BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG VĂN THÀNH
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÍ LUẬN VĂN HỌC
2
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG VĂN THÀNH
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÍ LUẬN VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
của Mạc Ngôn.............................................................................................48
1.3.1. Thể hiện tấm lòng đồng cảm sâu sắc với thân phận con người
trong kiếp hiện sinh.................................................................................48
1.3.2. Thể hiện niềm tin vào bản tính tốt đẹp của con người..................50
1.3.3. Phê phán những hành xử trái tự nhiên ..........................................52
Chương 2
NHỮNG KIỂU NHÂN VẬT NỔI BẬT
TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN.........................................................56
2.1. Kiểu nhân vật nạn nhân của xã hội.......................................................56
2.1.1. Nạn nhân của những tập tục lạc hậu..............................................56
2.1.2. Nạn nhân của chiến tranh .............................................................60
2.1.3. Nạn nhân của ảo tưởng cách mạng................................................64
2.2. Kiểu nhân vật tha hóa...........................................................................68
6
2.2.1. Nhân vật quan chức ......................................................................68
2.2.2. Nhân vật nông dân ........................................................................71
2.2.3. Nhân vật trí thức ...........................................................................74
2.3. Kiểu nhân vật nghịch dị........................................................................76
2.3.1. Kiểu nhân vật trẻ thơ - người lớn..................................................77
2.3.2. Kiểu nhân vật người - vật..............................................................81
2.3.3. Kiểu nhân vật huyền thoại............................................................84
Chương 3
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN.........................................................90
3.1. Khắc họa nhân vật đa chiều, đa diện....................................................90
3.1.1. Đặt nhân vật vào thời gian đa chiều..............................................90
3.1.2. Đặt nhân vật vào những tình huống mang tính bi kịch................92
3.1.3. Khắc họa tâm lý nhân vật.............................................................94
Mạc Ngôn làm luận văn Thạc sĩ, hi vọng góp thêm một tiếng nói vào quá
trình khám phá tài năng nhiều mặt của Mạc Ngôn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Một cái nhìn khái lược về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Mạc
Ngôn ở Trung Quốc và ở Việt Nam
Mạc Ngôn khởi nghiệp từ năm 1981, nhưng phải đến năm 1985, các tác
phẩm Củ cải đỏ trong suốt, Bùng nổ, Dòng sông khát,... được xuất bản thì
Mạc Ngôn mới nổi tiếng trên văn đàn Trung Quốc. Khi tác phẩm Cao lương
đỏ được chuyển thể và đưa lên màn ảnh, Mạc Ngôn mới thu hút sự chú ý của
giới nghiên cứu phê bình văn học. Năm 2012 giải Nobel văn học trao cho
Mạc Ngôn, đó là sự thừa nhận mang tính toàn cầu về tài năng văn chương của
ông. Việc nghiên cứu văn nghiệp của Mạc Ngôn, theo đó cũng trở nên sôi nổi,
mạnh mẽ hơn và chưa có dấu hiệu dừng lại.
Ở Trung Quốc, xuất phát từ những góc nhìn, quan điểm thẩm mỹ khác
nhau, đã có những ý kiến khác biệt, thậm chí là đối lập nhau về tiểu thuyết
Mạc Ngôn. Từ lập trường chính trị, xã hội, nhiều nhà nghiên cứu đã phê phán
mạnh mẽ một số tiểu thuyết Mạc Ngôn. Họ cho rằng các tác phẩm của ông đã
vi phạm “vùng cấm” của văn học. Nhà phê bình Vương Cán phê phán Mạc
Ngôn có tư tưởng chống lại quy phạm truyền thống. Trong khi đó, Hạ Thiệu
8
Tuấn, Phan Khải Hùng thừa nhận sức mạnh tưởng tượng của Mạc Ngôn rất
phong phú, kỳ lạ, nhưng dưới sự chỉ đạo của tư tưởng “thiên mã hành không”
(phóng túng tùy tiện) nên ngòi bút của ông nhiều khi không giữ được mực
thước: “Trước cái ác của kẻ thù, Mạc Ngôn lúc đầu còn tỏ ra căm giận nhưng
sau thì lại lạnh lùng vô cảm. Đối với cái ác và hành vi bạo lực, tác giả tả khoa
trương quá đáng và tỏ ra thích thú thưởng thức chúng” [10, tr.73]. Từ góc
nhìn nghệ thuật hiện đại, hậu hiện đại, nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng lý
thuyết về tiểu thuyết của M.Bakhtin, lý thuyết tự sự học của Gentte, chủ nghĩa
về tác phẩm Báu vật của đời, ông viết: “phiến diện hẹp hòi, tình cảm ủy mị
tiêu trầm, không lấy quan điểm duy vật để nhìn lịch sử”.
