TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
------**------
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
TẠI VIỆT NAM
Lớp
: QH 2014 E - TCNH3
Giảng viên hướng dẫn
: TS. Đinh Xuân Cường
Hà Nội, 11/2015
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1
STT
Mã học viên
Họ và tên
1
14057051
Vũ Quang
Tạo
06/04/1983
5
14057735
Trần Thị Cẩm
Tú
07/04/1991
2
Ngày sinh
“NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM”
MỞ ĐẦU
Hiện nay, cùng xu hướng chung của toàn thế giới, nền kinh tế nước ta đang trong
quá trình hội nhập, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Đặc biệt là với bối cảnh rào cản
gia nhập thị trường tài chính Việt Nam ngày càng được nới lỏng, gỡ bỏ trong lộ trình cam
kết song phương và đa phương với các nước trong khu vực và trên thế giới thì tính cạnh
Thứ nhất, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động trợ giúp cho hoạt động xuất
nhập khẩu của khách hàng thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế.
Thứ hai, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động đáp ứng nhu cầu trao đổi
ngoại tệ của khách hàng nhằm thực hiện các giao dịch thương mại và đầu tư qua biên giới
quốc gia.
Thứ ba, vì các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế có điều kiện thuận lợi kinh
doanh ngoại tệ, họ cũng thường kinh doanh ngoại tệ cho chính số tiền của họ.
Một căn cứ nữa để phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và nghiệp vụ ngân hàng
trong nước của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ ngân hàng quốc tế diễn ra giữa hai
hay nhiều quốc gia; còn nghiệp vụ ngân hàng trong nước chỉ diễn ra trong nội bộ quốc
gia và đối tượng khách hàng là pháp nhân, thể nhân của quốc gia đó.Như vậy, nếu dựa
vào nghiệp vụ ngân hàng thì ta có định nghĩa sau: Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là các
giao dịch ngân hàng liên quan tới một hoặc nhiều bên đối tác ở ngoài biên giới nước
có trụ sở chính của ngân hàng cung cấp dịch vụ.
4
Trên phương diện phân loại nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là một dạng hoạt động
kinh doanh quốc tế thì nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại có thể
được coi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt
động đầu tư và cung ứng dịch vụ tiền tệ và tài chính quốc tế trên thị trường trong
nước và quốc tế nhằm mục đích sinh lời.
Để thực hiện nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng thương mại tổ chức bằng
hai phương thức sau:
- Tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại nước ngoài bằng cách thiết lập các
chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện v.v... ở nước ngoài.
- Tổ chức một bộ phận kinh doanh quốc tế được chuyên môn hoá tại trụ sở để thực
hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại ở các nước phát triển đa
có cơ may chiến thắng trong cuộc đua toàn cầu.
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có tính biến động cao: Do sự phức tạp của kinh doanh
quốc tế nên thường xảy ra việc tăng, giảm đột ngột về khối lượng ngoại tệ, lãi suất nhanh
chóng đảo ngược, trục trặc trong thanh toán quốc tế, biến động chính trị… Vì vậy nghiệp
vụ ngân hàng quốc tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng ở trong nước. Tuy
nhiên, cũng giống như bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, rủi ro càng cao lợi nhuận càng
lớn. Bởi vậy, thời đại ngày nay chỉ ngân hàng nào phát triển hoạt động kinh doanh quốc
tế mới có cơ hội và tiềm năng phát triển lâu dài.
Dịch vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật pháp quốc tế và thông lệ
quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế của nghiệp vụ ngân hàngquốc tế quyết định. Do sự
phức tạp trong môi trường hoạt động kinh doanh quốc tế, do sự không thống nhất về luật
pháp giữa các quốc gia, do trình độ phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật
pháp quốc tế, thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực
hiện nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Bởi vậy, sự chi phối luật pháp trong nước đối với hoạt
động kinh doanh quốc tế của ngân hàng được giới hạn ở mức độ nhất định.
