BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------------------
NGUYỄN THỊ TÂM
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2015
-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------------------
NGUYỄN THỊ TÂM
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: LL&PPDH Bộ môn giáo dục chính trị
Mã số: 60.14.01.11
-3MỤC LỤC
Trang
phụ
bìa
...........................................................................................................................
1
Lời
cảm
ơn
...........................................................................................................................
2
Mục
lục
...........................................................................................................................
3
Danh
mục
các
từ
viết
tắt
...........................................................................................................................
5
Danh
mục
bảng
biểu
...........................................................................................................................
6
Ủy ban nhân dân
XHCH
:
Xã hội chủ nghĩa
-5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Động cơ thi vào trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh
...........................................................................................................................
49
Bảng 2.2: Thái độ của sinh viên đối với ngành y
...........................................................................................................................
50
Bảng 2.3: Nhận thức của sinh viên về các tiêu chuẩn, phẩm chất cần thiết
của
người
thầy
thuốc
...........................................................................................................................
52
Bảng 2.4: Kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên năm học 2013 – 2014
55
Bảng 2.5: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng
của
giáo
nhất là trong thế hệ trẻ.
Sau gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã có nhiều thay đổi căn bản. Những
thành tựu phát triển kinh tế - xã hội đã và đang tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi
cho sinh viên được rèn luyện, phấn đấu vươn lên và để khẳng định mình. Bên
cạnh những chuyển biến tích cực, góp phần hình thành những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp, thì chính sự tác động mạnh mẽ từ mặt trái của cơ chế thị trường đã
và đang làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng không tốt đến lối
sống của thanh niên nói chung và sinh viên các trường đại học, cao đẳng nước ta
nói riêng.
Đối với sinh viên trong các trường y, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp
lại càng trở nên bức thiết. Là một ngành học mang tính đặc thù đòi hỏi sinh viên
phải được trang bị ngoài kiến thức chuyên môn còn cần phải có y đức - một giá
trị đạo đức nghề nghiệp không thể thiếu trong quá trình công tác về sau. Trong
những năm vừa qua, một trong những nguyên nhân làm giảm sút chất lượng các
-7dịch vụ y tế ở Việt Nam đó là do đội ngũ cán bộ y tế chưa thực sự làm tròn trách
nhiệm “lương y như từ mẫu”, thậm chí có một bộ phận không nhỏ vi phạm y
đức, nhũng nhiễu, vòi vĩnh người bệnh. Thực trạng này đã gây nên nhiều bức
xúc trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến uy tín đội ngũ cán bộ ngành y tế.
Ở Hà Tĩnh, trong thời gian qua, việc thực hiện công tác giáo dục đạo đức
cho sinh viên ngành y đã được chú trọng nhưng do nhiều nguyên nhân khác
nhau nên hiệu quả chưa cao. Vì vậy, trước yêu cầu đổi mới chất lượng ngành y
tế của tỉnh Hà Tĩnh thì việc giáo dục đạo đức cho sinh viên trường y là hết sức
cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh trong giai đoạn
hiện nay" để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy
học bộ môn Giáo dục chính trị.
Công tác giáo dục đạo đức trong thời gian qua đã được nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu và có nhiều công trình được công bố các thể loại:
một số giải pháp định hướng đối với việc xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta
hiện nay.
- Luận án
+ Nguyễn Anh Tuấn trong “Những biện pháp giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên sư phạm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” (Luận
án tiến sỹ Giáo dục học, Đại học sư phạm Hà Nội) đã phân tích thực trạng đạo
đức nghề nghiệp của sinh viên các trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, Đại học
Hùng Vương - Phú Thọ, Cao đẳng sư phạm Lào Cai trong nền kinh tế thị trường
và đưa ra những biện pháp nhằm giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trong
điều kiện nền kinh tế thị trường.
+ Phan Thị Mai với công trình “Tìm hiểu thực trạng định hướng nghề
nghiệp của sinh viên trường Đại học Cần Thơ” (Luận án Tiến sỹ, Đại học sư
-9phạm Hà Nội) đã phân tích thực trạng định hướng nghề nghiệp cho sinh viên
trường Đại học Cần Thơ và đưa ra những biện pháp nhằm định hướng tốt về
nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Cần Thơ trong thời gian gần đây.
