BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN KIM TOẠI
HÌNH TƯỢNG GIỚI TRẺ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN KIM TOẠI
HÌNH TƯỢNG GIỚI TRẺ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60.22.01.20
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN, 2015
người viết trẻ, những người đang tạo nên những trang mới của lịch sử văn
học đương đại.
2
1.3. Nhân vật người trẻ tuổi là đối tượng được đặc biệt quan tâm trong
tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú. Nhà văn tập trung khai thác mối quan hệ giữa
con người và hoàn cảnh sống, sự thiếu hụt về văn hóa, tri thức của một bộ
phận giới trẻ, những lỗi lầm và khát vọng hướng thiện của họ. Khảo sát thế
giới nhân vật người trẻ tuổi sẽ cho chúng ta cái nhìn sâu hơn, khách quan
hơn về cảm quan nghệ thuật và tài năng của nhà văn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các bài viết về Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Phê bình văn học là thành phần không thể thiếu của đời sống văn học.
Khi một hiện tượng văn học ra đời thì thường kéo theo những nhận xét,
đánh giá. Người ta đi tìm lời giải thích thoả đáng về sự thành công và những
hạn chế của tác giả. Không nằm ngoài quy luật đó, mặc dù còn rất trẻ và đến
với làng văn Việt Nam tương đối muộn nhưng cái tên Nguyễn Đình Tú đã
gây được tiếng vang khá lớn. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết về tác phẩm của Nguyễn Đình Tú.
Trong luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Thêu (Đại Học Đà Nẵng) đã
tập trung nghiên cứu Đặc điểm tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú. Tác giả đã
nêu các đặc điểm nổi bật về đề tài và các kiểu nhân vật đặc thù. Hoàng Thị
Thêu cho rằng Nguyễn Đình Tú quan tâm đến hai loại đề tài đó là thế giới tội
phạm và tình yêu, tình dục. Cùng với hệ đề tài đó là các kiểu nhân vật đặc
thù: Nhân vật với đời sống bản năng; Nhân vật bị chấn thương; Nhân vật tự
ý thức. Đoàn Minh Tâm trong Từ Hồ sơ một tử tù đến “Nháp” - một chặng
đường tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú đã vận dụng lý thuyết liên văn bản để
nghiên cứu và đưa ra nhận định: “Đọc Nháp trong mối so sánh liên văn bản
với hai tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù và Bên dòng sầu diện chúng tôi cho rằng
bài viết đã lý giải rất rõ ràng: “Sự phản biện thứ hai xuất hiện song song
cùng sự phản biện thứ nhất mới là điều đáng nói ở cuốn tiểu thuyết này. Đó
là sự phản biện tính giao khác chủng tộc”. Trong bài viết Điểm nhìn nghệ
thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, Trần Tố Loan, đã nói rõ: “Bên cạnh
việc xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh, sử dụng ngôn từ phù hợp, nhà văn
đã dụng công trong việc tổ chức kết cấu tác phẩm một cách sinh động và hấp
4
dẫn”. Trên trang mạng Express ở bài phỏng vấn của Diệu Linh đối với tác
giả Nguyễn Đình Tú, Tác giả đã nói rõ: “Thực ra cái gọi là “đương đại” chỉ
là tâm thế sáng tác thôi, chứ tác phẩm của tôi có một diện đề tài khá rộng.
Các cuốn tiểu thuyết của tôi về bề nổi có vẻ là những ngổn ngang của hiện
thực cuộc sống hôm nay đang hắt vào. Nhưng cái hiện thực đó luôn có
những gốc rễ sâu xa và đặt trong nhiều chiều liên tưởng khác nhau”. Rõ ràng
nhà văn luôn ý thức về nội dung và ý đồ nghệ thuật của riêng mình.
Trong luận văn thạc sĩ của Dương Thị Hương cùng đề tài Đặc điểm
tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, (Trường Đại học KHXH&NV), tác giả chủ yếu
nghiên cứu các phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
như: kết cấu song song, đa tuyến, dòng ý thức; tổ chức cốt truyện phân mảnh
và truyện lồng trong truyện; điểm nhìn trần thuật không - thời gian và điểm
nhìn nhân vật; một số thủ pháp nghệ thuật khác… Đóng góp lớn nhất chính
là phát hiện ra điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết của nhà văn trẻ này.