1.1.3. Cơ sở pháp lý của nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
6
Khi xảy ra tranh chấp trong quan hệ kinh tế, các cơ quan tài phán thường quy chiếu
về một hệ thống luật pháp nhất định để xử lý, căn cứ vào quy phạm pháp luật có hiệu lực
tại thời điểm phát sinh tranh tụng. Đây có thể là một hệ thống pháp luật tại quốc gia của
nguyên đơn, bị đơn hay tại một nước thứ ba mà các bên thống nhất dẫn chiếu. Nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế liên quan đến nhiều quốc gia và đồng tiền pháp định của các quốc gia
đó cho nên không thể tuỳ tiện làm theo chủ quan của bất kỳ ai để nhằm đảm bảo sự ổn
định và trật tự trong kinh doanh.Hơn nữa trong thanh toán quốc tế hiện nay, chưa có một
đồng tiền nào làm tốt chức năng tiền thế giới như tiền vàng, do đó đối tượng gốc của kinh
doanh ngân hàng là đồng tiền pháp định, đồng tiền có giá trị lưu hành cưỡng chế từ luật
pháp Nhà nước. Đối chiếu đồng tiền các nước với nhau nảy sinh quan hệ tỷ lệ về giá trị
trao đổi thường được gọi là tỷ giá hối đoái giữa các đơn vị tiền tệ. Ngày nay, hầu hết các
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện chi trả bằng tiền, liên quan đến các dịch vụ mua
bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ không mang tính chất hàng hoá giữa tổ chức hoặc cá
nhân của nước này với tổ chức hay cá nhân của nước khác; hay giữa một hoặc nhiều quốc
gia với một hoặc nhiều tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các
nước liên quan. Do vậy, hoàn toàn khác với thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế
liên quan đến việc trao đổi tiền quốc gia nước này lấy tiền quốc gia nước khác.
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán quốc
tế trong đó phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng bậc nhất. Thanh toán quốc tế
qua ngân hàng có ba phương thức thanh toán chủ yếu là chuyển tiền, nhờ thu và thanh
toán tín dụng chứng từ, trong đó thanh toán qua tín dụng chứng từ là phổ biến nhất
+ Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary payment)
Trong buôn bán quốc tế, khoảng cách giữa người mua và người bán ở xa nhau, có
khi rất xa; vì vậy, không phải lúc nào hai bên cũng hoàn toàn hiểu biết, tin tưởng nhau.
Do đó, khi gửi hàng, người xuất khẩu không được tự cho phép mình chỉ được trông chờ
đơn thuần người mua ở cách xa họ luôn sẵn sàng trả tiền. Khi xuất hàng với một hành
trình xa như vậy, rõ ràng đồng vốn của người xuất khẩu bị ứ đọng, đó là điều họ không
hề mong muốn. Nhưng người xuất khẩu cũng không thể đòi hỏi người mua trả tiền trước
cho đến khi người mua được cam kết rằng hàng hoá họ đã ký hợp đồng để mua đã đến
nơi giao hàng và đạt chất lượng như đã thoả thuận. Tất cả những vấn đề này được ngân
hàng giải quyết kịp thời qua việc sử dụng một phương thức thanh toán quốc tế - phương
8
thức tín dụng chứng từ, mà kỹ thuật của phương thức này hoàn toàn có thể đáp ứng được
yêu cầu của hai bên mua và bán.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng(người yêu cầu mở thư tín
dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi thư tín dụng)
hoặc chấp nhận thư hối phiếu do người này ký hoặc uỷ quyền cho một ngân hàng khác
thanh toán hoặc chấp nhận hối phiếu trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình
* Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư.
* Chuyển kiều hối.
* Thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu (khi hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và
tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn).
+ Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
Theo URC 522, nhờ thu là phương thức thanh toán quốc tế trong đó các ngân hàng
xử lý các chứng từ phù hợp với chỉ dẫn đã nhận để thực hiện thanh toán và hoặc chấp
nhận thanh toán, hoặc cung cấp các chứng từ dựa trên số tiền chi trả và/hoặc dựa trên số
tiền chấp nhận, hoặc cung cấp các chứng từ dựa trên các nghĩa vụ hoặc điều kiện khác.