Ở Việt Nam, từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, tên tuổi Mạc Ngôn
đã được biết đến như là một hiện tượng của văn học đương đại Trung Quốc.
Đặc biệt sau khi tiểu thuyết Báu vật của đời được dịch và giới thiệu ở Việt
Nam, Mạc Ngôn đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình văn học.
Nguyễn Khắc Phê trong bài viết Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai
tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn hương hình đăng trên Tạp chí Sông
Hương, số 166, tháng 12 năm 2002, đã nói đến phương diện không - thời
gian, mối quan hệ của các nhân vật cùng với những phân tích, lí giải và thủ
pháp nghệ thuật độc đáo ở hai tác phẩm này. Trong bài viết Tài “phù phép”
của Mạc Ngôn (Tiền Phong online, 10/ 5/ 2008), ông đã nói nhiều đến thủ
pháp lạ hóa trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn mà Báu vật của đời được xem là
thể hiện tập trung nhất. Lê Huy Tiêu là người có nhiều bài nghiên cứu về tiểu
thuyết Mạc Ngôn. Trong bài viết Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của
Mạc Ngôn (Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4/ 2003), ông đã bước đầu đề cập
đến những đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của Mạc Ngôn, như: đề tài, cốt
truyện, thủ pháp nghệ thuật,... Theo ông, “Nhiều người gọi những tác phẩm
của Mạc Ngôn là tiểu thuyết “cảm giác mới”. Bàn về cốt truyện trong tiểu
10
thuyết Mạc Ngôn, ông viết “Tiểu thuyết của Mạc Ngôn không còn là cốt
truyện hoàn chỉnh như cốt truyện truyền thống mà nó chỉ là cái khung mà
thôi. Nhưng trong cái khung ấy chứa đầy cảm giác, đó là linh hồn của tiểu
thuyết Mạc Ngôn. Ông có biệt tài nắm bắt cảm giác” [95]. Về kết cấu tiểu
thuyết Mạc Ngôn, ông viết: "Do điểm nhìn tự thuật luôn biến hóa, nên kết cấu
truyện của Mạc Ngôn cũng xuất hiện một hình thức tương xứng mới mẻ về
không gian và thời gian, lịch sử và hiện tại, vừa có một kết cấu ngoại tại...
Tiểu thuyết của ông là một kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi
Nhưng các tiểu thuyết về sau “bị quan điểm thẩm mỹ “bệnh hoạn” làm cho
tàn lụi dần dần” [99].
