BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHAN PHƯƠNG LOAN
ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ
ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN
Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHAN PHƯƠNG LOAN
ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ
ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN
Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. PHẠM THANH LIÊM
Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Xin ghi nhận và cảm ơn tất cả mọi ngƣời đã giúp đỡ, động viên và chia sẻ
để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!
i
TÓM TẮT
Nghiên cứu “Đặc điểm thành thục sinh dục và ứng dụng hormon steroid
trong sinh sản nhân tạo cá rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)” đƣợc
thực hiện tại Khoa Thuỷ Sản, Trƣờng Đại học Cần Thơ và Khoa Nông Nghiệp
- Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trƣờng Đại học An Giang trong thời gian từ năm
2011-2014. Mục tiêu của luận án là nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và
các chỉ tiêu sinh lý của cá rô biển, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy
trình sản xuất giống nhân tạo đối tƣợng này; đồng thời so sánh tác dụng và xác
định loại, liều lƣợng các hormon steroid (17,20P; 17P và P) với chất kích thích
sinh sản thông thƣờng (HCG và LRH-A+DOM) trong sinh sản nhân tạo cá rô
biển.
Mẫu cá rô biển dùng để nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản đƣợc thu
ngoài tự nhiên dọc theo tuyến sông Hậu thuộc địa bàn Tỉnh An Giang. Cá
đƣợc đánh bắt từ các đống chà và với các ngƣ cụ nhƣ cào, dớn, lƣới bén, lú…
của ngƣ dân. Mẫu cá cũng đƣợc thu tại các điểm chợ trên địa bàn. Định kỳ thu
mẫu một lần/tháng và thu khoảng 30 cá thể ở các cỡ khác nhau trong suốt 12
tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cá rô biển bắt đầu thành thục sinh dục khi
đạt chiều dài 11,68 cm. Tỷ lệ đực:cái trong mẫu cá rô biển thu ở địa bàn tỉnh
An Giang là 1:1,58. Hệ số thành thục của cá rô biển cái vào mùa sinh sản cao
nhất đạt 14,68% và ở cá rô biển đực là 4,75%. Mùa vụ sinh sản của cá rô biển
chủ yếu tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8 dƣơng lịch. Sức sinh sản tƣơng đối
ôxy hòa tan từ 5 ppm trở lên thì thời gian phát triển phôi của cá từ 13-14 giờ.
Cá mới nở có chiều dài trung bình 1,84±0,02 mm. Thời gian cá dinh dƣỡng
bằng noãn hoàng là 72 giờ; sau khi hết noãn hoàng, cá có chiều dài trung bình
3,17±0,08 mm, cỡ miệng ở 90o là 382,96±56,53 µm. Ống tiêu hoá của cá rô
biển có thể phân biệt đƣợc xoang miệng, thực quản, dạ dày và ruột khi cá đƣợc
3 ngày tuổi và ống tiêu hóa phát triển hoàn chỉnh giống cá trƣởng thành ở thời
điểm 20 ngày tuổi.
Nhiệt độ dƣới và trên gây chết cá rô biển lần lƣợt là 15,2-15,7oC và 40,342,9oC; ngƣỡng ôxy và tiêu hao oxygen của cá rô biển có xu hƣớng giảm dần
theo ngày tuổi, ngƣỡng ôxy và tiêu hao oxygen dao động trong khoảng từ 0,80
mg O2/L và 2,34 mg O2/g.giờ (cá 1 ngày tuổi) đến 0,54 mg O2/L và 0,26 mg
O2/g.giờ (cá 30 ngày tuổi). pH cao và thấp gây chết cá rô biển nằm trong
khoảng 9,0-9,6 và 3,0-3,4. Độ mặn gây chết của cá rô biển nằm trong khoảng
11,1-11,8‰.
iii
ABSTRACT
Study on the "Characteristics of sexual maturity and application of
steroid hormones in artificial propagation of Malayan leaffish Pristolepis
fasciata (Bleeker, 1851)" was carried out at the College of Aquaculture and
Fisheries - Can Tho University and the College of Agriculture and Natural
Resources - An Giang University from 2011 to 2014. Main objectives of the
study were to investigate the biologically reproductive characteristics and
physiological parameters in order to provide basic scientific data for
establishing the procedure of artificial seed production of Malayan leaffish, as
well as to find out suitable method and dosage of steroid hormones (17,20P,
17P and P) in comparison with traditional reproductive stimulants (HCG and
LRH-A+DOM) for induced spawning the fish.