Luận văn thạc sĩ của Phạm Anh Hào, (Đại học Vinh), nghiên cứu đề
tài Hiện thực đương đại trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú. Tác giả chỉ
rõ các yếu tố nghệ thuật làm nên sức sống mãnh liệt và hấp dẫn của tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú. Các nét nghệ thuật đương đại được khảo sát qua
những va chạm của các bảng giá trị.
2.2. Các bài viết về người trẻ tuổi trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, đối tượng
giết người” (e Van.com); “Tác phẩm của tôi không chỉ có bạo lực và Sex”
(e Van.com); “Nguyễn Đình Tú: Văn học lặn vào trông ồn ã” (An Ninh thế
giớ); “Bạn đọc sẽ không chết chìm trong Kín” (e Van.com)… với các bài
phỏng vấn này chúng tôi thấy được quan điểm thể hiện giới trẻ của nhà văn.
Cũng thông qua những bài phỏng vấn này, phần nào chúng ta hiểu được
quan điểm nhìn nhận và tái hiện hiện thực của tác giả.
Có thể thấy, cho đến nay, đã có những bài viết, luận văn về tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu toàn
diện, hệ thống về nhân vật người trẻ tuổi trong tiểu thuyết của nhà văn. Đó
6
cũng là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài Hình tượng giới trẻ trong tiểu
thuyết của Nguyễn Đình Tú làm đề tài Luận văn của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
Hình tượng giới trẻ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
- Hồ sơ một tử tù, Nxb Văn học, Hà Nội, 2011
- Nháp, Nxb Văn học, Hà Nội, 2011.
- Kín, Nxb Tri thức trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhân vật người trẻ tuổi trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
để hiểu hơn cá tính sáng tạo, cái nhìn hiện thực và mặt mạnh của cây bút tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhận diện đặc điểm tính cách, tâm hồn nhân vật người trẻ tuổi trong
tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú.
- Khảo sát các biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật người trẻ tuổi
1.1.1. Bối cảnh xã hội-lịch sử
Năm 1975 chiến tranh kết thúc, Việt Nam trở thành quốc gia độc lập
và thống nhất. Chúng ta đã dành chiến thắng trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất
nước. Sau 30 năm sống chung với tiếng súng và bom đạn, đất nước bước
sang một trang sử mới. Từ đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ
dùng của nhà thơ Hữu Thỉnh) chuyển sang cuộc sống bình thường. Cả dân
tộc bắt đầu một giai đoạn lịch sử mới. Có thể nói bối cảnh lịch sử xã hội
Việt Nam từ sau 1975 đến nay chia thành hai giai đoạn khá rõ nét.
Giai đoạn thứ nhất (1975 - 1986) được xem là giai đoạn hậu chiến và
là quá trình chuẩn bị cho Đổi mới, thời kì đất nước gặp muôn vàn khó khăn,
rơi vào khủng hoảng. Chiến tranh chống Pháp và Mỹ chấm dứt nhưng xung
đột biên giới với Trung Quốc lại nổ ra.Khi đất nước hoàn toàn chấm dứt
tiếng súng,chúng ta đã có nhiều cố gắng trong quyết sách mạnh mẽ, đời sống
nhân dân khởi sắc, sống trong những ngày yên ả, thanh bình... Đáng tiếc là
chúng ta đã duy trì chế độ quan liêu bao cấp quá dài nên đất nước vốn đã kiệt
quệ nay càng kiệt quệ hơn,một đời sống bế tắc, lạc hậu.
Con người Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh với tư cách là người
thắng trận. Niềm vui, niềm tự hào kiêu hãnh luôn có ở trong chúng ta. Người
ta có lẽ đã quá “say sưa” với chiến thắng oanh liệt đó. Hiện thực đời sống
như thế các nhà văn muốn tái hiện, phản anh nhưng ngặt nỗi còn nhiều rào
cản ý thức. Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng bộc lộ tâm trạng của mình
“Trong khi các nhà văn chúng ta say sưa, bây giờ hoà bình vốn sống tích
luỹ bao nhiêu năm như “cá tức trứng” muốn đẻ lắm rồi, thừa nứa ra đó,
9
bom đạn cũng thẳng hết rồi, vật chất cũng khốn đốn hơn nhiều, tha hồ mà
viết, viết cho hết cho đã…” thì đột nhiên cái mối quan hệ vốn rất máu thịt
giữa công chúng và văn học bỗng dưng lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi,
người đọc mới hôm qua còn đồng hành bây giờ chỉ có mình anh trơ trọi.