Hồ Sĩ Hiệp trong bài viết Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam
(Tạp chí Văn nghệ, số 51), nhận xét: “Ngòi bút miêu tả của Mạc Ngôn trong
Báu vật của đời tỉnh táo và lạnh lùng. Mặc dù một số đoạn rơi vào yếu tố tự
nhiên sắc dục nhưng toát lên trong toàn bộ tác phẩm vẫn là cái nhìn hiện thực
và thái độ xây dựng của tác giả.... Đàn hương hình, Mạc Ngôn lên án sự tàn
bạo độc ác của thời đại nhà Thanh - một thời đại đã gây nên biết bao đau
thương, thảm khốc cho mỗi con người và cho mỗi gia đình.... Cây tỏi nỗi giận
là một câu chuyện rất đơn giản nhưng có tính thời sự trong thời buổi kinh tế
thị trường, thì nông thôn, nông nghiệp và nông dân luôn bị thiệt thòi. Những
người nông dân...trong tác phẩm có thể coi là những người điển hình trong
thời đại mới. Họ biết làm ăn, biết làm giàu và cũng biết đấu tranh đến cùng
khi quyền lợi bị xâm phạm”. Theo Hồ Sĩ Hiệp, “Trong các nhà văn đương đại
Trung Quốc hiện nay,... ông là nhà văn có “vùng đất”, “có tiếng nói” và có
“cách viết riêng”... Câu chuyện trong tác phẩm của Mạc Ngôn bình thường
phổ biến, nơi nào cũng có nhưng dưới ngòi bút của tác giả trở nên phức tạp và
rối rắm, đầy kịch tính và chứa chất nhiều mâu thuẫn làm cho người đọc theo
dõi, rất căng thẳng. Chính yếu tố này đã làm cho tác phẩm của Mạc Ngôn hấp
12
dẫn người đọc. Về nghệ thuật tác phẩm của Mạc Ngôn có nhiều khám phá,
vừa cách tân truyền thống vừa sáng tạo cái mới theo các thủ pháp nghệ thuật
tiểu thuyết Tây phương” [24].
Nguyễn Thị Tịnh Thy là người đầu tiên ở Việt Nam làm luận án Tiến
sĩ về tiểu thuyết Mạc Ngôn. Bà đã có nhiều bài viết, nghiên cứu về tiểu thuyết
của Mạc Ngôn. Trong bài Kỳ ảo hóa ngôn ngữ miêu tả cảm giác trong tiểu
thuyết của Mạc Ngôn (Tạp chí Non nước, số 169), đã cho rằng, “Đối với Mạc
Ngôn “cảm giác mới” là sự lặn sâu vào trong cảm giác, cảm xúc của nhân vật,
thuyết Mạc Ngôn. Võ Nguyễn Bích Duyên viết: “Tiểu thuyết Mạc Ngôn là
một sân khấu rộng lớn có khả năng quy tụ về đó một dàn diễn viên đông đảo,
phong phú và sinh động. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, vì
vậy, là một thế giới ồn ào và phức tạp, cả lưu manh lẫn anh hùng, kẻ khốn
cùng lẫn bậc đại phú quý, con người lẫn súc vật, thần tiên lẫn ma quỷ,… Thế
nhưng, dù rất đông đúc, song mỗi nhân vật đều là một cá thể sinh động. Nó
khước từ vai trò của một nhân vật loại hình hay có chức năng thúc đẩy cốt
truyện, trở thành một nhân tố tích cực trong việc kiến tạo bức tranh xã hội
rộng lớn, đa diện, nhiều chiều” [16]. Từ việc khái quát hệ thống nhân vật
trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, tác giả đi sâu tìm hiểu kiểu nhân vật trẻ thơ người lớn, một kiểu dạng nhân vật xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết của
Mạc Ngôn. Nhận xét về đặc điểm nổi bật của kiểu nhân vật này, tác giả bài
viết, cho rằng, “Đó là những nhân vật mà yếu tố trẻ thơ và yếu tố người
trưởng thành cùng tồn tại. Dạng thứ nhất, nhân vật là trẻ thơ khi xét về vóc
dáng, tuổi tác, nhưng tâm hồn, suy nghĩ, hành động lại rất người lớn. Dạng
thứ hai, nhân vật có vóc dáng, tuổi tác của một người trưởng thành nhưng suy
nghĩ, hành động thì ngây thơ, khờ khạo. Ngoài hai dạng này còn có một vài
nhân vật có sự giao thoa giữa trẻ thơ và người lớn” [16].
