Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thúc đẩy phát triển bền vững tại tây nguyên - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN THỊ LOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TẠI TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN THỊ LOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TẠI TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Mã số: Đào tạo thí điểm
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KH: PGS. Phạm Ngọc Thanh


* Kết luận Chƣơng 1 .................................................................................. 29
CHƢƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY NGUYÊN ................... 30
1


2.1. Tổng quan về Tây Nguyên ................................................................. 30
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên ..................................... 30
2.1.2. Kinh tế và xã hội ............................................................................. 32
2.1.3. Môi trường và an ninh quốc phòng ................................................ 38
2.2. Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Tây Nguyên
giai đoạn 2006 – 2013 ................................................................................. 41
2.2.1. Hệ thống các chính sách xóa đói giảm nghèo ................................ 41
2.2.2. Kết quả việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ................. 43
2.2.3. Những tồn tại việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ........ 49
2.3. Tác động của việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đối với
các lĩnh vực khác nhau trong quá trình phát triển bền vững ở Tây
Nguyên ......................................................................................................... 51
2.3.1. Tác động của việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đối với
chính trị ..................................................................................................... 51
2.3.2. Tác động của chính sách xoá đói giảm nghèo đối với phát triển
kinh tế ........................................................................................................ 56
2.3.3. Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đối với phát triển xã
hội, văn hóa ............................................................................................... 68
2.3.4 Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đối với môi trường ..... 77
2.3.5. Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đối với đảm bảo an
ninh - quốc phòng ..................................................................................... 81
* Kết luận Chƣơng 2 .................................................................................. 86
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TÂY NGUYÊN ..... 87

sinh xã hội, sớm đưa nông thôn Tây Nguyên thoát ra khỏi tình trạng nghèo
nàn, lạc hậu, tiến tới phát triển bền vững. Việc phát triển bền vững tại Tây
Nguyên là điều mà Đảng và nhà nước ta hiện nay rất quan tâm. Các chính
sách xóa đói giảm nghèo hiện nay đang được thực hiện tại Tây Nguyên nhằm
nâng cao đời sống cũng như nhận thức của người dân nơi đây để phát triển
kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng cho vùng đất này. Các chính
sách đã được triển khai khá nhiều và mang lại hiệu quả nhất định. Việc thực
hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đã và đang tác động tới quá trình phát
triển bền vững tại Tây Nguyên hiện nay. Việc phát triển bền vững là điều mà
chúng ta đang hướng tới trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước hiện nay. Để có thể thực hiện được sự phát triển bền vững thì không chỉ
nói là làm được là làm được ngay mà nó là cân bằng giữa sự phát triển, phát
triển vượt bậc và phát triển bền vững. Chúng ta cần phải quan tâm vì nhiều
khi thực hiện một chính sách cụ thể sẽ vô tình tác động tiêu cực tới việc phát
triển bền vững. Việc thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo tác động
thúc đẩy rất nhiều tới việc phát triển bền vững nhưng nếu thực hiện sai lệch đi
sẽ có những tác động tiêu cực, phá hoại việc phát triển bền vững của vùng,
của đất nước. Trong nội dung luận văn của tôi sẽ đề cập tới việc thực hiện
chính sách xóa đói giảm nghèo nhằm thúc đẩy phát triển bền vững vùng Tây
Nguyên.

4


2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về chính sách xóa đói giảm nghèo, và phát triển bền vững ở
Tây Nguyên đã có một số tác giả nghiên cứu một số khía cạnh về chính sách
xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững như sau:
Bài viết “Phát triển xã hội bền vững gắn với giải quyết một số vấn đề
cơ bản ở Tây Nguyên” của TS. Nguyễn Văn Chiều trong “kỷ yếu hội thảo