quả của lao động nghệ thuật”. Văn nghệ phải biết cổ vũ cho cái tốt, phê
phán cái xấu và đặc biệt phải đấu tranh với các khuynh hướng trái với
đường lối của Đảng.Từ tư tưởng tiến bộ này mà văn học Việt Nam đã
bước vào giai đoạn khởi sắc nhất, không chỉ về số lượng mà còn cả chất
lượng, đặc biệt là sự đa dạng trong thể loại, phong phú về đề tài. Hiện
thực cuộc sống không chỉ được khai thác ở bề rộng mà còn cả bề sâu.
1.1.2. Sơ lược về bức tranh tiểu thuyết Việt Nam đương đại (sau 1975)
Văn học thời đại nào thì phản ánh trung thực lịch sử xã hội thời đại ấy.
Trong sự vận động của thể loại, nhìn lại những năm đầu sau giải phóng
(1975-1985) không thể không ghi nhận sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết
gây tiếng vang một thời, như những tín hiệu mở ra một thời kỳ mới trong
văn học. Từ Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Năm 1975 họ đã sống như thế
(Nguyễn Trí Huân), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy)... đến Đứng
trước biển, Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian
của người (Nguyễn Khải), Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn
Kháng)… Đây là những bằng chứng đầy đủ nhất cho thấy sự chuyển đổi tư
duy sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Những tác phẩm kể trên
là những tác phẩm mang tính nền móng dẫn tới sự đổi mới triệt để và quyết
liệt hơn trong cách nhìn hiện thực và thi pháp thể loại. Đây được xem là
những viên gạch đầu tiên cho nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đã có
những chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu
thuyết. Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết - một loại hình
tự sự cỡ lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại...
Nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã có những
chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó tiểu thuyết được
xem là tiên phong trong đóng góp cho nền văn học . Không khí dân chủ của
11
12
sống của con người đã thẩm thấu các tầng ngữ nghĩa. Thành tựu về tiểu
thuyết có thể kể đến: Thời xa vắng, Hai nhà (Lê Lựu), Đám cưới không có
giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bé tý
(Nguyễn Khải), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập, Ngoài khơi
miền đất hứa (Nguyễn Quang Thân), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Trả giá,
Sóng lừng, Cõi mê (Triệu Xuân), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn
chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm
người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ăn mày dĩ vãng, (Chu Lai), Ngày
hoàng đạo (Nguyễn Đình Chính), Một ngày và một đời (Lê Văn Thảo), Lạc
rừng (Trung Trung Đỉnh), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Thời của thánh
thần (Hoàng Minh Tường), Trùng tu (Thái Bá Lợi), Luật đời và cha con
(Nguyễn Bắc Sơn), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Gia đình bé
mọn (Dạ Ngân)... Trong số đó có nhiều tác phẩm nổi lên là những “dự báo
của lương tri” trước một xã hội hiện đại còn nhiều bất an và khiếm khuyết.
Như trên đã nói, dù có những thời điểm nhất định tiểu thuyết rơi vào
thoái trào, nhưng theo quy luật tự thân của sáng tạo văn học, các tiểu thuyết
vẫn liên tục ra đời. Chưa bao giờ như bây giờ, mỗi ngày không chỉ “một
cuốn sách” mà nhiều cuốn sách đã hiện diện trên các giá sách với “bao bì”
bắt mắt. Các thế hệ nhà văn từ U70 đến @ vẫn mải miết sáng tác và không
phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận thời bây giờ là “thời của tiểu
thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp), thời của dân chủ hoá trong sáng tạo và tiếp
nhận. Những nhà văn lão thành như Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Khải,
Mạc Can, Ma Văn Kháng… Những cây bút của thế hệ kế tiếp luôn ý thức về
sự đổi mới trong sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân, chấp nhận hệ số
mạo hiểm cao. Người đọc bắt gặp và nhớ đến hàng loạt tiểu thuyết: Vào cõi,
Những đứa trẻ chết già, Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình Phương), Người đàn
bà trên đảo, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh
Thái), Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Đi tìm nhân
thuyết đã có những tìm tòi, cách tân thể hiện ở một số phương diện: cốt
truyện, nhân vật, ngôn ngữ.