- Tạp chí
+ Ngô Hướng trong bài “Đạo đức nghề nghiệp sao không được dạy tại các
Nhà trường?” đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, số ra ngày 27/10/2003 đã
khẳng định cần phải đưa giáo dục đạo đức trở thành một môn học được giảng
dạy trong các nhà trường.
+ Trong bài “Giáo dục thái độ nghề nghiệp cho học sinh học nghề một vấn
đề cơ bản và cấp bách” (Hội thảo về những vấn đề giáo dục và tâm lý của học
sinh, sinh viên, NXB Nông nghiệp, Hà Nội) Mạc Văn Trang đã khẳng định việc
giáo dục thái độ nghề nghiệp cho học sinh học nghề là một vấn đề cơ bản và cấp
bách. Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm giáo dục thái độ nghề
nghiệp cho học sinh học nghề.
- Luận văn
Trần Như Tiến, Giáo dục giá trị nghề nghiệp kỹ thuật quân sự cho học viên
Đề tài không nghiên cứu vấn đề giáo dục nói chung mà chỉ đi sâu nghiên
cứu vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành y tế. Cụ thể, đề
tài nghiên cứu về chất lượng, nội dung, hiệu quả và phương pháp của công tác
giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
Về không gian và thời gian đề tài được triển khai nghiên cứu trong phạm vi
Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và
- 11 giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích và tổng
hợp. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp khác: So sánh, thống kê,
khảo sát thực tế, xã hội học…để thực hiện mục đích, nhiệm vụ đặt ra.
6. Giả thiết khoa học
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở giả thiết cho rằng nếu phân tích đúng
thực trạng và đề ra được hệ thống các giải pháp có tính khả thi về nâng cao được
chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh.
7. Kết cấu luận văn
Để đạt các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài nghiên cứu những nội
dung chủ yếu sau đây: Ngoài phần mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên Trường Cao đẳng Y tế.
Đạo đức là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn
đề tốt - xấu, hơn nữa xem như là đúng - sai, được sử dụng trong 3 phạm vi:
lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn
- 13 được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn,
triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.
Đạo đức xã hội có chức năng giáo dục, điều chỉnh và nhận thức. Đạo đức
chỉ xuất hiện nơi nào có mối quan hệ (quan hệ giữa cá nhân - cá nhân, cá nhân tập thể...), hành vi điều chỉnh các mối quan hệ luôn tự giác, mối quan hệ của đạo
đức là mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan của con người nhưng đạo đức
bản thân có ý nghĩa nhân sinh quan. Đó cũng chính là quy luật của đạo đức và
nội dung của đạo đức do tồn tại xã hội quyết định. Bản chất của đạo đức xã hội
là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là sự điều chỉnh mối quan hệ xã hội,
là biện pháp giải quyết và khắc phục các mâu thuẫn xã hội làm cho xã hội phát
triển, tiến bộ.
1.1.2. Khái niệm nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp
- Nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một thuật ngữ dùng để chỉ một hình thức lao động trong
xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng lao động của mình để
tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần đóng góp cho xã hội. Qua hoạt động nghề mà
duy trì, phát triển đời sống của cá nhân. Như vậy, “Nghề nghiệp là một công
việc mà người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời” [53, tr. 698]. Ví dụ: Nghề
dạy học, nghề y, nghề kinh doanh…nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống
mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. Ví dụ:
Trong nghề Thầy thuốc có rất nhiều y, bác sỹ được nhân dân và xã hội tôn vinh
như: Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông…đến những thầy thuốc nổi tiếng thời hiện
đại như Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Hoàng Đắc Trí…F.Ăngghen đã từng
viết: “Trong thực tế mỗi giai cấp và đến cả mỗi nghề nghiệp đều có luân lý riêng
của nó” [10, tr. 298 - 299].
Xuất phát từ thực tế việc lựa chọn nghề nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa
- 15 dụng chuẩn mực đạo đức vào mối quan hệ nghề nghiệp, nâng cao giá trị đạo đức
và việc thực thiện và tuân thủ đạo đức sẽ gia tăng lợi ích kinh tế.
