THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 33

BÀI LÀM
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân lao động,
đưa lại hạnh phúc cho nhân dân; vì vậy các quy định của pháp luật được đông đảo
nhân dân tôn trọng và tự giác thực hiện một cách nghiêm chỉnh.Tuy nhiên do nhiều
nguyên nhân khác nhau,trong xã hội ta vẫn còn hiện tượng vi phạm pháp luật
(VPPL),xâm hại đến lợi ích vật chất và tinh thần của nhà nước,của xã hội và của
nhân dân.Do vậy việc nghiên cứu vấn đề VPPL,chỉ ra những nguyên nhân của
VPPL sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc nhận thức toàn diện về một hiện tượng tiêu
cực trong xã hội là VPPL, từ đó có những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng
và chống VPPL trong xã hội ta.
VPPL là một hiện tượng trong xã hội có những dấu hiệu cơ bản sau:
Thứ nhất: VPPL là hành vi của con người, thể hiện dưới dạng hành động hoặc
không hành động.
Thứ hai: VPPL là hành vi của con người mà hành vi đó trái pháp luật, xâm hại
tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
Thứ ba: VPPL là hành vi trái pháp luật nhưng phải chứa đựng lỗi của chủ thể
đó.
Thứ tư: VPPL là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lí.
Từ những dấu hiệu trên ta có thể xác định: VPPL là hành vi trái pháp luật, có lỗi
của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí,đã xâm hại tới quan hệ xã hội được
pháp luật bảo vệ.
II. THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Trong thời gian qua mặc dù đảng và nhà nước ta đã tập trung vào công tác đấu
tranh phòng chống VPPL nhưng tình hình này vẫn xảy ra với những diễn biến phức
tạp, gây tổn thất không ít cho xã hội cũng như công cuộc đổi mới và phát triển đất
nước.Tình hình này hiện đang thực sự là vấn đề nhức nhối, gây nhiều bức xúc cho
xã hội.

1

kết lại sau một năm thực hiện nghị định 36-CP của chính phủ, đã có 4.5 triệu trường
hợp bị phạt vi phạm trật tự ATGT với số tiền lên tới 230 tỷ đồng
Trên lĩnh vực văn hóa cũng vi phạm sôi động không kém. Trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế, ngoài những yếu tố tiến bộ văn minh thì những luồng văn hóa
lai căng, đồi trụy, phản động cũng tìm đường đến Việt Nam.

2


Tình hình vi phạm trên cũng đang là cản trở lớn đối với công cuộc đổi mới và
cải cách nền hành chính, tư pháp quốc gia như định hướng mà Đảng cộng sản Việt
Nam đã đề ra, vừa gây bất bình trong nhân dân, vừa làm cho nhân dân lo lắng, hoài
nghi sự nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, và tạo ra nhân tố
gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Để khắc phục và giảm thiểu tác động tiêu cực của tình hình VPPL như hiện
nay, cần đặt ra yêu cầu tích cực, chủ động tìm ra các nguyên nhân của tình hình
này, lấy đó làm căn cứ để phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Trên cơ sở những nhận thức thực tiễn trên đây ta có thể rút ra được những nguyên
nhân VPPL ở nước ta hiện nay như sau:

1.Nguyên nhân khách quan.
Các điều kiện kinh tế được xem là yếu tố chi phối, quy định ý thức pháp luật
của mỗi cá nhân (tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội), từ đây ta có thể thấy
những yếu tố khách quan gây ra tình trạng VPPL là:
a.Nhóm nguyên nhân về kinh tế.
Sự xuất hiện tất yếu của cơ chế kinh tế mới-kinh tế thị trường đã làm thức dậy
những khả năng tiềm ẩn trong xã hội, khả năng tiềm ẩn đó có cả yếu tố tích cực
cũng có cả yếu tố tiêu cực.
Trước hết, trong bối cảnh giao thời giữa cơ chế thói quen lề lối cũ với yêu cầu
mở cửa năng động, hòa nhập của cơ chế mới đã làm phát sinh các cơ hội để một bộ

luật, khó thích ứng kịp và dễ tạo ra kẻ hở, khiếm khuyết để nhiều kẻ lợi dụng; rồi
hàng loạt các vấn đề khác như công ăn việc làm, sự thất nghiệp tràn lan bởi sức ép
của cơ chế thị trường, sự chạy đua về nhu cầu…là những nhân tố thúc đẩy sự VPPL
gia tăng.
b.Nhóm nguyên nhân về xã hội.
Đây là một nguyên nhân khó thống kê trên thực tế, các nguyên nhân về xã hội
thì rất đa dạng. Nó có thể là trình độ dân trí, có thể là sự lan truyền dư luận…tuy
nhiên ta có thể đề cập đến một số nguyên nhân dễ nhận biết hiện nay như sau:
Trước hết là vấn đề gia tăng dân số nhanh đang làm trầm trọng hơn tình trạng
thất nghiệp, thất học, sự phân hóa giàu nghèo hiện nay ở nước ta. Nhu cầu của con
người ngày càng cao, khi thất nghiệp, nhu cầu không có hoặc thấp dễ dẫn người ta
tới việc làm liều lĩnh, để rồi VPPL.
Một bộ phận không nhỏ những thanh thiếu niên không hoặc ít được học hành
dẫn đến ý thức về pháp luật, nhận thức về hành vi kém do đó rất dễ VPPL. Bên
cạnh đó nhiều bậc phụ huynh do mãi làm ăn kinh tế không chú ý đến nuôi dạy con
cái, thậm chí có thói quen dùng tiền để giải quyết mọi việc dẫn dến sự xuống cấp
đạo đức nghiêm trọng ở một bộ phận thanh thiếu niên.
Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn giữa các tầng lớp dân cư, vùng miền…
cũng dẫn đến nguy cơ xung đột mạnh mẽ hơn trong cộng đồng dân cư. Sự mâu
thuẫn giữa các thế hệ về quan điểm sống nên dẫn đến mối liên hệ và chịu sự tác
4