hội thảo khoa học phát triển xã hội và quản lý xã hội ở Tây Nguyên lí luận và
thực tiễn - Đề tài TN3/X07”. Tác giả đã đưa ra hệ thống các chính sách xóa
đói giảm nghèo và chính sách dân tộc từ năm 2001 đến nay. Hệ thống các
chính sách này tác động tới tăng trưởng, phát triển kinh tế và ổn định xã hội;
góp phần nâng cao vị thế của vùng và các đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy
nội lực, phát huy dân chủ cơ sở. Tác giả chưa đi phân tích sâu tác động của hệ
thống các chính sách xóa đói giảm nghèo và chính các chính sách dân tộc
giúp Tây Nguyên phát triển bền vững như thế nào. Bài viết này tác giả chỉ đề
cập tới các chính sách tác động tới quá trình phát triển xã hội của Tây Nguyên.
Bài viết “Tác động của hệ thống chính sách xã hội đối với quá trình
phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới”
của GS.TS Nguyễn Hữa Khiển đăng trong “kỷ yếu hội thảo khoa học phát
triển xã hội và quản lý xã hội ở Tây Nguyên lí luận và thực tiễn - Đề tài
TN3/X07”. Tác giả đề cập các yếu tố tác động tới hiệu quả của các chính sách
xã hội và tác động của chính sách xã hội với sự phát triển theo hướng bền
vững của Tây Nguyên. Các yếu tố tác động đó là điều kiện tự nhiên khách
quan. Mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền nào đó đều gắn với một điều kiện về
các tiềm lực nguồn tài nguyên thiên nhiên riêng. Những yếu tố này là khách
quan và nó cũng ảnh hưởng tới việc thực hiện các chính sách xã hội. Ngoài ra
việc thực hiện chính sách xã hội còn chịu tác động của các yếu tố chủ quan
như: trình độ của người hoạch định chính sách, ký năng và kinh nghiệm xây
dựng, hoạch định chính sách. Nhưng chính sách xã hội tác động tác động tới
kinh tế, xã hội, tác động cấu trúc lại cơ cấu dân cư, thúc đẩy phát triển giáo
dục, giúp phát triển làm tăng tính tự quản địa phương. Tác giả mới chỉ phân
tích tác động của chính sách xã hội đối với quá trình phát triển bền vững mà
không đề cập đến hệ thông các chính sách khác cũng tác động tới việc phát
triển bền vững vùng Tây Nguyên.
6



7


phục tình trạng hiện tại của bản thân và gia đình chứ không phải là định
hướng phát triển lâu dài bền vững.
Bài viết “ quản lý phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Tây
Nguyên: một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, của PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
được đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam. Trong bài viết này
tác giả đã chỉ ra thực trạng phát triển xã hội ở Tây Nguyên. Công tác xóa đói
giảm nghèo của vùng thời gian qua đã từng bước giúp người dân ổn định,
phát triển kinh tế xã hội. Công tác bảo trợ xã hội tuy con gặp nhiều khó khăn
về kinh phí thấp, cán bộ chuyên môn ít, các cơ sở bảo trợ còn thiếu nhưng nó
cũng giúp người dân nơi đây được hưởng sự giúp đỡ của nhà nước, phần nào
giúp người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc về y tế, sức
khỏe… Tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị giải pháp để công tác xóa đói
giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phát triển y tế của vùng được tốt hơn. Ở đây
mới chỉ đề cập tới việc xóa đói giảm nghèo, phát triển xã hội và công tác y tế
theo hướng bền vững.
Sách “Thực trạng phát triển Tây Nguyên và một số vấn đề phát triển bền
vững” của Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Bùi Minh Đạo. Tác giả dựa trên cơ
sở các nguyên tắc và nguyên lý phát triển bền vững nói chung và phát triển
bền vững vùng lãnh thổ nói riêng, bằng cách nhìn đồng đại kết hợp lịch đại,
khảo sát, nghiên cứu, làm sáng tỏ thực trạng phát triển kinh tế, xã hội, văn
hóa, bảo vệ môi trường Tây Nguyên những thập niên qua, phát hiện những
vấn đề phát triển bền vững, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp, góp phần
phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong những thập niên tới.
Sách “Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát triển
bền vững” xuất bản tại Nxb khoa học xã hội của tác giả Bùi Minh Đạo. Tác
giả đề cập tới thực trạng xã hội ở Tây Nguyên với các vấn đề về cơ cấu xã
hội, tổ chức xã hội và hệ thống các giá trị xã hội. Những vấn đề xã hội này có

* Nhiệm vụ cụ thể:
Làm rõ cơ sở lý luận chung chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển
bền vững.
Làm rõ việc thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo tại Tây
Nguyên trong giai đoạn 2006 – 2013 trong việc thúc đẩy quá trình bền vững
về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng.
9


