu cầu đó, một trong những vấn đề quan trọng có yếu tố
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục còn có những hạn chế và bất cập. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng
cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý một cách toàn diện. Đây
là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài,
nhằm thực hiện thành công mục tiêu giáo dục.
1.2. Về mặt thực tiễn
Trước những yêu cầu của xu thế hội nhập và phát triển, với sự cố gắng
và nỗ lực để nâng cao hiệu quả của đội ngũ giáo viên các trường Mầm non
trên địa bàn Quận 2 hiện nay đã có những kết quả bước đầu rất đáng trân
trọng, góp phần làm chuyển biến chất lượng và hiệu quả giáo dục tại cơ sở.
Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, yếu kém về đội ngũ giáo viên mầm non như:
Khả năng đổi mới trong phương pháp giảng dạy còn hạn chế, vẫn còn rập
khuôn, chưa sáng tạo, còn lúng túng khi thực hiện, cách hiểu máy móc. Nhiều
giáo viên vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của phương pháp cũ, nặng về diễn giải,
ít tạo cơ hội cho trẻ được hoạt động, trải nghiệm. Giáo viên thiếu khả năng
quan sát và đánh giá trẻ theo yêu cầu của chương trình mới.
Kỹ năng sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục
còn rất hạn chế.
Kiến thức pháp luật còn nhiều hạn chế, tư cách đạo đức lối sống chưa
thực sự gương mẫu.
Vì vậy, cùng với các địa phương khác trong cả nước đang ra sức thực
hiện Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc nâng cao chất lượng
đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục. Ngành Giáo dục & Đào tạo Quận 2 cũng
đang thực hiện mọi biện pháp để nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên mầm
non.
Để nâng cao đội ngũ, chất lượng giáo viên mầm non, trang bị một nền
tảng tốt cho những mầm non tương lai của đất nước. Chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở các
7. Dự kiến đóng góp của luận văn
7.1. Về lý luận: Góp phần khái quát hóa lý luận về vấn đề nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên các trường mầm non.
7.2. Về thực tiễn: Đưa ra bức tranh xác thực về thực trạng đội ngũ giáo
viên mầm non và thực trạng công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Đề xuất một số giải nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên các trường mầm non quận 2 Thành phố Hồ Chí
Minh.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên ở các trường mầm non.
Chương 2. Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên các trường mầm
non quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các
trường mầm non quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Thụy Điển,
Thái Lan ... luôn xem GV là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp GD và phát
triển GD. Vì vậy, khi quyết định đưa GD Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong
cao, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH là yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chính
vì vậy mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục được xác định: trong giai đoạn
này “tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với
trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết
thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội … Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo
nhân lực, chú trọng nhân lực khoa học công nghệ cao, CBQL giỏi… Phát
triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô vừa nâng cao chất lượng
hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy học”.
Việt Nam chúng ta cũng có nghiên cứu về vấn đề trên như: Tư tưởng
Hồ Chí Minh về vai trò, nhiệm vụ của giáo viên của Thạc sĩ Thái Bình
Dương- Trường Đại học Vinh đăng trên Tạp chí Giáo dục số 126 (tháng 11
năm 2005); Xây dựng đội ngũ giáo viên phổ thông trong 60 năm phát triển
nền giáo dục Việt nam của Tiến sĩ Vũ Văn Dụ đăng trên tạp chí Khoa học
giáo dục số 14 (tháng 11 năm 2006); Quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức của
người thầy giáo của Lê Văn Hà - Khoa Mác-Lênin, trường Đại học Kinh tế Đà
nẵng và Kinh tế thị trường và đạo đức người thầy hiện nay của Nguyễn Thanh
Bình - Khoa Giáo dục chính trị, trường Đại học sư phạm Hà nội đăng trên tạp
chí Giáo dục số 177 (tháng 11 năm 2007).