Trên cơ sở vấn đề đạo đức chung, do đặc thù của từng ngành với các vai
trò khác nhau trong đời sống xã hội hình thành nên khái niệm đạo đức nghề
nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức cụ
thể trong đạo đức chung của xã hội. Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu
đạo đức đặc biệt, có liên quan đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp
nào đó. Là tổng hợp của các quy tắc, các nguyên tắc chuẩn mực của một nghề
nghiệp trong đời sống, nhờ đó mà mọi thành viên của nghề nghiệp đó tự giác
điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nó trong
mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể với xã hội,...Tuân
theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao
chất lượng lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức cá nhân
trong xã hội đều có nét chung, nhưng đạo đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có
những đặc thù và yêu cầu riêng biệt.
Trong xã hội có bao nhiêu nghề nghiệp thì có bấy nhiêu đạo đức nghề
nghiệp. Trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào, đạo đức nghề nghiệp đều là đạo đức
của xã hội, hoặc giai cấp đương thời, biểu hiện đặc thù và quán triệt cụ thể trong
các hoạt động nghề nghiệp. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, mỗi thành viên của xã hội phải lấy: yêu công việc, yêu nghề nghiệp, làm
việc có tâm huyết, hết lòng phục vụ nhân dân, cống hiến cho đất nước... làm nội
dung chủ yếu của đạo đức nghề nghiệp. Đó là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
chung mà tất cả các ngành nghề đều phải tuân theo. Linh hồn của đạo đức nghề
nghiệp xã hội chủ nghĩa đối với người thầy giáo là phục vụ nhân dân, nó quán
triệt trong tất cả các mặt của đạo đức nghề nghiệp và thông qua thái độ nghề
nghiệp và hành vi nghề nghiệp như yêu nghề, mến trẻ, có lương tâm trách nhiệm
với nghề…Trong kinh doanh, lợi nhuận là yếu tố quan trọng nhất, nhưng nếu bỏ
- 17 theo hoàn cảnh cụ thể và phong tục tập quán của đất nước, dân tộc mình, đều
đưa một số điểm quan trọng của y đức vào luật và các văn bản dưới luật, quy
định bắt buộc cả thầy thuốc và bệnh nhân phải tuân thủ, người ta gọi đó là y đạo.
Như vậy, “Y đạo là y đức đã được thể chế hoá thành các quy định, bắt buộc mọi
người phải tuân thủ. Nói cách khác, y đạo là con đường của ngành y, là hành
lang pháp lý mà người hành nghề phải tuân thủ” [20, tr.120]. Ví dụ các luật về y
tế như: Luật Bảo hiểm y tế, Luật khám chữa bệnh, Luật Dược, Luật hành nghề y
dược tư nhân...
Như vậy, nghề y là một nghề đặc biệt bởi vì nó mang một số đặc điểm
sau: Thứ nhất, tác động gần như đến tất cả mọi người trong xã hội, không kể
giai cấp, vị trí, giàu nghèo. Và tác động đến cuộc đời con người qua các giai
đoạn, từ khi bào thai cho đến khi mất. Thứ hai, người hành nghề thầy thuốc
có nhiều quyền lực, do nắm trong tay tính mạng bệnh nhân nên dễ có thể lạm
dụng quyền và dễ có cơ hội để lạm dụng. Thứ ba, biết nhiều bí mật về cuộc
sống của người khác. Thứ tư, dễ gây ra bệnh cho người khác. Thứ năm, kỹ
năng hành nghề không dễ kiểm soát. Thứ sáu, không có mẫu hình tốt duy nhất
của y đức, đôi lúc khó diễn tả dễ ngụy biện. Thứ bảy, chỉ có lương tâm và
người cùng hành nghề mới có thể kiểm soát được đạo đức nghề nghiệp [23,
tr.28].