Luận giải một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện
chính sách xoá đói giảm nghèo ở Tây Nguyên trong các giai đoạn tiếp theo.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Các tỉnh ở Tây Nguyên
Thời gian: Giai đoạn 2006 - 2013
Về nội dung: Các chính sách xóa đói giảm nghèo tại Tây Nguyên trong
giai đoạn 2006 – 2013, việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thúc
đẩy phát triển bền vững ở khu vực. Phân tích, sử dụng các kết quả nghiên cứu
của đề tài Tây Nguyên 3 về tình hình xóa đói giảm nghèo và bảo trợ xã hội
cho người dân Tây Nguyên
5. Mẫu khảo sát
6. Câu hỏi nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thúc đẩy quá trình phát
triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn 2006 – 2013 như thế nào?
Những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xoá đói
giảm nghèo trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên giai đoạn tiếp theo?
Chính sách xóa đói giảm nghèo tác động như thế nào đối với phát triển
bền vững?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết cho câu hỏi 1:
Việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại Tây Nguyên đã đạt

báo cáo tổng hợp của đề tài.
9. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương
Chương 1: Những vấn đề chung về thực hiện chính sách xóa đói giảm
nghèo thúc đẩy phát triển bền vững
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thúc
đẩy phát triển bền vững tại Tây Nguyên
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói
giảm nghèo thúc đẩy phát triển bền vững tại Tây Nguyên

11


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Chính sách xóa đói giảm nghèo
1.1.1. Chính sách
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội,
đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan đến chính trị và
pháp quyền. Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và
kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị
chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” Chính sách cần được hiểu
ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan
hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền như nói ở
trên. Theo tác giả Vũ Cao Đàm chính sách là một tập hợp biện pháp được thể
chế hóa, mà chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của
họ, đinh hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó

xuyên phải đi thuê hay vay vốn tư nhân để sống qua ngày nên không có vốn
để sản xuất, tài sản thì không có nên không vay được vốn ngân hàng. Thứ hai
là thiếu kinh nghiệm làm ăn. Số hộ thiếu kinh nghiệm làm ăn do họ thiếu kiến
thức, kỹ thuật canh tác, áp dụng kỹ thuật không đúng với điều kiện đất đai,
cây trồng, vật nuôi, không có cơ hội học hỏi kinh nghiệm làm ăn do không
được hỗ trợ cần thiết và một phần là do hậu của của cuộc sống bao cấp trong
một thời gian dài. Thứ ba là điều kiện môi trường, vị trí địa lý. Điều kiện sống
là yếu tố tác động tới việc nghèo đói của người dân. Nghèo đói là một khái
niệm động biến đổi theo thời gian và không gian, không có chuẩn nghèo
chung cho mọi quốc gia. Hiện nay, ở Việt nam cũng như nhiều nước khác đã
tiếp cận nghèo đa chiều ( nghèo về giáo dục, nghèo về y tế, nghèo nghèo về
nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường, nghèo về thông tin, nghèo về điều kiện
sống, nghèo thu nhập). Tuy đều là nhóm nghèo nhưng độ sâu hay mức thiếu
hụt nghèo cũng khác nhau, vấn đề tái nghèo, vòng luẩn quản của nghèo đói,
bẫy nghèo…

13


Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới
ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc
điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt
đối, nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo
không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại...
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có
mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét.
Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới

Đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền kinh tế
thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đó là con đường để cho mọi người
vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế để chủ động xoá
đói giảm nghèo. Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của Hồ Chủ Tịch:" Giúp
đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lên giàu
thêm".Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem
lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông
dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế
nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một
nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa
nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo giúp
nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự
mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây
dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn
cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản
thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước,
đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường
sinh thái.
Phải thực hiện thành công các chính sách xóa đói giảm nghèo. Không
giải quyết thành công các nhiệm vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ
không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có
nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy
sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch hướng XHCN của
15


sự phát triển kinh tế -xã hội. Không giải quyết thành công các chương trình
xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành
mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ
không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để

trung ương hỗ trợ cấp 100% kinh phí xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt
tập thể. Với những thôn bản có từ 20% đến dưới 50% số hộ đồng bào dân tộc
thiểu số chính quyền trung ương cấp 50% kinh phí xây dựng công trình cấp
nước sinh hoạt tập trung.
Nội dung 2: chương trình 135 chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn I (1997 – 2006): Nội dung của chương trình:
Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số
Phát triển cơ sở hạ tầng
Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như: điện,
đường giao thông, trường học, trạm y tế, nước sạch
Nâng cao đời sống văn hóa
Có nhiều biện pháp thực hiện chương trình này bao gồm: việc đầu tư ồ ạt
của nhà nước, các dự án nhà nước và nhân dân cùng làm, miễn giảm thuế,
cung cấp phí chính sách giáo khoa, một số tạp chí… Năm 1999, thủ tướng
chính phủ đã phê duyệt 1.870 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới làm
phạm vi của chương trình 1351. Các năm tiếp theo, do có sự chia tách và
thành lập xã mới nên số xã thuộc phạm vi Chương trình 135 đã vượt qua con
số trên. Khi giai đoạn I kết thúc, nhà nước đã chi khoảng 10.000 tỷ đồng. Kết
quả là cả nước đã xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 25.000 công trình 2 thiết
yếu các loại góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện
và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quả của việc thực hiên
Chương trình 135 chưa cao, một số mục tiêu còn chưa đạt được.
Giai đoạn II (2006 – 2010) Chính phủ xác định có 1.946 xã và 3.149
thôn, buôn, làng, bản, xóm, ấp đặc biệt khó khăn thuộc các các xã khu vực II
của 45 tỉnh 3thành được đưa vào phạm vi của chương trình 135 giai đoạn này.
Mục tiêu của chương trình:
1
2
3