Các chứng từ trong nhờ thu có thể là các chứng từ tài chính (hối phiếu, giấy hứa trả tiền,
séc...) hoặc các chứng từ thương mại (hoá đơn, vận đơn, chứng từ sở hữu...). Theo
phương thức thanh toán này, người xuất khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
hoặc cung ứng một dịch vụ cho người nhập khẩu mới được uỷ thác cho ngân hàng của
mình thu hộ số tiền từ nhà nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu họ lập ra.
Phương thức nhờ thu được tiến hành trên cơ sở văn bản pháp lý quốc tế thông dụng
của nhờ thu đó là “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” số 522 của Phòng thương mại quốc tế,
bản sửa đổi 1955 (URC 522) có hiệu lực từ 1/1/1996. Trong phương thức thanh toán nhờ
thu, ngân hàng tham gia với tư cách là trung gian và hưởng hoa hồng. Trên cơ sở giấy uỷ
thác và bộ chứng từ hàng hoá của người xuất khẩu, ngân hàng tiến hành thu hộ tiền hàng.
Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra chứng từ và cũng không liên quan gì đến
việc nhờ thu đó có được người nhập khẩu chấp nhận hoặc trả tiền không. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, trách nhiệm của ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc thu hộ tiền
hay tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc giao hàng và việc trả tiền giữa người xuất
khẩu và người nhập khẩu mà ngân hàng còn có trách nhiệm tư vấn cho khách hàng những
thông tin cần thiết liên quan đến các vấn đề như lập chỉ thị nhờ thu, thiết lập bộ chứng từ
11
hoàn hảo để người xuất khẩu có thể nhận tiền, còn người nhập khẩu có thể nhận hàng...,
tránh những điều khoản bất lợi khi kí kết hợp đồng hay quy định trong chỉ thị nhờ thu
So với Bao thanh toán tương đối (Factoring), thì Bao thanh toán tuyệt đối
(Forfaiting) ít được áp dụng hơn. Bao thanh toán tuyệt đối là thuật ngữ dùng chỉ việc mua
lại các khoản nợ phải trả trong tương lai, phát sinh từ việc giao hàng hóa hoặc dịch vụ,
chủ yếu là từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa với điều kiện miễn truy đòi lại nhà xuất khẩu.
Bao thanh toán tuyệt đối là một cơ chế tài chính nhằm chuyển hoạt động bán hàng
theo hình thức tín dụng của nhà xuất khẩu sang giao dịch tiền mặt.
+ Cho thuê (Leasing)
Cho thuê là hình thức tài trợ mà trong đó Người chủ tài sản (người cho thuê) cho
phép một người khác (người đi thuê) được sử dụng tài sản của mình trong một thời gian
nhất định (thời gian thuê) theo những quy định mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng
cho thuê, đồng thời bên đi thuê phải trả cho bên cho thuê một khoản tiền nhất định, gọi là
tiền thuê.
Cho thuê tài chính quốc tế là một thỏa thuận hợp đồng cho phép một bên (bên đi
thuê) được sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê (bên cho thuê) và
thực hiện các khoản chi trả định kỳ được quy định cụ thể. Bên đi thuê có thể thuê từ nhà
xuất khẩu nước ngoài, hoặc có thể thuê trực tiếp từ công ty cho thuê nước ngoài. Thực
chất hoạt động cho thuê tài chính quốc tế là hoạt động tài trợ trung, dài hạn cho người
nhập khẩu thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác.
1.2.3 Kinh doanh ngoại hối
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế quốc tế, các ngân hàng đang hoàn thiện mô
hình tổ chức quản lý và đa dạng hoá các nghiệp vụ theo hướng tài chính hoá. Trong bối
cảnh đó, kinh doanh ngoại tệ đang dần khẳng định vị thế của mình: góp phần tạo cơ sở và
điều kiện phát triển, bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động ngoại thương, thanh toán quốc tế diễn
ra suôn sẻ; trở thành một hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh
tổng thể của ngân hàng hiện đại, góp phần nâng cao uy tín và vị trí của ngân hàng trong
toàn ngành.
