Phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở hà tĩnh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH VĂN THÁI

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


2

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH VĂN THÁI

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:


nghiệp trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Nghệ An, ngày 15 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn

Đinh Văn Thái


iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, PHỤ LỤC vii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục tiêu nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Những đóng góp mới của đề tài 5
8. Kết cấu luận văn 6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 7
1.1. Khái niệm và vai trò của làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn
mới 7
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2. Đặc trưng của làng nghề ở Việt Nam 11

2.3.3. Vốn sản xuất kinh doanh và hình thức tổ chức kinh doanh ở các
làng nghề (Phụ lục 01) 49
2.3.4. Thị trường tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề 51
2.3.5. Kết quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của lao động ở các làng
nghề

(Phụ lục 02) 52

2.3.6. Đánh giá thực trạng làng nghề ở Hà Tĩnh trong quá trình xây dựng
nông thôn mới và những vấn đề đặt ra cần giải quyết 53
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM THÚC ĐẨY
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LÀNG NGHỀ TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ TĨNH 61


v
3.1. Phương hướng phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn
mới ở Hà Tĩnh 61
3.2. Giải pháp phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 64
3.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề 64
3.2.2. Tạo nguồn vốn cho phát triển sản xuất ở làng nghề 66
3.2.3. Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng
nghề 69
3.2.4. Kết hợp các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ở làng nghề 72
3.2.5. Khuyến khích và hỗ trợ làng nghề áp dụng công nghệ trong sản
xuất kinh doanh 75
3.2.6. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho việc phát triển làng nghề 77
3.2.7. Hoàn thiện một số chính sách để phát triển nghề, làng nghề và xây

22.

Từ viết tắt
BCĐ
CN
CNH
DN
DV
HĐH
HĐND
HTX
KH-CN
KN-KL
KT - XH
LNTT
MTQG
NN&PTNT
NQ
NTM

SXKD
TNHH
TTCN
UBND
VH - XH

Viết đầy đủ
Ban chỉ đạo
Công nghiệp
Công nghiệp hóa

tỉnh Hà Tĩnh
giai đoạn 2011 - 2015 89
Tổng hợp tình hình lao động và doanh thu của các làng nghề
phân theo nhóm nghề năm 2010 và 2014 95


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những mục tiêu xây dựng nông thôn mới là phải chuyển dịch
được cơ cấu lao động nông thôn sang hướng phi nông nghiệp. Việc phát triển
CN-TTCN liên quan trực tiếp đến nhiều tiêu chí quan trọng khác như: Mức
thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu lao động và hình thức tổ chức sản xuất.
Vì vậy, địa phương nào có làng nghề phát triển, sẽ có nhiều điều kiện thuận
lợi cho lộ trình xây dựng thôn mới. Chính vì vậy, việc xây dựng nông thôn
mới gắn với phát triển làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống có ý nghĩa
rất lớn cả về kinh tế lẫn xã hội. Đây là giải pháp quan trọng thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nhằm tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho
lao động nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó tạo việc làm, giúp người nông
dân có thêm thu nhập chính đáng, góp phần bảo tồn nghề truyền thống là mục
tiêu của các làng nghề hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công hàng thủ
công mỹ nghệ truyền thống ở địa bàn nông thôn hướng đến.
Với mục tiêu đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH ở nông thôn, nhằm tạo
việc làm cho một lực lượng lớn lao động có tính chất mùa vụ ở nông thôn
(thời điểm nông nhàn); giải quyết một số vấn đề có tính chất cấp bách hiện
nay ở Hà Tĩnh đó là: Vào thời điểm nông nhàn người lao động phải di chuyển
về các thành phố lớn để làm thuê, làm ô sin và đặc biệt là lao động nữ đi xuất
khẩu lao động,... điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề trật tự xã hội ở
nông thôn Hà Tĩnh hiện nay. Trước những yêu cầu đó, ngày 28/12/2013
HĐND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-HĐND về việc phát

phát triển làng nghề ở đây trong thời gian qua và đề xuất phương hướng, giải
pháp phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Đây là


3
một vấn đề mới, có tính chiến lược. Vì vậy, vấn đề: “Phát triển làng nghề
trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh” được tác giả chọn
làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề làng nghề đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu tiếp
cận ở nhiều góc độ khác nhau:
Đề tài “Về các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo hướng CNH,
HĐH ở vùng đồng bằng Sông Hồng” của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, do TS. Đặng Lễ Nghi làm chủ nhiệm đề tài, 1998. Trong công trình
khoa học này, TS. Đặng Lễ Nghi đã nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực
tiễn để đưa ra một hệ thống các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo
hướng CNH, HĐH ở vùng đồng bằng Sông Hồng;
Luận văn “Giải pháp xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
theo hướng phát triển bền vững” của Thạc sĩ Nguyễn Hữu Loan năm 2007.
Tác giả đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức quản lý, xây dựng
làng nghề theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Luận văn “Tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng Nam” của Thạc sĩ Trần Văn Hiến
năm 2006 lại tập trung nghiên cứu vai trò của tín dụng ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng Nam;
Luận văn “Khôi phục và phát triển làng nghề ở vùng nông thôn đồng
bằng Sông Hồng - Thực trạng và giải pháp” của Thạc sĩ Vũ Thị Hà năm
2002. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng làng nghề truyền thống ở nông thôn
vùng Đồng bằng sông Hồng và đưa ra giải pháp về quy hoạch, kế hoạch khôi
phục và phát triển làng nghề truyền thống, đưa ra giải pháp về đào tạo lao

pháp phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh
trong thời gian tới.