Malayan leaffish used for biologically reproductive study was collected
steroid hormones namely 17.20P, 17P and P was carried out on matured
female fish (stage IV of gonad development) having body weight of 50-100 g
reared in captive conditions. The females were injected with 17.20P (3, 4, 5
mg/kg), 17P (7, 10, 15 mg/kg), and P (10, 15, 20 mg/kg), respectively. Results
revealed that all three types of steroid C21 hormones could induce FOM; of
which 17,20P showed highest effectiveness at the dose of 5 mg/kg; 17P at the
dose of 10 mg/kg; and P at the dose of 15 mg/kg with a FOM rate of 92.22%,
75.55% and 73.33%, respectively. The study also pointed out that successfully
induced spawning by using 17.20P, 17P or P after a preliminary injection of
HCG or LRH-A+DOM was achieved and satisfied practical production
requirements. Particularly, the dose of 5 mg/kg of 17.20P was the most
effectiveness among steroid treatments with an ovulation rate of 86.67%.
The early ontogeny of P. fasciata showed that embryonic development
took place about 13-14 hours at water temperature of 27-31oC, pH of 6.8-7.0
and dissolved oxygen concentration of 5 ppm or higher. Newly hatched larvae
were 1.84±0.02 mm in body length. Within 72 hours after hatching, larvae
reached 3.17±0.08 mm in mean body length; mouth gape (at angle of 90o) was
382.96±56.53 µm; and yolk was completely consumed. Three days post
hatching, four parts of digestive tract could be distinguished as buccal
pharynx, oesophagus, stomach and intestine. The digestive tract reached full
function at the day of 20th post hatching.
Lower and upper lethal temperatures of P. fasciata were 15.2-15.7oC and
40.3-42.9oC, respectively. There was a negative relationship between
dissolved oxygen threshold and oxygen consumption, and age. Dissolved
oxygen threshold was of 0.80-0.54 mg /L and dissolved oxygen consumption
was of 2.34 mg /g.h (1-day old fish) to 0.26 mg /g.h (30-day old fish). Low
and high lethal pH values of the fish were 9.0-9.6 and 3.0-3.4, respectively.
Lethal salinity of the fish was 11.1-11.8‰.
v
1.3 Nội dung nghiên cứu
3
1.4 Ý nghĩa của luận án
3
1.5 Những điểm mới của luận án
4
Chƣơng 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
5
2.1 Sinh học cá rô biển
5
2.1.1 Hình thái phân loại
5
2.1.2 Phân bố
6
2.1.3 Tập tính dinh dƣỡng
6
2.1.4 Đặc điểm sinh trƣởng
7
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
7
2.2 Quá trình phát sinh noãn hoàng (Vitellogenesis)
7
2.3 Vai trò của thức ăn trong nuôi vỗ thành thục sinh dục cá
11
2.4 Vấn đề sử dụng chất kích thích trong sinh sản nhân tạo cá
13
2.4.1 Cơ chế hormon kiểm soát quá trình tạo trứng ở cá cái
13
2.4.2 Nguyên lý chung về kích thích sinh sản ở cá
16
3.3.1.2 Các chỉ tiêu phân tích
45
3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh sản cá rô biển
47
3.3.2.1 Phƣơng pháp thu mẫu
47
3.3.2.2 Các chỉ tiêu phân tích
48
viii
3.3.3 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục sinh dục cá rô biển bằng các loại thức ăn