Kinh doanh ngoại tệ theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán ngoại tệ, đảm bảo ổn
định số dư tài khoản kinh doanh ngoại tệ tại nước ngoài và tìm cách thu lời thông qua
chênh lệ tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau. Theo nghĩa hẹp, kinh doanh
13
biệt kết hợp giữa việc mua trao ngay và bán theo thể thức các kỹ thuật cổ truyền khi kết
14
thúc các giao dịch có kỳ hạn nhằm bảo toàn vốn, lợi dụng những thay đổi hiện tại và dự
đoán chênh lệch lãi suất để tránh rủi ro và kiếm lời. Đây là hình thức, cùng một lúc, ngân
hàng đồng thời thực hiện hai nghiệp vụ: một giao dịch giao ngay theo tỷ giá giao ngay và
một giao dịch kỳ hạn theo hướng ngược lại được thực hiện cùng với một tài khoản đối
ứng với cùng một bạn hàng. Phí tổn của giao dịch phụ thuộc vào chênh lệch lãi suất của
hai đồng tiền tính theo số ngày trên cơ sở tỷ giá giao ngay.
Nghiệp vụ quyền lựa chọn tiền tệ (Currency options): Hợp đồng quyền chọn tiền tệ
cho phép người mua hợp đồng có quyền (không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán tiền tệ tại
một mức tỷ giá đã thoả thuận trước (gọi là tỷ giá quyền chọn) trong tương lai. Do quyền
chọn là một tài sản chính nên nó có giá trị, vì thế trong hợp đồng này, người mua phải trả
cho người bán một khoản đảm bảo, thông qua đó, người mua được quyền mua hay bán
một loại ngoại tệ nào đó. Mặt khác họ có thể chối bỏ quyền lựa chọn của mình nếu thấy
bất lợi. Nếu huỷ hợp đồng, họ sẽ mất tiền đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng nhưng số
tiền mất này nhỏ hơn nhiều so với việc thực hiện giá trị hợp đồng. Ngược lại, đối với
người bán hợp đồng quyền chọn không có bất kỳ sự lựa chọn nào ngoài việc sẵn sàng
giao dịch khi người mua muốn, họ phải chịu rủi ro không hạn mức khi tỷ giá biến đổi
không thuận lợi cho anh ta.
Hợp đồng tương lai (Futures): Hợp đồng tương lai là một thoả thuận về việc bán
một tài sản trong tương lai tại một mức giá cố định. Giá cả được thoả thuận hôm nay
nhưng việc giao nhận tài sản và thanh toán xảy ra sau này. Các hợp đồng tương lai được
sử dụng để phòng ngừa rủi ro và đầu cơ. Đây là loại hợp đồng đã được tiêu chuẩn hoá và
được thực hiện trên sàn giao dịch của Sở giao dịch tiền tệ tương lai.
1.2.4 Bảo lãnh quốc tế
Bảo lãnh ngân hàng là một hợp đồng giữa hai bên, một bên là ngân hàng phát hành
bảo lãnh (guarantor) và một bên là người thụ hưởng bảo lãnh (benefiary), trong đó bên
bảo lãnh cam kết sẽ hoàn trả một khoản tiền nhất định cho người thụ hưởng trong trường
vụ không được thực hiện. Ngân hàng chỉ có trách nhiệm trả cho người nhận bảo lãnh
trong trường hợp người uỷ nhiệmvi phạm hợp đồng.
Hoạt động bảo lãnh thường được tiến hành trên cơ sở văn bản pháp lý quốc tế thông
dụng của bảo lãnh là "Các quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu của Phòng thương
16
mại quốc tế số 458, ban hành vào tháng 04/1992" (URDG 458). Bảo lãnh quốc tế có
nhiều loại, căn cứ vào mục đích của bảo lãnh có: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh nhận hàng; theo phương
thức phát hành bảo lãnh : bảo lãnh trực tiếp, bảo lãnh đối ứng, bảo lãnh xác nhận...
