Phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở hà tĩnh - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------

NGUYỄN THÀNH ĐỒNG

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. PHẠM THỊ NHUẬN

Hà Nội - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung của luận văn này chưa được nộp cho bất
kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình đào
tạo cấp bằng nào khác. Tôi cũng xin cam đoan thêm rằng bản luận văn này là nỗ lực
cá nhân tôi.
Các kết quả, phân tích, kết luận trong luận văn này (ngoài các phần được
trích dẫn) đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi. Có vấn đề gì sai sót tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm theo quy định.
Hà Tĩnh, ngày 9 tháng 8 năm 2016
Học viên

Nguyễn Thành Đồng

DANH MỤC BẢNG BIỂU ..................................................................................... vi
DANH MỤC HÌNH VẼ ......................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ....................................5
1.1. Khái niệm ............................................................................................................5
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ...............................................................................5
1.1.2. Làng nghề ở Việt Nam ..................................................................................9
1.2. Vai trò của làng nghề và những nhân tố tác động đến sự phát triển của
làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ............................................11
1.2.1. Vai trò của làng nghề trong quá trình xây dựng NTM ...............................11
1.2.2. Những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề trong quá trình
xây dựng nông thôn mới. ......................................................................................15
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phƣơng trong phát triển làng nghề .........................20
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển làng nghề của tỉnh Nghệ An .................................20
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển làng nghề của tỉnh Quảng Bình ............................21
1.3.3. Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Thanh Hóa ........................................22
1.4. Những vấn đề rút ra cho Hà Tĩnh về phát triển làng nghề trong quá trình
xây dựng nông thôn mới .........................................................................................23
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÁC LÀNG NGHỀ Ở HÀ TĨNH ...........................26
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Hà Tĩnh ảnh hƣởng đến sự phát triển
các làng nghề ............................................................................................................26
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.......................................................................................26
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội...........................................................................29

iii


2.2. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, UBND tỉnh Hà Tĩnh về phát
triển làng nghề .........................................................................................................33


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Viết đầy đủ

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

CNH

Công nghiệp hóa

HĐH

Hiện đại hóa

CN

Công nghiệp

LNTT

Làng nghề truyền thống

HĐND

Hội đồng nhân dân


Kinh tế - xã hội

HTX

Hợp tác xã

NN&PTNT

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

KH-CN

Khoa học - Công nghệ

KN-KL

Khuyến nông - Khuyến lâm

DN

Doanh nghiệp

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay cả nước ta đang tập trung cho việc thực hiện chương trình mục tiêu
Quốc gia xây dựng Nông thôn mới; trong đó Hà Tĩnh là một trong những tỉnh đi
đầu với mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 có 50% số huyện đạt chuẩn Nông thôn
mới. Để đạt được mục tiêu đó thì phải chuyển dịch được cơ cấu lao động nông thôn
sang hướng phi nông nghiệp. Việc phát triển CN - TTCN liên quan trực tiếp đến
nhiều tiêu chí quan trọng khác như: Mức thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu lao
động và hình thức tổ chức sản xuất. Vì vậy, địa phương nào có làng nghề phát triển,
sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi cho lộ trình xây dựng thôn mới. Chính vì vậy, việc
xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển làng nghề, nhất là làng nghề truyền
thống có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế lẫn xã hội. Đây là giải pháp quan trọng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống
cho lao động nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó tạo việc làm, giúp người nông
dân có thêm thu nhập chính đáng vào chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, góp
phần bảo tồn nghề truyền thống là mục tiêu của các làng nghề hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất, gia công hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống ở địa bàn nông thôn
hướng đến.
Trong những năm gần đây, mặc dù các cấp chính quyền ở Hà Tĩnh đã có những
chính sách đầu tư phát triển các làng nghề như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quy
hoạch khu sản xuất tập trung, phát triển các ngành nghề phụ trợ trong các làng nghề
nhưng các làng nghề vẫn gặp rất nhiều khó khăn, như: Sản xuất còn nhỏ, lẻ theo kiểu
hộ gia đình, chưa có khu vực sản xuất tập trung; thiết bị và công nghệ chưa được đầu tư
đúng mức; năng suất lao động thấp; chất lượng và mẫu mã của sản phẩm chưa đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của quy luật thị trường; trình độ tay nghề của
người lao động chưa được chú trọng đào tạo và nuôi dưỡng; thu nhập trong các làng
nghề và các cơ sở sản xuất chưa đủ sức thu hút người lao động đặc biệt đối với lao
động có tay nghề cao và các nghệ nhân; môi trường tại các làng nghề và nhiều cơ sở
1




Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề
lý luận và thực tiễn về vấn đề làng nghề. Nhiều vấn đề đã được luận giải và làm
luận cứ khoa học trong việc vận dụng vào hoạt động thực tiễn, bước đầu đạt được
những kết quả nhất định. Với nhiều lý do khác nhau nên những công trình này
chưa giải quyết toàn diện và đầy đủ các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. Việc
nghiên cứu vấn đề phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở
Hà Tĩnh là vấn đề mới, quan trọng và cần thiết đối với thực tiễn ở tỉnh Hà Tĩnh.
Như vậy, qua xem xét khái quát những công trình này, luận văn đã xác định được
những vấn đề mà các công trình đã nghiên cứu, những vấn đề đã nghiên cứu nhưng
còn phải tiếp tục nghiên cứu và những vấn đề chưa được nghiên cứu; trên cơ sở đó,
luận văn xác định nội dung cần nghiên cứu tiếp theo. Như vậy, luận văn là một
công trình khoa học độc lập, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề ở Hà
Tĩnh, đối chiếu với thực trạng làng nghề ở Hà Tĩnh thời gian qua, đề xuất phương
hướng, giải pháp phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở
Hà Tĩnh trong thời gian tới.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển làng nghề, chỉ ra thực
trạng làng nghề ở Hà Tĩnh thời gian qua, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra
phương hướng, các giải pháp phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông
thôn mới ở Hà Tĩnh trong thời gian tới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về làng nghề;
Phân tích thực trạng, đánh giá thành công và hạn chế của các làng nghề ở Hà
Tĩnh hiện nay;
Đề ra phương hướng, giải pháp để tiếp tục phát triển của các làng nghề trong
quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh trong thời gian tới.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh;



Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ TRONG
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Khái niệm:
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Ngành nghề nông thôn
Theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính
phủ thì ngành nghề nông thôn bao gồm: Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản;
Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí
nhỏ; Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; Sản
xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Cây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh; Xây dựng, vận
tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất, đời sống dân cư
nông thôn; Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong
lĩnh vực ngành nghề nông thôn [3].
Cơ sở ngành nghề nông thôn bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập,
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp
tác xã; Hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh
doanh [3].
1.1.1.2. Nghề truyền thống
Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một
cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua
thế hệ khác. Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự
phát triển theo lịch sử. Truyền thống được biểu hiện ở hình thức như truyền thống
học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống [23].
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu
đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển
đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” [1].

xuất nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn chặt với làng quê mình. Khi nghề thủ công phát
triển, số người chuyên làm nghề thủ công và sống được bằng nghề này tăng lên,
điều nay diễn ra ngay trong các làng quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các làng
nghề ở nông thôn [17].
6


Từ những luận điểm và lý luận trên đã có nhiều định nghĩa về làng nghề
được đưa ra. Đề tài sử dụng khái niệm làng nghề theo Thông tư số 116/2006/TTBNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều
cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự
trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra
một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [1] .
Thực tế cho thấy “Làng nghề” là một tập hợp từ thể hiện một không gian
vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh sống.
Ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn có một số nghề sản xuất phi nông nghiệp.
Trong các làng nghề này tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội phong
phú và phức tạp. Làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông
nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông [19] .
Như vậy, khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau:
“Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố
làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều
hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ
về KT-XH và văn hóa” [23] .
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát
triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với
những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự
cấp, tự túc. Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó có số người
chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó
chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng.

LNTT phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo
quy định [1].
1.1.1.5. Làng nghề mới
Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những năm gần
đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du nhập trong quá
trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước [1]. Ngay các làng nghề truyền thống
cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống.
8


Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã xuất hiện các làng nghề có
tính hiện đại, trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch vụ và xây dựng,
kinh doanh đa ngành nghề; đồng thời, do quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh
mẽ ở các làng nghề, kỹ thuật và công nghệ sản xuất không đơn thuần chỉ là kỹ thuật
thủ công, mà có nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất áp dụng kỹ thuật và công
nghệ hiện đại như mộc, thịt bò khô, sản xuất gạch, ngói..v.v.
1.1.2. Làng nghề ở Việt Nam
+ Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành
nông nghiệp:
Nghề thủ công truyền thống bắt đầu tư nông nghiệp và gắn liền với sự phân
công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của người
nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Nông thôn là nguồn cung cấp nguyên
liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường tiêu thụ rộng lớn [18].
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, địa điểm sản xuất nghề
thủ công truyền thống là tại gia đình họ. Họ tự quản lý, phân công lao động, thời
gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc
nông nhàn.
+ Về sản phẩm:
Sản phẩm của làng nghề nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất. Nó là
các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có

xuất, tương thích giữa qui mô, năng lực sản xuất và trình độ quản lý. Bên cạnh đó,
nó cũng có những nhược điểm đó là các chủ hộ không có kiến thức về quản lý kinh
tế, khó tiếp cận và chậm ứng dụng khoa học công nghệ, năng lực sản xuất hạn chế,
do trẻ em tham gia lao động sớm dễ dẫn tới hiện tượng bỏ học...
Trong quá trình sản xuất, cũng đã xuất hiện mô hình tổ sản xuất là sự liên kết,
hợp tác giữa các hộ gia đình để cùng sản xuất, chia sẻ những khó khăn và lợi ích thông
qua thỏa thuận bằng hợp đồng miệng giữa các hộ gia đình.
Mặt khác, thời gian gần đây, cũng đã xuất hiện mô hình hợp tác xã theo Luật
hợp tác xã và doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp. Mặc dù mới xuất hiện và
chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng các mô hình sản xuất này đã khẳng định được vai trò của
mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề.
10