khác nhau
48
3.3.3.1 Hệ thống thí nghiệm
48
3.3.3.2 Cá dùng trong thí nghiệm
49
3.3.3.3 Bố trí thí nghiệm
50
3.3.3.4 Cho ăn và chăm sóc
50
3.3.3.5 Các chỉ tiêu phân tích
50
3.3.4 Nghiên cứu xác định loại, liều lƣợng, phƣơng pháp tiêm hormon steroid
kích thích cá rô biển chín và rụng trứng
52
3.3.4.1 Cá thí nghiệm
52
3.3.4.2 Các loại hormon sử dụng trong nghiên cứu
69
4.1.4 Sự biến đổi giai đoạn thành thục sinh dục cá rô biển đực và cái qua các
tháng thu mẫu
70
4.1.4.1 Sự quan hệ giữa giai đoạn thành thục sinh dục và kích thƣớc cá cái
theo thời gian
70
4.1.4.2 Sự biến đổi giai đoạn thành thục sinh dục cá cái theo thời gian 72
4.1.4.3 Sự quan hệ giữa giai đoạn thành thục sinh dục và kích thƣớc cá đực
theo thời gian
73
4.1.4.4 Sự biến đổi giai đoạn thành thục sinh dục cá đực theo thời gian 75
4.1.5 Sự biến đổi hệ số thành thục (GSI) của cá rô biển cái và đực qua các
tháng thu mẫu
77
4.1.6 Chiều dài thành thục lần đầu của cá rô biển
78
ix
4.1.7 Sức sinh sản và sự biến đổi đƣờng kính trứng của cá rô biển
79
4.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của cá rô biển
82
4.2.1 Mối tƣơng quan giữa khối lƣợng và chiều dài
82
4.2.2 Biến đổi tỷ lệ huyết cầu (Hematocrit), số lƣợng hồng cầu và thể tích
trung bình hồng cầu (MCV) theo các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
cá rô biển
84
4.3.4 Quá trình phát triển phôi, thời gian cá dinh dƣỡng bằng noãn hoàng, kích
cỡ miệng và chiều dài cá
109
4.3.4.1 Quá trình phát triển phôi của cá rô biển
109
4.3.4.2 Thời gian cá dinh dƣỡng bằng noãn hoàng
111
4.3.4.3 Kích cỡ miệng và chiều dài cá
112
4.4.4 Sự phát triển ống tiêu hoá của cá rô biển giai đoạn ấu trùng đến 30 ngày
tuổi
114
4.4.4.1 Sự phát triển về hình thái ống tiêu hoá
114
4.4.4.2 Biến đổi về mô học trong quá trình phát triển của ống tiêu hoá 116
4.4.5 Khả năng chịu đựng của cá giai đoạn ấu trùng đến 30 ngày tuổi đối với
một số yếu tố môi trƣờng
125
4.4.5.1 Nhiệt độ cao và thấp gây chết cá
125
4.4.5.2 Ngƣỡng ôxy và tiêu hao ôxygen
125
x
4.4.5.3 pH cao và thấp gây chết cá
4.4.5.4 Độ mặn gây chết cá
Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
5.1 Kết luận
5.2 Đề xuất
liều sơ bộ bằng HCG
57
Bảng 3.7 Thí nghiệm kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P, 17P và P sau
liều sơ bộ bằng LRH-A3+DOM
57
Bảng 4.1 Tỷ lệ (%) cá đực và cái cá rô biển qua các tháng thu mẫu
65
Bảng 4.2 Tỷ lệ (%) chiều dài tổng cộng của cá rô biển cái theo giai đoạn thành
thục sinh dục qua các tháng thu mẫu
71
Bảng 4.3 Tỷ lệ (%) chiều dài tổng cộng của cá rô biển đực theo giai đoạn thành
thục sinh dục qua các tháng thu mẫu
74
Bảng 4.4 Tỷ lệ huyết cầu, số lƣợng hồng cầu và thể tích trung bình hồng cầu ở
các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục khác nhau của cá rô biển cái
84
Bảng 4.5 Tỷ lệ huyết cầu, số lƣợng hồng cầu và thể tích trung bình hồng cầu ở
các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục khác nhau của cá rô biển đực.