1.2.5 Tài trợ xuất nhập khẩu
* Tín dụng tài trợ cho người xuất khẩu: Ngân hàng thương mại cho các thương nhân
xuất khẩu vay dưới hình thức như chiết khấu hối phiếu, cầm cố hàng hoá, cho vay trong
quá trình sản xuất. Người xuất khẩu có thể vay ngân hàng bằng cách chiết khấu các hối
phiếu chưa đến hạn trả tiền. Đây là loại tín dụng rất phổ biến ở các nước. Số tiền vay
bằng cách chiết khấu hối phiếu thường nhỏ hơn số tiền ghi trên hối phiếu. Số tiền chênh
lệch là lợi tức chiết khấu. Ngân hàng còn cho người xuất khẩu vay căn cứ vào quá trình
chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá và cung ứng dịch vụ. Tín dụng ngân
hàng cấp cho người xuất khẩu là loại tín dụng có hàng hoá làm vật đảm bảo. Vì vậy, hạn
mức được vay có khi đạt tới 80% giá trị hàng hoá và thời hạn vay là ngắn hạn.
* Tín dụng tài trợ cho người nhập khẩu: Các ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho
người nhập khẩu dưới hình thức cho vay thấu chi, mở thư tín dụng thương mại, chấp
nhận hối phiếu... Trong các hình thức đó, chấp nhận hối phiếu và vay thấu chi là hình
thức phổ biến hơn cả. Việc chấp nhận trả tiền hối phiếu cho người nhập khẩu rõ ràng là
không được tín nhiệm bằng sự chấp nhận trả tiền bằng hối phiếu của ngân hàng. Vì vậy,
người xuất khẩu thường yêu cầu người nhập khẩu phải dùng ngân hàng thương mại là
người chấp nhận những hối phiếu mà họ ký phát và chuyển thẳng hối phiếu cho ngân
hàng người nhập khẩu. Ngân hàng phải sử dụng vốn của mình phải chịu rủi ro và tổn thất
xảy ra đối với hối phiếu do vậy ngân hàng phải thu thủ tục phí chấp nhận cao. Ngân hàng
các ngân hàng không được coi là nghiệp vụ ngân hàng đại lý bởi vì nó không đòi hỏi mối
quan hệ liên tụcgiữa các ngân hàng. Ví dụ như các nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ giữa các
ngân hàng và nghiệp vụ cho vay hợp vốn trong đó một nhóm ngân hàng hợp tác với nhau
để cho vay một khách hàng. Nghiệp vụ ngân hàng đại lý thường có đặc trưng nổi bật là
mối quan hệ giao dịch liên tục và nhân tố chủ chốt để biết hai ngân hàng có quan hệ đại
lý với nhau hay không là tồn tại mối quan hệ tài khoản. Tuy nhiên, sự phân biệt này
thường không rõ ràng và có nhiều vấn đề trong bất cứ một ngân hàng nào trong đó có
nhiều bộ phận cùng thực hiện một nghiệp vụ liên ngân hàng nào đó.
18
- Nghiệp vụ thẻ tín dụng quốc tế
Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán hiện đại cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ để
thanh toán cho các hàng hoá dịch vụ, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, các máy rút
tiền tự động với hạn mức chi tiêu nhất định, trả tiền sau mà ngân hàng cho phép căn cứ
vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ thẻ. Thẻ tín dụng là
một hình thức chi tiêu trước trả tiền sau với một thời hạn ưu đãi không thu lãi (khoảng từ
10 ngày đến 45 ngày). Chủ thẻ có thể thanh toán một phần hoặc có thể là toàn bộ số tiền
đã chi tiêu vào cuối mỗi kỳ tín dụng.Đối với ngân hàng, thẻ tín dụng quốc tế chính là sự
cam kết của ngân hàng cho chủ thẻ vay tiền của mình để mua hàng hoá dịch vụ hoặc rút
tiền khi cần thiết. Đối với chủ thẻ, có thể dùng thẻ để thanh toán cho những hàng hoá
dịch vụ mình cần trong những giới hạn số tiền ngân hàng cho phép tại những nơi nhất
định như đại lý chấp nhận thẻ, ngân hàng... Về bản chất kinh tế, thẻ tín dụng chính là sự
vay mượn tiền của chủ thẻ đối với ngân hàng với một số điều kiện đảm bảo của ngân
hàng như: tài khoản của chủ thẻ (nếu có), hợp đồng sử dụng thẻ, tài sản thế chấp...