việc phát triển đồng đều, bền vững.
1.2. Phát triển bền vững
1.2.1. Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào
năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội
Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội
dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới
18


phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và
sự tác động đến môi trường sinh thái học". Khái niệm này được phổ biến rộng
rãi vào năm 1987 nhờ ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED. Để
đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các
tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa ba lĩnh
vực chính: kinh tế, xã hội, môi trường.
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những
khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá
muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ. Phát triển bền vững” có
nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng. Một mẫu
hình phát triển bền vững là mỗi địa phương, vùng, quốc gia… không nên
thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia. Vấn đề là áp dụng nó như thế
nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Để
chuyển hoá khái niệm phát triển bền vững từ cấp độ lý thuyết áp dụng vào
thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp đụng trực tiếp đối với các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. "Phát triển bền vững” là khái niệm
mới ở Việt Nam. Tiến hành xây dựng và thao tác hoá khái niệm này phù hợp
với thực tiễn đất nước và bối cảnh thế giới hiện nay sẽ có ý nghĩa quan trọng.
Các nghiên cứu khoa học môi trường, khoa học xã hội, trong đó đặc biệt là
kinh tế học, xã hội học, và luật học hy vọng sẽ có nhiều đóng góp cho việc

nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh
phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần,
năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật. Giáo dục - đào tạo,
khoa học - công nghệ trở thành động lực phát triển quan trọng. Giữ vững ổn
định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường.
Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên,
đặc biệt là tài nguyên không tái tạo. Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô
nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường bảo vệ và phát
triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động
thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng.

20


Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn
định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của
nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại
gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau.
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong
việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chất lượng chăm sóc sức
khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học
hành và có việc làm, giảm tỷ lệ đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo
giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ
công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ
trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá
các dân tộc trên địa bàn, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân.
Mục tiêu phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử

phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của
con người.
Cần có chính sách kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tích cực, có
chiến lược đúng đắn về nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao, tăng cường mạnh mẽ năng lực tổ chức quản lý, mở rộng hiệu quả hợp tác
quốc tế và toàn Đảng, toàn dân đồng thuận cùng tham gia thực hiện, nhất định
đất nước sẽ bước vào một thời kỳ phát triển nhanh và bền vững.
1.2.3. Phát triển bền vững ở những khu vực đặc thù
Phát triển bền vững đã và đang là một vấn đề được thế giới quan tâm,
việc phát triển vùng là quá trình cụ thể hóa các nội dung, mục tiêu, lộ trình,
phương pháp của quá trình phát triển bền vững tại một khu vực hành chính,
địa lý, kinh tế, xã hội nhất định. Việc phát triển bền vững vùng là cơ sở để tạo
ra sự phát triển bền vững cho các quốc gia dân tộc và xã hội loài người. Ở
nước ta việc phát triển bền vững vùng được hiểu qua nhiều chiều cạnh
khác nhau.
Mỗi vùng có những đặc điểm đặc thù riêng nên nói tới phát triển bền
vững là nói tới quá trình phát triển trong một khu vực địa lý nhất định với các
điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế tương ứng của vùng đó. Muốn đạt được
mục tiêu phát triển bền vững vùng ta phải dựa trên những đặc thù của vùng để
22


có những chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch… phù hợp để có thể
phát huy tối đa những thế mạnh đặc thù riêng mà chỉ vùng đó mới có và hạn
chế được các điểm hạn chế, những yếu kém tự nhiên của vùng. Việc phát
triển bền vững theo những đặc thù riêng đó sẽ giúp vùng đó phát triển bền
vững tạo ra hướng thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho
người dân ngay trên mảnh đất quê hương. Tây Nguyên là một vùng giàu tài
nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản, động thực vật…Hệ sinh thái đa
dạng giúp con người Tây Nguyên có cuộc sống tốt. Bên cạnh đó đây là khu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status