Trong lịch sử y học Việt Nam, các bậc danh y đều cho rằng, y đức quan
trọng không kém gì y thuật. Trong số đó, chúng ta phải kể đến Tuệ Tĩnh (thế kỷ
XIV) và Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hữu Trác (1720 - 1791). Các ông không chỉ
là các bậc danh y, mà còn là những nhà tư tưởng lớn về y đức. Các ông rất chú
trọng xây dựng và truyền đạt y đức. Như Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hữu Trác,
trong suốt cuộc đời nghiên cứu, rèn luyện và phục vụ y học, ông luôn tự nhắc
nhở mình phải “tiến đức, tu nghiệp”. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện cho
toàn thiện, toàn mỹ đạo đức của người hành nghề y. Tu nghiệp là hàng ngày phải
- 18 chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng giỏi. Kế thừa truyền thống y đức của
Để xác định đạo đức nghề nghiệp, cần phân tích những phẩm chất nghề
nghiệp thể hiện trong các quan hệ xã hội của người thầy thuốc. Đạo đức nghề
nghiệp của người thầy thuốc có yêu cầu đặc biệt liên quan đến việc tiến hành các
hoạt động nhằm đem lại sức khoẻ cho mọi người và được thể hiện trong các mối
quan hệ với nhân dân, người bệnh, đồng nghiệp, với công tác khoa học kỹ thuật,
với pháp luật…Nó gồm các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực của ngành y tế, nhờ
đó mà mọi thành viên trong ngành phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình, phù
hợp với lợi ích chung của xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển của y học.
1.1.3. Khái niệm giáo dục và giáo dục đạo đức nghề nghiệp
- Giáo dục
Theo từ điển tiếng Việt: “Giáo dục, đó là hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó,
làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu
cầu đề ra” [53, 510].
Giáo dục - hiểu theo nghĩa rộng của từ này - là quá trình trao đổi và chuyển
giao tri thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục
đích, yêu cầu định sẵn. Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình
thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà
giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học.
Dưới góc độ triết học, có thể hiểu rằng, giáo dục là một quá trình hai mặt,
một mặt, đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục (sự tác động của
tri thức, văn hóa nhân loại thông qua nhà sư phạm đến đời sống của học sinh,
sinh viên); mặt khác, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi
bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục.
- 20 Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu
cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái
độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù
hợp với chuẩn mực xã hội.
Đối tượng giáo dục được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hết sức đa dạng,
trong đó học sinh, sinh viên được Người đặc biệt quan tâm. Bởi lẽ, như Người
thường nói: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước
nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên
muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần
và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó" [45,
tr.185], trong đó sinh viên chiếm tỷ lệ khá lớn.
Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tư, khoá VII (ngày 14/1/1993)
Đảng ta ra Nghị quyết "Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo",
trong đó khẳng định giáo dục và đào tạo được xem là "quốc sách hàng đầu".
Mục tiêu của phát triển giáo dục nước ta là nhằm "nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá,
khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu
lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh... chú trọng giáo
dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nhân văn và
bản sắc văn hoá dân tộc".
Bước sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo.
Nghị quyết Trung ương hai, khoá VIII (ngày 24/12/1996) tiếp tục khẳng định:
giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu...đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư
phát triển. Hội nghị cũng xác định nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục
- 22 nước ta là phải đào tạo ra "những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
"hồng" vừa "chuyên".
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta tiếp tục khẳng định, mục
tiêu giáo dục đại học của chúng ta hiện nay là: "Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng
cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy
và học...phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh - sinh viên.
Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất
tham gia, người dạy nghề, người học nghề và kết quả giáo dục đạo đức nghề
nghiệp. Các thành tố này vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng
với nhau, thành tố này quy định và ảnh hưởng đến thành tố khác và tạo nên sự
vận động chung của cả hệ thống giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Cụ thể: mục đích
và yêu cầu giáo dục đạo đức nghề nghiệp sau khi được xây dựng, quy định những
nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cụ thể cần hình thành ở người học nghề.
Sau khi xác định nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp, từ đó quy định phương
pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Trong mối quan hệ giữa lực lượng tham gia
giáo dục đạo đức nghề nghiệp và người học nghề thì lực lượng giáo dục đạo đức
nghề nghiệp giữ vai trò chủ đạo tổ chức, điều khiển hoạt động của người học
nghề. Dưới các tác động giáo dục đó, người học nghề phát huy vai trò chủ động,
sáng tạo của mình trong quá trình tự rèn luyện tự bồi dưỡng các phẩm chất nghề
nghiệp. Sự vận động của tất cả các thành phần nêu trên sẽ đưa lại kết quả giáo dục
đạo đức nghề nghiệp. Kết quả này phản ánh sự vận động đúng hay không đúng
quy luật khách quan của các thành tố và cả hệ thống.
Tuy nhiên, giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một hệ thống mở vì các thành
tố cấu thành của nó còn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác của đời
sống xã hội: chính trị, đạo đức, pháp luật, văn hoá