Thẻ tín dụng quốc tế là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ
mạnh để thanh toán. Đây là loại thẻ do các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước và
quốc tế (là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế) phát hành. Thẻ quốc tế được hỗ trợ và
quản lý bởi những tổ chức tài chính lớn như Master Card, Visa... hoặc các công ty điều
hành như Amex, JCB, Diners Club..., hoạt động theo một hệ thống thống nhất, đồng bộ.
hàng thương mại Việt Nam đều có nghiệp vụ tài trợ xuất khẩu. Tuy nhiên, chủng loại
nghiệp vụ cung cấp còn hạn chế, chưa đa dạng, ngay cả các nghiệp vụ đã triển khai cũng
chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nguyên nhân là do nghiệp vụ này chưa được
các ngân hàng chú trọng phát triển, kinh nghiệm, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế. Đồng
thời do thị trường Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều rủi ro buộc các ngân hàng phải cẩn trận
trong việc cân nhắc cung cấp nghiệp vụ hoặc nếu có cung cấp thì thủ tục yêu cầu cũng
rườm rà, nhiều ràng buộc làm mất đi ưu điểm vốn có của các nghiệp vụ này. Kết quả là
cả ngân hàng không mặn mà cung cấp còn doanh nghiệp không mặn mà sử dụng.
- Tài trợ nhập khẩu vốn vẫn là nghiệp vụ cơ bản và phổ biến nhất trong các nghiệp
vụ ngân hàng quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Gần như 100% các ngân
hàng thương mại Việt Nam có cung cấp loại hình nghiệp vụ này và coi đây là nghiệp vụ
đem lại doanh thu lớn. So với trước đây, loại hình nghiệp vụ này hiện nay được các
NHTM Việt Nam triển khai linh hoạt hơn rất nhiều. Cụ thể là đồng tiền sử dụng trong tài
trợ đã đa dạng, cơ chế xét duyệt cho vay linh hoạt và thủ tục cho vay đơn giản với lãi suất
ưu đãi hơn. Trước đây, muốn được ngân hàng tài trợ doanh nghiệp phải chứng minh được
mục đích, hiệu quả sử dụng vốn và cầm cố tài sản với thủ tục rườm rà, nhưng hiện nay
doanh nghiệp hoàn toàn có thể vay vốn bằng tín chấp hoặc sử dụng tài sản thế chấp là
chính lô hàng nhập khẩu với thủ tục đơn giản hơn rất nhiều.
+ Cụ thể tại Vietcombank: Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu cả năm 2014 đạt
48,14 tỷ USD, tăng ~15,79% so với năm trước. Sau nhiều năm sụt giảm, thị phần thanh
toán xuất nhập khẩu của Vietcombank đã phục hồi trở lại, đạt 16,32% trong năm 2014,
tăng 0,7% so với thị phần năm 2013
+ Tại Vietinbank: Năm 2014 Vietinbank tiếp tục đẩy mạnh các sản phẩm truyền
thống, đồng thời mở rộng triển khai các sản phẩm mới, Doanh số tài trợ thương mại tăng
21
14%, dịch vụ nhờ thu tăng 38%, doanh số phát hành LC tăng 17%, doanh số thanh toán
nhập khẩu tăng 13%.
2.1.2. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế
trình hoạt động kinh doanh của mình.
+ Tại Vietcombank, Doanh số mua bán ngoại tệ năm 2014 gần 29 tỷ USD, tăng
9,8% so với năm 2013.