5
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển làng nghề ở
Hà Tĩnh, đối chiếu với thực trạng làng nghề ở Hà Tĩnh thời gian qua, đề xuất
phương hướng, giải pháp phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông
thôn mới ở Hà Tĩnh trong thời gian tới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về làng nghề.
Phân tích thực trạng của các làng nghề ở Hà Tĩnh hiện nay; đánh giá
những thành công và hạn chế của các làng nghề trong thời gian qua.
Đề ra phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các làng
nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh trong thời gian tới.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các làng nghề ở Hà Tĩnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu làng nghề ở Hà Tĩnh; thời gian
nghiên cứu từ năm 2010 đến nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển làng nghề để nghiên cứu vấn đề
làng nghề ở Hà Tĩnh. Đồng thời luận văn vận dụng các phương pháp cụ thể
trong nghiên cứu khoa học kinh tế như phân tích và tổng hợp, thống kê và so
sánh; luận văn tiếp cận các tài liệu chuyên sâu, các công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước; luận văn kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình
khoa học về vấn đề làng nghề trước đây để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
7. Những đóng góp mới của đề tài

dệt may, cơ khí nhỏ; Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành
nghề nông thôn; Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Cây trồng và kinh doanh
sinh vật cảnh; Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác
phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn; Tổ chức đào tạo nghề, truyền
nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn [3].
Cơ sở ngành nghề nông thôn bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành
lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã thành lập, hoạt động theo
Luật Hợp tác xã; Hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo quy định của pháp luật
về đăng ký kinh doanh [3].
1.1.1.2. Nghề truyền thống
Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm
của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ
thế hệ này qua thế hệ khác. Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy
nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử. Truyền thống được biểu hiện ở hình
thức như truyền thống học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ,
nghề truyền thống [23].


8
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình
thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu
truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” [1].
Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: phải có kỹ thuật
và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành
nghề. Sản phẩm làm ra phải có tính hàng hoá, đồng thời có tính nghệ thuật và
mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một
dòng họ, một làng, một vùng. Trong những làng nghề truyền thống, đa số người
dân đều hành nghề truyền thống đó. Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những

là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc
các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành
nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [1].
Thực tế cho thấy “Làng nghề” là một tập hợp từ thể hiện một không
gian vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định
sinh sống. Ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn có một số nghề sản xuất phi
nông nghiệp. Trong các làng nghề này tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh
tế, xã hội phong phú và phức tạp. Làng nghề là những làng ở nông thôn có
những nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập
so với nghề nông [19].
Như vậy, khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính
sau: “Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai
yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó
bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có
mối liên kết chặt chẽ về KT-XH và văn hóa” [23].
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành
và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm


10
đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và
nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền
kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc. Xét về mặt định lượng, làng
nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và
sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ lệ khá lớn trong
tổng dân số của làng.
Ngày nay, làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng, không bó hẹp trong
phạm vi hành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một
tiểu vùng, cùng địa lý kinh tế, cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa truyền
thống hoặc cùng kinh doanh liên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có

Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những năm
gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du nhập
trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước [1]. Ngay các làng
nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống.
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã xuất hiện các làng nghề
có tính hiện đại, trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch vụ và
xây dựng, kinh doanh đa ngành nghề; đồng thời, do quá trình công nghiệp hóa
diễn ra mạnh mẽ ở các làng nghề, kỹ thuật và công nghệ sản xuất không đơn
thuần chỉ là kỹ thuật thủ công, mà có nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất áp
dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại như mộc, thịt bò khô, sản xuất gạch,
ngói..v.v.
1.1.2. Đặc trưng của làng nghề ở Việt Nam
+ Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và
ngành nông nghiệp:
Nghề thủ công truyền thống bắt đầu tư nông nghiệp và gắn liền với sự
phân công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự
cấp của người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Nông thôn là nguồn


12
cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường
tiêu thụ rộng lớn [18].
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, địa điểm sản xuất
nghề thủ công truyền thống là tại gia đình họ. Họ tự quản lý, phân công lao
động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với
nghề thủ công lúc nông nhàn.
+ Về sản phẩm:
Sản phẩm của làng nghề nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất.
Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử
dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ hoặc chỉ là vật để dùng trang trí ở nhà, công sở,

trong sản xuất, tương thích giữa quy mô, năng lực sản xuất và trình độ quản
lý. Bên cạnh đó, nó cũng có những nhược điểm đó là các chủ hộ không có
kiến thức về quản lý kinh tế, khó tiếp cận và chậm ứng dụng khoa học công
nghệ, năng lực sản xuất hạn chế, do trẻ em tham gia lao động sớm dễ dẫn tới
hiện tượng bỏ học...
Trong quá trình sản xuất, cũng đã xuất hiện mô hình tổ sản xuất là
sự liên kết, hợp tác giữa các hộ gia đình để cùng sản xuất, chia sẻ những
khó khăn và lợi ích thông qua thỏa thuận bằng hợp đồng miệng giữa các
hộ gia đình.
Mặt khác, thời gian gần đây, cũng đã xuất hiện mô hình hợp tác xã theo
Luật hợp tác xã và doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp. Mặc dù mới xuất
hiện và chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng các mô hình sản xuất này đã khẳng định
được vai trò của mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề.
1.1.3. Vai trò của làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng
dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch


14
vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo;
thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao [11].
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả
hệ thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề
kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có
niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông
thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh [11]. Phát triển làng nghề bền
vững đóng một vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
1.1.3.1. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status