84
Bảng 4.6 Hàm lƣợng protein cơ và gan ở các giai đoạn phát triển tuyến sinh
dục khác nhau của cá rô biển cái
87
Bảng 4.7 Hàm lƣợng protein cơ và gan ở các giai đoạn phát triển tuyến sinh
dục khác nhau của cá rô biển đực
88
Bảng 4.8 Hàm lƣợng Vitellogenin ở các giai đoạn tuyến sinh dục cá rô biển
cái
90
Bảng 4.9 Biến động các yếu tố thuỷ lý hoá trong quá trình nuôi vỗ
91
126
xiii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình thái cá rô biển
5
Hình 2.2 Sơ đồ cơ chế hormon điều khiển sự phát sinh noãn hoàng ở cá
8
Hình 2.3 Cơ chế hormon kiểm soát quá trình phát sinh noãn hoàng ở cá cái
14
Hình 2.4 Cơ chế hormon kiểm soát quá trình thành thục ở cá cái
15
Hình 2.5 Sơ đồ Trục não bộ - tuyến yên - buồng trứng với những hoạt chất tự
nhiên (bên trái) và những chất ngoại sinh (bên phải) có thể gây nên sự chín noãn
bào và sự đẻ trứng ở cá cái
17
Hình 2.6 Các noãn bào của cá ngựa vằn Danio rerio không chín (cột bên trái), đã
chín (cột giữa) và đã rụng (cột bên phải) dƣới tác động của các hormone steroid và
chất ức chế
27
Hình 2.7 Các chồi vị giác hình thành trên hàm trên (A) và vòm miệng (B) cá ngừ
vây xanh Thunnus orientalis
42
Hình 3.1 Thu mẫu máu cá rô biển
47
Hình 3.2 Buồng đếm máu Neubauer
48
Hình 4.12 Tƣơng quan giữa sức sinh sản và khối lƣợng cơ thể cá rô biển cái
80
Hình 4.13 Tƣơng quan giữa sức sinh sản và khối lƣợng buồng trứng cá rô biển cái
81
Hình 4.14 Tƣơng quan gữa khối lƣợng (W) và chiều dài (L) cá rô biển cái
82
Hình 4.15 Tƣơng quan gữa khối lƣợng (W) và chiều dài (L) cá rô biển đực
83
xiv
Hình 4.16 Đƣờng kính noãn bào trƣớc và sau khi tiêm hormon P
98
Hình 4.17 Đƣờng kính noãn bào trƣớc và sau khi tiêm hormon 17P
99
Hình 4.18 Đƣờng kính noãn bào trƣớc và sau khi tiêm hormon 17,20P
100
Hình 4.19 Noãn bào chƣa chín với túi mầm chƣa tan biến (trái) và noãn bào chín
với túi mầm đã tan biến (phải)
101
Hình 4.20 Tỷ lệ noãn bào tiêu biến nhân ở cá đƣợc tiêm các hormon steroid với
các liều khác nhau
101
Hình 4.21 Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột khi sinh sản bằng
hormon steroid sau liều sơ bộ bằng HCG.
105
Hình 4.22 Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột khi sinh sản bằng
hormon steroid sau liều sơ bộ bằng LRH-A3+DOM
108
Hình 4.23 Các giai đoạn phát triển phôi của cá rô biển
Hình 4.39 Hình cắt ngang ống tiêu hóa ở cá rô biển 9 ngày tuổi
124
Hình 4.40 Trực tràng cắt ngang ở cá rô biển 9 ngày tuổi
124
xv
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL
Đồng bằng song Cửu Long
17P
17α-hydroxyprogesterone
17,20P
17α,20β-dihydroxyprogesterone
CKTSS
chất kích thích sinh sản
DA
dopamine
DOC
GĐTT
giai đoạn thành thục
GSI
gonadosomatic index (hệ số thành thục)
GnRH
gonadotropin-releasing hormone (hormon giải phóng kích dục tố)
GnRH-A
gonadotropin-releasing hormone analogue (chất đồng dạng của GnRH)
mGnRH-A
mammal GnRH-A (chất đồng dạng của GnRH động vật hữu nhũ)
sGnRH-A
salmon GnRH-A (chất đồng dạng của GnRH cá hồi)
GRIF
gonadotropin releasing inhibiting factor (yếu tố ức chế giải phóng kích
dục tố)
xvi
LHRH-A
luteinizing hormone-releasing hormone analogue (chất đồng dạng của
LHRH)
MIH
maturation-inducing hormone (hormon gây chín)
MIS
maturation-inducing steroid (steroid gây chín)
MPF
maturation-promoting factor (yếu tố thúc đẩy chín)
NT
nghiệm thức
P
progesterone
PMS
mới có năng suất cao nhưng vẫn bảo vệ được nguồn lợi các loài bản địa
(Nguyễn Quang Linh, 2011).