14
1.1.3. Ba thế hệ tác giả trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Khi nói đến thành công của bất kì thể loại văn học nào người ta cũng
thường xem xét đến lực lượng sáng tác của nó. Nhìn vào thực tế lực lượng
sáng tác văn học Việt Nam sau 1975 ở thể loại tiểu thuyết ta có thể thấy có
ba thế hệ tác giả trong giai đoạn này.
Thế hệ thứ nhất: Gồm các nhà văn tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Ma
Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu… Được xác định trong khoảng
thời gian từ 1975 đến 1985, đây là thời kì manh nha của đổi mới. Số đông
các nhà văn vẫn còn “mê mải” với hiện thực chiến tranh, người ta hoài niệm
chiến tranh như là niềm vui niềm tự hào duy nhất. Trong số những nhà văn
trở về sau chiến tranh cũng có một số nhà văn đã có cái nhìn thẳng thắn vào
cuộc sống, họ xem hiện thực đời thường với những vấn đề nổi cộm cần được
đề cập, tái hiện. Thế hệ này tiếp tục sáng tác và có những đóng góp cho giai
đoạn sau. Nguyễn Minh Châu đã đọc “lời ai điếu cho một giai đoạn văn học
minh hoạ” được xem như một sự thay đổi trong nhân thức về vai trò nhà văn
trong thời đại mới.
Thế hệ thứ hai: Hàng loạt tên tuổi ra đời và phát triển tạo nên một thời
kì tiểu thuyết phát triển rực rỡ: Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Quang Lập, , Dương Hướng, Tạ Duy Anh… Giai đoạn mở đầu cho
thời kì đổi mới (1986-1992), nhà văn được “cởi trói”, được nói những điều
mình thấy, được viết những điều mình nghĩ. Muôn mặt con người được thể
hiện, hiện thực cuộc sống đa chiều, đa diện hơn, nằm trong quy luật ấy tiểu
thuyết phát triển rầm rộ. các tiểu thuyết thời kì này đã có cái nhìn khá đổi
mới về hiện thực đời sống. Đặc biệt cái nhìn về chiến tranh đã thay đổi,
quân đội, hiện là Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội, Hội viên
Hội Nhà văn Việt Nam (2014). Nguyễn Đình Tú khởi nghiệp viết văn khi
còn là sinh viên trường Luật và bước đầu đã gặt hái thành công, anh được
tặng giải thưởng truyện ngắn của Báo Tiền Phong vào năm 1995. Sau đó là
các giải thưởng: Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1999;
Giải thưởng tiểu thuyết Nxb Công an nhân dân phối hợp với Hội Nhà văn
16
Việt Nam, 2002; Giải thưởng văn học 10 năm Bộ Công an; Giải thưởng văn
học 5 năm Bộ Quốc phòng. Tên tuổi của Nguyễn Đình Tú trên văn đàn thực
sự được khẳng định với ba tập truyện: Bên bờ những dòng chảy (2001);
Không thể nào khác được (2002) và Nỗi ám ảnh khôn nguôi (2003). Hơn thế
dấu ấn nhà văn trẻ này còn thể hiện trong quá trình sáng tác tiểu thuyết: Hồ
Sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện (2005), Nháp (2008), Phiên Bản
(2009), Kín (2010), Hoang tâm (2013), Xác phàm (2014)… Sự ra đời một
cách đều đặn tác phẩm của mình có thể thấy anh là con người sung lực, cần
mẫn và nhiệt huyết. So với các nhà văn cùng thế hệ 7X thì thấy rõ Nguyễn
Đình Tú là nhà văn đi theo văn nghiệp từ rất sớm và nhanh chóng khẳng
định được chỗ đứng của mình. Điều mà với nghề văn không phải ai cũng có
được may mắn đó.