14
Trong Luận văn thạc sĩ của Bùi Hải Hà với đề tài Nghệ thuật tự sự
trong tiểu thuyết Ếch của Mạc Ngôn (2013), bên cạch việc tìm hiểu khá
sâu về nghệ thuật tự sự của tác phẩm, Bùi Hải Hà còn có cái nhìn khái
quát về nhân vật trong tác phẩm này: “Khi miêu tả ngoại hình nhân vật,
Mạc Ngôn không miêu tả từ đầu đến cuối mà nhà văn luôn có sự lựa chọn
chi tiết đặc sắc nhất từ đó góp phần thể hiện cá tính của nhân vật. Hình
ảnh đôi bàn tay của Vạn Tâm được Mạc Ngôn miêu tả rất kỹ về hình dáng
bên ngoài, cảm xúc bên trong của người sở hữu chúng lẫn cảm xúc của
những đối tượng xung quanh về chính chúng”. Tác giả còn chia nhân vật
trong tiểu thuyết Ếch với những kiểu nhân vật: nhân vật hành động, nhân
Chương 2. Những kiểu nhân vật nổi bật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
Chương 3. Nghệ thuật thể hiện nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.
17
Chương 1
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm nghệ thuật về con người trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn
1.1.1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội
Xã hội Trung Quốc vào nửa cuối thế kỷ XX trải qua những biến động
mang tính bi kịch. Đó là những trói buộc về chính trị, là cuộc Đại cách mạng
văn hóa vô sản (1966 - 1976), Cải cách ruộng đất nông thôn, đấu tố địa chủ.
Tiếp đó là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những mô hình ấu trĩ duy
ý chí như “công xã nhân dân”, phong trào “đại nhảy vọt”. Tình trạng quan
liêu cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy sụp... xã hội điêu tàn,
chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng. Với những bi kịch mang tính lịch
sử đó tất yếu sẽ dẫn đến một sự đổ vỡ. Từ khi vai trò lãnh đạo của chủ tịch
Mao Trạch Đông suy yếu, Lâm Bưu - Giang Thanh rồi đến tập đoàn phản
động “bè lũ bốn tên” nắm lấy cơ hội thao túng chính trường, đặc biệt là mười
năm Đại cách mạng văn hóa vô sản. Trong lịch sử Trung Quốc, gia đoạn này
được gọi “mười năm động loạn”. Văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt.
Thay vì đổi mới, cải cách, vực dậy tình trạng suy thoái của đất nước, những
kẻ phản động âm mưu cướp đoạt quyền lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng chiến
dịch “cải cách” mang tên “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Trên danh nghĩa
cách mạng chân chính, đổi mới đất nước nhưng tiến hành vội vã, cực đoan,
bất chấp thực tiễn, bỏ qua quy luật, đốt cháy giai đoạn. Chúng thực hiện nhiều
chủ trương tàn bạo, dã man, làm cho đất nước Trung Hoa ngày càng lún sâu
Muốn viết một truyện cho dài rõ ràng là không dễ. Điều mà chúng ta thường
nghe thấy là lời kêu gọi hãy viết truyện dài cho ngắn lại. Trái lại ở đây, tôi
kêu gọi truyện dài là phải viết cho dài” [61]. Theo ông, truyện dài là phải viết
cho dài, không phải là chồng chất sự kiện và số câu chữ, mà phải có khí lượng
22
trong lòng, phải có sự đại kiến tạo về nghệ thuật. “Truyện dài không thể vì
muốn thích hợp với thời đại ưa khuấy động tình cảm này mà hi sinh sự tôn
nghiêm đáng có của mình. Truyện dài cũng không thể vì muốn thích ứng với
một số độc giả nào đó mà rút ngắn độ dài của mình, giảm bớt mật độ và hạ
thấp độ khó của mình” [61]. Như vậy, theo ông độ dài của tiểu thuyết không
chỉ là sự tôn nghiêm mà nó còn là tiêu chí để phân biệt với “truyện dài nhỏ” một dạng văn chịu ảnh hưởng của sáng tác điện ảnh hóa, truyền hình hóa và