Ngày nay, nuôi trồng thủy sản nước ta cũng đang đối mặt với tình hình
biến đổi khí hậu làm cho trái đất ấm dần lên và mực nước biển dâng cao dẫn
đến tình trạng xâm nhập mặn trong các sông ở Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) ngày càng sâu và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nuôi trồng
thuỷ sản nước ngọt. Chính vì vậy, việc phát triển đối tượng nuôi mới phù hợp
với tình hình ―mặn hóa‖ các nguồn nước ngọt hiện nay cũng là một trong
những giải pháp thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu. Trong các năm qua,
ngành thủy sản nước ta đã có nhiều nghiên cứu để phát triển các loài thủy sản
nuôi mới, trong đó có các loài cá bản địa có triển vọng về kinh tế (Huỳnh Kim
Anh, 2013).
Cá rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851) là loài cá bản địa đặc
trưng của miền Nam, Việt Nam. Đây là loài rộng muối, phân bố cả trong nước
ngọt và lợ. Người nội trợ ở ĐBSCL thích chọn cá rô biển cho các bữa ăn hàng
ngày vì cá có phẩm chất thịt ngon, không có xương giăm. Tuy nhiên, trong vài
năm gần đây đối tượng này ngày càng trở nên khan hiếm do tình trạng lạm
dụng khai thác của ngư dân nên không đủ đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng. Giá bán hiện tại trên thị trường của cá rô biển khá cao, từ 120.000150.000 đồng/kg ở kích cỡ 10-12 con/kg (Phan Phương Loan, 2014). Chính vì
vậy, cá rô biển sẽ là đối tượng rất có tiềm năng để phát triển nuôi trong các hệ
thống nuôi trồng thủy sản khắp cả nước trong điều kiện hiện nay.
Để có thể đưa cá rô biển trở thành đối tượng nuôi quan trọng trong tương
lai thì việc sản xuất ra con giống nhân tạo đủ về số lượng và tốt về chất lượng
là yêu cầu đầu tiên. Hiện nay, các công trình nghiên cứu về cá rô biển được
công bố còn rất hạn chế, chủ yếu về mô tả đặc điểm hình thái và phân loại
(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Rainboth, 1996; Fisbase,
2014). Để phát triển nuôi cá rô biển trong tương lai thì cần có nhiều nghiên cứu
1
hormon steroid trong sinh sản nhân tạo cá rô biển Pristolepis fasciata
(Bleeker, 1851)” được thực hiện.
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Bổ sung dữ liệu khoa học về các đặc điểm sinh học của cá rô biển, về khả
năng gây chín và rụng trứng của hormon steroid trên cá rô biển, cung cấp cơ
sở lý luận để phát triển quy trình sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm
cá rô biển; từ đó góp phần đa dạng hóa đối tượng cá nuôi cho vùng Đồng bằng
sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung.
Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và các chỉ tiêu sinh lý của cá rô
biển làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo
đối tượng này.
- So sánh tác dụng các hormon steroid (17,20P, 17P và P) với chất kích
thích sinh sản thông thường (HCG và LHRHa+DOM) và xác định loại, liều
lượng các hormon steroid trong kích thích sinh sản nhân tạo cá rô biển.