Các tài liệu thể hiện rất rõ quan điểm của các tác giả về vị trí, vai trò,
nhiệm vụ và đạo đức của nhà giáo. Điều này, có liên quan khá tốt với việc
tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nhằm nâng cao nhận thức về nghề
nghiệp cho giáo viên
Ngoài ra, có thể đề cập đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
nghiên cứu về đội ngũ CBQL giáo dục trong các trường, ví dụ như:
- “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá” của tác giả Lê Thị Thanh Loan (2012)
- “Một số giải pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
lớp mẫu giáo độc lập. [Điều 34-Điều lệ trường mầm non]
1.2.2. Đội ngũ giáo viên
1.2.2.1. Đội ngũ
Đội ngũ là khái niệm sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ
cán bộ công nhân viên, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ thợ cơ khí… Khái
niệm đội ngũ được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức gồm có nhiều
người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh. Vì vậy, đội ngũ có thể được
hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp.
Tuy các quan niệm về đội ngũ có khác nhau nhưng chúng đều thống nhất ở
chỗ đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng, thực hiện một hay
một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để đem về kết quả cụ thể nào đó.
1.2.2.2. Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ GV là những người trực tiếp truyền thụ những tri thức khoa
học của cấp học, môn học trong hệ thống giáo dục đến người học.
1.2.3. Chất lượng đội ngũ giáo viên
1.2.3.1. Chất lượng
Theo từ điển Tiếng Việt, chất lượng: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm
chất, giá trị của một con người, một sự việc, sự vật” [27], hoặc là “ cái tạo nên
bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [27]. Theo TCVN ISO
8402: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng), tạo cho
thực thể đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm
ẩn.
1.2.3.1. Chất lượng đội ngũ giáo viên
Chất lượng đội ngũ: Trong lĩnh vực GD chất lượng đội ngũ GV với đặc
trưng sản phẩm là con người có thể hiểu là các phẩm chất, giá trị nhân cách và
năng lực sống và hoà nhập với đời sống xã hội, giá trị sức lao động năng lực
hành nghề của người giáo viên tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng bậc
học ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm phải hướng giáo viên vào
phục vụ những lợi ích của tổ chức, cộng đồng xã hội, đồng thời phải bảo đảm
thoả đáng lợi ích vật chất, tinh thần cho giáo viên.
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên phải nhằm đáp ứng được các
mục tiêu trước mắt và lâu dài của tổ chức, đồng thời phải được thực hiện theo
một quy chế, quy định thống nhất trên cơ sở pháp luật của nhà nước.
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đảm bảo đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa
nâng cao chất lượng và hiệu quả GD và ĐT, đáp ứng yêu cầu đặt ra của địa
phương.
1.3. Một số vấn đề về người giáo viên mầm non trong bối cảnh hiện nay
1.3.1. Ví trí, vai trò của người giáo viên mầm non
Công việc dạy học-giáo dục học sinh trong tất cả thời đại đều do những
người hiểu biết nhất, có kinh nghiệm và có năng lực với công việc này đảm
nhận. Ở Hy Lạp cổ đại là những người công dân thông minh và tài ba nhất. Ở
La Mã, Hoàng đế chỉ định thầy giáo trong số những quan chức có học thức và
hiểu biết nhất. Ở nước Nga, người ta gọi những người thầy giáo tài năng là
những “nghệ nhân khai tâm”.
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống “tôn sư trọng đạo” nên nhân
dân đã dành cho những người làm nghề dạy học một vị trí xứng đáng trong xã
hội. Hồ Chủ Tịch đã từng dạy: “Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là
thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không được đăng báo, không
được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng
vô danh”.
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ hai, khoá VIII đã khẳng
định: “GV là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn
vinh”.
GVMN là nhân tố quan trọng trong việc phát triển bậc mầm non trở
chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội.