+ Tại Vietinbank, Tính đến cuối năm 2014 doanh số mua bán ngoại tệ trên thị
trường liên ngân hàng là 49,8 tỷ USD, thị phần chiếm khoảng 12-14% toàn thị trường,
Doanh số năm 2014 trên thị trường 1 đạt 22,5 tỷ USD tăng 12% so với năm 2013, thị
phần năm 2014 của Vietinbank tăng đạt mức 10,2% đã khẳng định vị thế kinh doanh
ngoại tệ của ngân hàng tiếp tục được nâng cao trên thị trường.
2.1.3. Nghiệp vụ thẻ tín dụng quốc tế
Thẻ quốc tế là dịch vụ tiềm năng có tốc độ phát triển nhanh, đang được các ngân
hàng quan tâm, đầu tư và mở rộng. Hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chương trình
khuyến mãi để thu hút lượng khách hàng phát hành thẻ mới: miễn phí phát hành, giảm
phí khi thực hiện thanh toán
Năm 2014 cả nước có 50 tổ chức phát hành thẻ với số lượng đã phát hành trên 76
triệu thẻ, trong đó có gần 70 triệu thẻ ghi nợ (ATM), hơn 3 triệu thẻ tín dụng và 3,2 triệu
thẻ trả trước.
Tại Vietcombank, Các mảng hoạt động thanh toán, dịch vụ thẻ năm 2014 đạt mức
tăng trưởng tốt so với năm 2013, trong đó một số chỉ tiêu như số lượng phát hành thẻ ghi
nợ, thẻ tín dụng, doanh số thanh toán thẻ đều tăng trưởng rất mạnh.
2.2. Hoạt động Ngân hàng quốc tế tại BIDV
Tính đến thời điểm 30/9/2015, BIDV có 224 Chi nhánh, 974 Phòng giao dịch,
22.193 máy POS, 1.816 máy ATM. Có Văn phòng đại diện và hiện diện thương mại tại
Lào, Campuchia, Myanmar, Hồng Kông, Séc, Nga. Quan hệ đại lý với 2000 định chế tài
chính trên toàn câu.
2.2.1. Hoạt động TTQT, Tài trợ thương mại và Xuất nhập khẩu.
Với việc NHNN điều hành tỷ giá 2 lần kích thích xuất khẩu đã góp phần không
nhỏ tăng thu phí dịch vụ TTTM. Tại BIDV tổng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu 6
tháng đầu năm 2015 (bao gồm TTTM và chuyển tiền quốc tế) đạt mức tăng trưởng ấn
23
thực hiện nhiều các phi vụ lớn cho các doanh nghiệp và chính phủ Việt Nam.
Cuối năm 2013, Credit Suisse đóng vai trò là nhà điều phối toàn cầu, và cùng với
Deutsche Bank và ING đã thu xếp cho Vingroup trở thành DN tư nhân đầu tiên phát hành
trái phiếu quốc tế thu về 200 triệu USD. Trong khi đó, các vụ tư vấn M&A như: Warburg
Pincus đầu tư 200 triệu USD vào Vincom Retail năm 2013; Vingroup chuyển nhượng
Vincom Center A TP.HCM với giá hơn 470 triệu USD; Masan bán 10% Masan
Consumer cho KKR của Mỹ giá 200 triệu USD; Vietcombank bán 15% cho Mizuho với
giá 567 triệu USD... cũng cho thấy cuộc chơi triệu đô của NH đầu tư nước ngoài vào các
tập đoàn, DN lớn Việt Nam. Tính từ 2001, tổ chức này đã huy động vốn trị giá hơn 6 tỷ
USD cho Chính phủ, cho các DN trong và ngoài nước tại Việt Nam với nhiều gương mặt
lớn khác như: Hoàng Anh Gia Lai, Ocean Group, Vinacomin, PetroVietnam, EVN, SSI,
Ngân hàng Bưu điện Liên Việt... Credit Suisse đã được chọn là Ngân hàng Đầu tư quốc
tế tốt nhất tại Việt Nam trong năm 2014. Đây là năm thứ 3 liên tiếp Credit Suisse giữ
vững vị thế này sau những thương vụ lớn ở Việt Nam và Đông Nam Á.
25