Nhìn vào quá trình sáng tác cho thấy, Nguyễn Đình Tú nổi tiếng ban
đầu nhờ vào truyện ngắn nhưng anh lại không thỏa mãn với thể loại này. Có
thể là sự tác động mang tính thời sự khi có một nhà văn đã thành danh nhờ
viết truyện ngắn, nay quay lại khẩn thiết kêu gọi các nhà văn trẻ nhất quyết
phải viết tiểu thuyết, vì truyện ngắn chỉ là một “lát cắt” của cuộc sống trong
lúc tiểu thuyết là một “trường thiên” đầy đủ về cuộc đời. Người ta có lí hơn
khi thấy thể loại này đủ sức, đủ tầm để thể hiện sự ngổn ngang, đa chiều của
cuộc sống đương đại xô bồ. Đó là sự thôi thúc từ bên trong của người cầm
bút - tiểu thuyết là hình thức nghệ thuật hữu hiệu nhất để khái quát hóa nghệ
một trong những nhà văn hiếm hoi thành công ở nhiều thể loại: truyện ngắn,
tiểu thuyết, báo chí, truyện thiếu nhi… ở mỗi thể loại anh đều để lại những
dấu ấn riêng biệt cho mình.
Truyện ngắn Nguyễn Đình Tú được biết đến qua những truyện tiêu
biểu như: Những chàng trai sống cùng hoa săng đắng; Qua sông; Bên bờ
những dòng chảy; Chuông ngăn cửa phủ; Tiếng thở thời gian; Điệu mambo
hư ảo; Mong manh cuộc đời…Nhìn chung truyện ngắn của Nguyễn Đình Tú
luôn có “hơi hướng tiểu thuyết ngọ nguậy bên trong” (Chu Lai). Cốt truyện
luôn tiềm ẩn trong mình những dấu hiệu cho phép chúng vùng vẫy, phá
toang “khuôn mẫu” của truyện ngắn với dung lương như “lát cắt cuộc sống”.
18
Dấu hiệu đầu tiên chúng ta nhận thấy điều này là ở đề tài. Các mảng đề tài
được anh đặc biệt khai thác là chiến tranh và người lính, đây là mảng đề tài
có biên độ lớn. Các truyện ngắn nổi tiếng với các đề tài này như Cánh rừng
không yên ả; Đất quê cha; Câu chuyện ngày chủ nhật; Võ công binh nhì…
Sự giao thoa giữa truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú còn bộc lộ
ở cấu trúc tác phẩm. Cách thể hiện truyện trong truyện với nhiều mảnh đời,
cảnh ngộ phối hợp, xen lẫn nhau. Người ta đã bàn về mô hình xương cá
trong truyện ngắn của anh đó là cách sắp xếp, bám dựa vào một tư tưởng
chính đóng vai trò trục xương và sắp xếp các câu chuyện khác tương đối độc
lập. Các truyện liên kết với nhau để làm sáng tỏ tư tưởng của cốt truyện và
thực hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả. Cánh rừng không yên ả là một tập hợp
gồm bốn câu chuyện ngắn kể về bốn con người họ mãi mãi là đồng đội của
nhau. Chiến tranh dù đã đi qua và bốn người họ có bốn số phận khác nhau,
người nằm dưới lớp cỏ xanh, người đã xuất gia quy y, người thành doanh
nhân thành đạt, người nguyện gắn bó cả đời với quân ngũ. Cuộc đời họ cứ
thế trôi nổi theo những năm tháng dài. Để rồi khi đã luống tuổi về già, họ
gặp lại nhau ở chiến trường xưa - công trường ngày nay với bao buồn, vui,
của Nguyễn Đình Tú: Thứ nhất là miêu tả thiên nhiên tả cảnh nhưng không
gợi, không sinh động, uyển chuyển, những câu văn của Nguyễn Đình Tú chỉ
ở mức “trung bình” theo kiểu câu kể hoặc câu tường thuật đơn thuần. Hai là
tác giả thường rơi vào trạng thái “bất ổn” mỗi lần miêu tả trạng thái tâm linh
huyền bí. Độ “huyền ảo” cần thiết thì tác giả không đạt đến. Ba là thủ pháp
độc thoại nội tâm không được nhà văn đẩy lên đến tận cùng dù anh rất hay
sử dụng. Như vậy, truyện ngắn của Nguyễn Đình Tú bên cạnh những thành
tựu về đề tài, bút pháp hay biên độ câu chuyện thì vẫn còn nhiều hạn chế bộc
lộ. Điều quan trọng là chúng ta luôn nhận thấy sự chân thành, nghiêm túc
trong nghiệp cầm bút của nhà văn thật đáng trân trọng.