1.3 Nội dung nghiên cứu
1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá rô biển.
2. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý của cá rô biển.
3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ lên sự thành thục sinh dục
của cá rô biển.
4. Nghiên cứu xác định loại, liều lượng, phương pháp tiêm thích hợp
hormon steroid kích thích cá rô biển chín và rụng trứng.
5. Nghiên cứu sự phát triển của cá rô biển từ giai đoạn phôi đến 30 ngày
tuổi bao gồm: quá trình phát triển phôi; sự phát triển ống tiêu hóa; xác định
một số chỉ tiêu sinh lý như ngưỡng ôxy và cường độ tiêu hao ôxygen, nhiệt độ,
ăn hoàn toàn là cá tạp, hoàn toàn là thức ăn công nghiệp 35% CP, hoặc kết hợp
giữa thức ăn công nghiệp với cá tạp (tỷ lệ 50/50).
- Đã nghiên cứu sử dụng thành công 3 loại steroid là 17,20P; 17P và P để
kích thích cá rô biển sinh sản, trong đó 17,20P có hiệu quả cao nhất ở liều 5
mg, 17P ở liều 10 mg và P ở liều 15 mg trên 1 kg cá cái; việc sử dụng các
hormon steroid này trên cá rô biển là hoàn toàn mới.
- Bên cạnh đó, luận án xác định được thời gian ấu trùng cá rô biển hoàn
thiện quá trình phát triển ống tiêu hoá giống cá trưởng thành khi cá được 20
ngày tuổi; cũng như thời điểm cá ăn thức ăn bên ngoài vào ngày tuổi thứ ba,
lúc này noãn hoàng chỉ còn một khối nhỏ. Những kết quả này góp phần quan
trọng trong việc ương giống thành công đối tượng này.
4
Chƣơng 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sinh học cá rô biển
2.1.1 Hình thái phân loại
Theo Rainboth (1996); Fishbase (2014) và Itis (2014) cá rô biển có vị trí
phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Nandidae
Giống: Pristolepis
Loài: Pristolepis fasciata Bleeker, 1851
Cá rô biển có tên tiếng Anh là Malayan leaffish (Fishbase, 2014).
Hình 2.1 Hình thái cá rô biển.
Cá rô biển có đầu lớn vừa, dẹp bên. Mõm ngắn, nhọn. Miệng giữa, rộng
1999).
Cá rô biển là loài cá nước ngọt, có thể sống trong nước lợ, có đặc tính
sống đáy, thường bắt gặp ở thủy vực nước chảy chậm hoặc nước tĩnh; chúng
sống ở các bụi rậm, nơi có nhiều chà, thực vật thủy sinh; pH từ 7,0-8,5; độ
cứng 80-160 ppm, nhiệt độ từ 23-28oC (Baensch and Riehl, 1991; Kottelat et
al., 1993; Kottelat, 1998; Riede, 2004). Ở Việt Nam, ấu trùng và cá nhỏ được
tìm thấy ở cả sông Tiền và sông Hậu (Nguyen et al., 2002; trích từ Baran et
al., 2007).
2.1.3 Tập tính dinh dƣỡng
Theo Nikolsky (1963), có sự tương quan giữa chiều dài ruột và tính ăn
của cá. Chiều dài tương đối của ruột (relative length of gut, RLG) là tỉ lệ giữa
chiều dài ruột và chiều dài cơ thể (Li/Ls). Theo nhận định của Nikolsky
(1963), những loài cá có tính ăn động vật sẽ có RLG <1; cá ăn tạp có RLG =13 và ăn thực vật thì RLG>3. RLG của cá rô biển là 1,96 (Wongtirawatana,
1981). Điều này cho thấy, cá rô biển là loài ăn tạp. Thành phần thức ăn được
tìm thấy trong dạ dày cá rô biển là thực vật ở hình thức các loài tảo dạng sợi,
các loài côn trùng và giáp xác, động vật thân mềm (Rainboth, 1996). Trong đó
6