“thích ứng với nhu cầu báo chí hiện nay”. Độ khó của truyện dài nó thể hiện
tài năng và tầm hiểu biết của nhà văn. Truyện ngắn thường là lát cắt của cuộc
đời và tập trung vào một sự kiện nào đó của một số phận nhân vật trong một
thời điểm xác định. Trong khi đó, tiểu thuyết được coi như một dòng sông
cuộc đời, nó miêu tả cuộc sống trên nhiều phương diện, diễn tả nhiều số phận
và mỗi con người trong tiểu thuyết luôn được tái hiện mang tính quá trình, bởi
vì nó phác họa bức tranh đời sống toàn cảnh. Xoay quanh cuộc đời của các
nhân vật, nhà văn dựng lên hoàn cảnh môi trường, địa lí, lịch sử, những
phong tục tập quán, những mối quan hệ xã hội, những vấn đề mang tính thời
sự, về thế cuộc. Chẳng hạn như bao chứa và ảnh hưởng trực tiếp đến số phận
của nhân vật Kim Đồng trong Báu vật của đời, số phận của nhân vật La Tiểu
Thông trong 41 chuyện tầm phào,.... là xã hội Trung Quốc trên bước đường
cải cách, bên trong xã hội đó là cuộc sống đầy xa hoa, buông thả, đầy tội ác,
đầy tính toán trong các mối quan hệ hết sức tàn nhẫn giữa con người với con
người. Vì thế, không có một cuốn tiểu thuyết nào đạt đến độ dài về mặt dung
lượng, sâu sắc về mặt ý nghĩa, đa dạng phong phú về mặt thông tin... nếu như
nó chỉ là những sự kiện và những biến cố.
khẳng định giá trị tồn tại “vượt qua mọi quy luật băng hoại” của văn học.
Điều này, đúng như nhà văn luôn tâm niệm: “Cần xác định vĩnh viễn một mục
tiêu cao hơn so với năng lực của chính mình, không nên chỉ vượt qua người
24
đồng thời với mình hoặc tiền nhân mà hao phí sức lực mà hãy tận lực siêu việt
chính mình” [67, tr.317].
Mạc Ngôn là một tác giả có ý thức tự giác rất cao trong sáng tạo nghệ
thuật với phương thức “người báo tin duy nhất” [67, tr.267]. Ông khẳng định:
“Viết gì thì đều phải có tính sáng tạo đầu tiên và độc nhất. Người khác đã làm
rồi thì không thể lặp lại. Tốt nhất là viết những gì người khác chưa viết, thủ
pháp cũng là cái mình chưa sử dụng lần nào” [67, tr.275 ]. Như vậy, với Mạc
Ngôn quan trọng nhất trong sáng tác nghệ thuật là có sự tìm tòi và sáng tạo,
tối kỵ nhất là sự lặp lại người khác và không chấp nhận cả sự lặp lại của chính
mình, luôn làm mới mình là yêu cầu mà ông đặt ra và theo đuổi trong suốt các
chặng đường sáng tác.
1.2. Nội dung cơ bản trong quan niệm nghệ thuật về con người của
Mạc Ngôn
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quan trọng, được
nói đến nhiều trong Thi pháp học. Theo đó, “Văn học nghệ thuật là một sự ý
thức về đời sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể” và “Hình
tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả
vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức. Nhà văn không thể miêu tả đối
tượng mà không có quan niệm về đối tượng” [77, tr.23]. Quan niệm là một
phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, tìm hiểu quan niệm
nghệ thuật về con người trong văn học chính là bước đi thiết thực để đến với
chiều sâu của các tác phẩm của một nhà văn hay giai đoạn văn học. Trần Đình
Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự
cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện
hành vi, hoạt động và cách ứng xử của con người. Con người với bản tính tự
nhiên và bản chất xã hội của mình, luôn có nhu cầu gắn bó với đồng loại và
nhu cầu tương tác, kết hợp với người khác.