Tiểu thuyết được xem là thành công nhất của Nguyễn Đình Tú. Cho
đến nay, nhà văn trẻ này đã kịp để lại dấu ấn của mình trong tiểu thuyết
đương đại ở hai lĩnh vực đó là số lượng tác phẩm đồ sộ và đề tài độc đáo.
Năm 26 tuổi, anh trình làng cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù. Từ đó
20
đến nay, bên cạnh các tập truyện ngắn xuất hiện khá ấn tượng, anh đã lần
lượt mang đến cho bạn đọc bảy cuốn tiểu thuyết. Nhìn chung tiểu thuyết của
Nguyễn Đình Tú xoay quanh hai đề tài chủ yếu đó là chiến tranh và giới
trẻ tội phạm. Cách nhìn chiến tranh của tác giả đã có nhiều sự đổi thay so
với thế hệ tiền bối. Hiện thực chiến tranh được nhìn nhận đa chiều, đa
diện hơn, đó là cái nhìn về hậu quả chiến tranh. Đặc biệt là suy nghĩ của
những người trong cuộc của cả hai phía, sự gặp gỡ của các tư tưởng nhân
văn trong nhìn nhận những mất mát đau thương trong cuộc chiến. Chiến
tranh không chỉ có những điều lớn lao, kì vĩ được lựa chọn, không chỉ
những anh hùng nơi chiến trận được thể hiện mà là những suy nghĩ rất đời
thường nhỏ nhặt cũng cần được nhìn nhận đề có cái nhìn tổng quát nhất về
nó. Nét độc đáo ở các tiểu thuyết này là cách khai thác đề tài của tác giả.
Tác giả thường đặt nhân vật của mình ở thời hiện tai quay về tìm lại quá
Nhìn vào số lượng tác phẩm của nhà văn Nguyễn Đình Tú thì những
người yêu mến văn học không khỏi ngạc nhiên. Tuổi đời của Nguyễn
Đình Tú còn khá trẻ , anh thuộc thế hệ 7X nhưng một số lượng tác phẩm
đồ sộ và đều đặn được ra đời. Gia sản mà văn học Việt Nam có được từ
nhà văn Nguyễn Đình Tú là ba tập truyện ngắn: Bên bờ những dòng chảy
(2001), Không thể nào khác được (2002) và Nỗi ám ảnh khôn nguôi
(2003); bảy tiểu thuyết: Hồ Sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện
(2005), Nháp(2008), Phiên bản (2009), Kín (2010), Hoang tâm (2013),
Xác phàm (2014). Ngòi bút của Nguyễn Đình Tú, có những sáng tạo riêng,
mặc dầu chưa đạt đến phong cách điển hình nhưng vẫn có những cá tính
cần ghi nhận. Điều đầu tiên chúng tôi nhận thấy ở phương pháp sáng tạo
tiểu thuyết của anh là sự tạo ra đa tuyến kể chuyện. Các tuyến kể chuyện
song hành, lắp ghép tạo nên sự đứt mạch gây hấp dẫn, tò mò cho người
đọc. Tiểu thuyết Kín được viết theo một cấu trúc khá lạ hai tuyến quá khứ
và hiện tại của Quỳnh song song thể hiện. Quá trình Quỳnh sinh ra và lớn
lên trong quan hệ với tín ngưỡng thờ Mẫu, những biến đổi lớn trong xã
hội mà bố mẹ Quỳnh đang sống cùng những hiểm hoạ khôn lường của
cuộc đời. Cháy chợ, bụi đời, tranh dành lãnh địa của bọn đầu gấu đã đẩy
22
những con người lương thiện, ngây thơ đến bước đường cùng. Bên cạnh
tuyến truyện này là dòng kí ức, sự hồi tưởng quá khứ của Quỳnh. Đứng từ
góc nhìn của một tiểu thư con nhà đài các, giàu sang, Quỳnh đã bế tắc
trong hướng bước tiếp cuộc đời. Nguyễn Đình Tú đã tạo dấu ấn của mình
thông qua cấu trúc tiểu thuyết lạ và độc này. Kết cấu truyện theo hướng
đương đại có sự kết hợp của hiện thực và huyền ảo, giữa quá khứ và hiện
tại. Tất cả đồng hiện ở cuối tác phẩm là một con người méo mó về nhân
cách và khát khao tìm hướng đi mới cho bản thân.Với nhà văn Nguyễn
Đình Tú mỗi tác phẩm là một kết cấu mang đậm phong cách của một con