1.3.2.2. Nhiệm vụ:
Theo điều 35, điều lệ trường mầm non qui định nhiệm vụ của giáo viên
mầm non như sau:
- Bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em
ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
- Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo
chương trình giáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng
môi trường giáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ em; Đánh giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên
môn, của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
- Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;
Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của
trẻ em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ
đồng nghiệp.
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ
trẻ. Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.
- Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hoá; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của
ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng.
GV mầm non xuất hiện ngay từ giai đoạn sơ khai của nền giáo dục
nước nhà, ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử GVMN cũng là bộ phận đông
đảo nhất, gần gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong tâm trí của người dân
Việt Nam thì hình ảnh người thầy để lại dấu ấn sâu đậm trên con đường học
vấn, sự nghiệp của chúng ta.
1.3.3. Yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người giáo viên mầm non
nhiên, môi trường xã hội và phát triển ngôn ngữ.
- Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non: Có kiến
thức về phương pháp phát triển thể chất, tình cảm – xã hội và thẩm mỹ;
phương pháp tổ chức hoạt động chơi; phát triển nhận thức và ngôn ngữ của
trẻ.
- Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến
giáo dục mầm non.
* Kỹ năng sư phạm:
- Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ.
- Kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ.
- Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ.
- Kỹ năng quản lý lớp học. Bao gồm các tiêu chí sau:
- Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng
đồng.
1.4. Một số vấn đề về quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm
non
1.4.1. Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giáo viên mầm non
Đội ngũ giáo viên là lực lượng lao động chủ yếu, giữ vai trò quan trọng
có tính chất quyết định đến sự thành công của nhà trường. Thế nhưng trên
thực tế đội ngũ giáo viên nói chung còn gặp khó khăn và nhiều mặt hạn chế
trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục. Trước tình hình đó, việc nâng
cao chất lượng đội ngũ GVMN là việc làm rất cần thiết, nhằm đảm bảo chất
lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục MN và triển khai thực hiện phổ cập
giáo dục MN cho trẻ 5 tuổi vì vậy chúng ta phải luôn bồi dưỡng đội ngũ
GVMN về đổi mới phương pháp, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, đổi mới cả
về nội dung và hình thức, tăng cường bồi dưỡng theo cụm trường, tại các cơ
sở giảng dạy để nhằm đảm bảo số lượng giáo viên có đủ năng lực giảng dạy,
chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động
dục chung của nhà trường.
b) Phải làm cho đội ngũ GVMN luôn có đủ điều kiện, có khả năng sáng
tạo trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trường đồng thời tìm
thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức, phát triển đội ngũ
giáo viên phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác quy hoạch, kế
hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo môi
trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển.
c) Nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN bao gồm sự phát triển toàn diện
của người GV - nhà giáo dục.
d) Nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN là phải làm tốt công tác quy
hoạch, xây dựng được kế hoạch tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào
tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên liên tục.
e) Kết quả của công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN không
những chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các nhà giáo
mà còn cần phải quan tâm đến những nhu cầu thăng tiến, những quyền lợi
thiết thực để thực sự làm cho người GVMN gắn bó trung thành và tận tụy với
“Sự nghiệp trồng người”.
1.4.2.2. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN
Nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN bao
gồm các vấn đề sau đây:
- Xây dựng và thực hiện công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng đội
ngũ GVMN đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non.
Trên cơ sở thu thập thông tin thực tế, từ điều tra thực trạng tình hình đội
ngũ GV, lập kế hoạch dự báo về việc tuyển chọn GV sao cho đồng bộ về cơ
cấu, đủ loại hình GV, đảm bảo số lượng và chất lượng đội ngũ, cân đối về
trình độ, thuận lợi về đi lại, có sự bố trí sắp xếp hợp lý khoa học và kinh tế.
Sau khi có kế hoạch tuyển dụng, tiến hành lựa chọn GV phù hợp với
nhu cầu của nhà trường, phù hợp với nguyện vọng cá nhân, với môi trường