1.2. Vai trò của làng nghề và những nhân tố tác động đến sự phát triển của
làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Vai trò của làng nghề trong quá trình xây dựng NTM
Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân
cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp;
phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa,
môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập và đời sống vật chất, tinh
thần của người dân được nâng cao [11].
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ
thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên
tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh [11]. Phát triển làng nghề bền vững đóng một vai trò quan trọng
trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
1.2.1.1. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn theo hướng CNH, HĐH
Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng

thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất
nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lí lực lượng lao động nông thôn. Vai trò tạo việc
làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa sang các làng khác,
vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển
KT-XH ở vùng đó. Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở
địa phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.
Đặc biệt, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm truyền thống có ý
nghĩa rất quan trọng. Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD mỗi năm. Trên
phương diện xã hội, xuất khẩu hàng thủ công truyền thống là nhân tố quan trọng để
kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công
chuyên nghiệp và nhàn rỗi. Qua tổng kết thực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất
khẩu được 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho
khoảng 3.000 - 4.000 lao động.
12


Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp
giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho
người lao động. Ở nơi có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập và mức sống cao
hơn so với vùng thuần nông.
1.2.1.3. Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn
chế di dân tự do
Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ công không đòi
hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ do thợ thủ
công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là qui mô nhỏ, cơ
cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật
chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làng nghề có thể huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh. Mặt khác, do đặc điểm sản xuất lao
động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên

phát triển mới với nhiều nghề trong một làng nông nghiệp. Đồng thời cùng với sản
xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng hợp lý các
nguồn lực ở nông thôn như đất đai, vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, thị
trường. Vì vậy, một nền kinh tế hàng hóa với sự đa dạng của các loại sản phẩm
được hình thành và phát triển, trong mối quan hệ với các ngành nghề khác, làng
nghề đóng góp vai trò động lực.
Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm giao
lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá. Những trung tâm này ngày càng được mở
rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn. Hơn nữa, nguồn tích lũy
của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt. Dần dần ở đây hình thành
một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, nông thôn đổi thay và từng bước
được đô thị hóa qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ. Vì vậy dễ nhận thấy rằng ở một
làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phố chợ sầm uất của các nhà buôn bán,
dịch vụ. Xu hướng đô thị hóa nông thôn là xu hướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát
triển về KT-XH ở nông thôn, là yêu cầu khách quan trong phát triển làng nghề.

14


1.2.1.5. Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển
văn hóa của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy; đồng thời là sự
biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc. Các làng nghề phát triển sẽ bảo tồn,
duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị văn hóa của dân tộc.
Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh của lao
động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng
tạo của người thợ thủ công. Các sản phẩm của các làng nghề chứa đựng những
phong tục, tập quán, tín ngưỡng... mang sắc thái riêng có của dân tộc Việt Nam,
nhiều sản phẩm làng nghề có giá trị, có tính nghệ thuật cao, trong đó hàm chứa

1.2.2.2. Nhân tố vốn
Muốn tiến hành sản xuất yếu tố đầu tiên cần có là vốn, vốn là yếu tố vật chất
đầu tiên, quyết định quy mô sản xuất của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng
nghề. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệt trên thị trường
đòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề phải có lượng vốn lớn đầu tư
công nghệ, đổi mới trang thiết bị ở một số công đoạn sản xuất phù hợp để thay thế
lao động thủ công, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu
mở rộng thị trường.
Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật, trong đó vốn
tài chính trong làng nghề là tiền; còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chất
của quá trình sản xuất trong làng nghề như cơ sở vật chất của các hợp tác xã thủ
công trước kia, máy móc, nguyên liệu và đặc biệt còn có nguồn vốn phi vật chất là
kinh nghiệm bí quyết nghề nghiệp.
Về quy mô vốn tại các hộ gia đình làng nghề truyền thống không thể so sánh
với các cơ sở sản xuất trong các lĩnh vực khác. Mặt khác khối lượng vốn còn phụ
thuộc vào ngành nghề sản xuất. Các làng nghề đòi hỏi vốn lớn như: các làng nghề
sản xuất về đồ gỗ, gốm vì chi phí nguyên liệu và công đoạn sản xuất phức tạp hơn.
Ngược lại một số làng nghề sản xuất không đòi hỏi vốn đầu tư nhiều như: Mây tre
đan, bánh tráng... Cơ cấu nguồn vốn tại các làng nghề bao gồm nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài. Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể nói ở làng
nghề là rất ít, còn nguồn vốn trong nước bao gồm:
16


+ Vốn tự có: Là nguồn vốn của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng
nghề được tích lũy lại, nguồn vốn này quá nhỏ bé so với nhu cầu mở rộng quy mô
sản xuất hay đổi mới trang bị kỹ thuật, nó chiếm khoảng trên 90% tổng số vốn đầu
tư của các chủ thể sản xuất kinh doanh. Có một thực tế do truyền thống tập quán
của nếp nghĩ sản xuất nhỏ, nhiều hộ thủ công sau khi tích lũy được lợi nhuận, họ dè
dặt trong việc tái sản xuất mở rộng nhưng lại rất mạnh tay dùng lợi nhuận đó để xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status