động của các thế hệ trước với thế hệ sau ngày càng kém tác dụng, dẫn đến việc
hành động nông nỗi theo ý chí chủ quan của thế hệ trẻ.
c.Nhóm nguyên nhân khách quan của điều kiện quan hệ quốc tế và xu thế
toàn cầu hóa.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vấn đề xuất khẩu tội phạm từ bên ngoài biên
giới quốc gia vào có ảnh hưởng rất tai hại đến tình hình an ninh trật tự xã hội nước
ta.Thông qua các kênh thông tin, các phương tiện khoa học-kĩ thuật hiện đại, hệ

2. Nguyên nhân chủ quan.
a. Nguyên nhân liên quan đến trách nhiệm của nhà nước.
Bộ máy nhà nước chưa được hoàn thiện ngang tầm với những chức năng và
nhiệm vụ mà xã hội mới đặt ra cho nó. Xã hội việt Nam ta hiện nay phức tạp, đa
dạng và năng động hơn nhiều so với trước đây do thực hiện một loạt chính sách,
trong đó có chính sách phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ 1986 đến nay. Trong
khi đó bộ máy nhà nước của ta mặc dù đã cố gắng nhưng vẫn chậm được hoàn thiện
và cũng cố kịp thời, do đó khó có thể ghánh vác hết được những nhiệm vụ mà cuộc
sống đặt ra cho nó.
Ví dụ: Trong lĩnh vực kinh tế, việc áp dụng nguyên tắc tự do kinh doanh, kinh
doanh không hạn chế quy mô đã dẫn đến đa dạng hóa các chủ thể tham gia hoạt
động kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh các doanh nghiệp truyền
thống đã xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công
ty. Vì vậy sự quản lí của nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh đã phải mở
rộng đến các loại hình doanh nghiệp mới này. Các tranh chấp giữa các doanh
nghiệp tư nhân cũng khác, không còn là các tranh chấp giữa các “đồng chí” mà là
tranh chấp giữa các chủ thể sở hữu với những quyền và lợi ích khác nhau. Cán bộ
làm công tác tranh chấp hợp đồng đã ít về số lượng lại thiếu về năng lực chuyên
môn, nên ở mọi cấp việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh khó có thể kịp
thời và đúng đắn...
Tóm lại tự thân pháp luật ít đi vào cuộc sống, trong nhiều trường hợp pháp
luật chỉ được thực thi thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước. Với một bộ máy
nhà nước thiếu về cơ cấu, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, lại bị nhiễm nặng các
bệnh quan liêu và tham nhũng như hiện nay thì pháp luật dù có hoàn thiện đến mấy
cũng khó phát huy hiệu lực trong cuộc sống.
Hiện nay vẫn còn sự buông lỏng quản lý của nhà nước đối với một số mặt của
đời sống xã hội. Thời gian qua do có quan niệm không đúng về mở rộng dân chủ,
về việc phải tôn trọng nhân quyền, trong đó có cả quyền tự do kinh doanh nên đã
xem nhẹ và nhiều nơi nhiều lúc buông lỏng sự quản lý của nhà nước. Nhiều người,

Trong một nền kinh tế mới đa dạng, và năng động như hiện nay thì việc đưa ra
một vài quyết định không đúng là khó tránh khỏi, vấn đề ở chỗ là khi phát hiện ra
sai lầm thì phải kiên quyết sửa sai, và như vậy mới ngăn ngừa được khả năng chính
sách đó gây ra hậu quả xấu.
b. Nguyên nhân từ cơ chế pháp luật.
Trong điều kiện kinh tế-xã hội biến đổi một cách nhanh chóng như hiện nay,
pháp luật tất yếu sẽ gặp khó khăn trong vấn đề thích ứng. Vì pháp luật phản ánh
cuộc sống mà cuộc sống thì vận động liên tục nên việc ban hành và hủy bỏ các văn
bản pháp luật cũng là chuyện thường tình. Chính vì thế mới có việc rà soát và thanh
7


lí các văn bản pháp luật. Phải nói rằng, trong những năm qua, việc này ta cũng chưa
làm được một cách nghiêm túc. Khi ban hành văn bản pháp luật nào cũng có một
điều: “những quy định đươc ban hành trước đây trái với văn bản này đều bị bãi bỏ”.
Nhưng trong vô số các văn bản được ban hành trong nhiều thời kì khác nhau thì
mấy ai, nhất là người dân biết được văn bản nào còn, văn bản nào mất hiệu lực để
chấp hành hay không chấp hành. Hậu quả là có khi ta đang vận dụng, thi hành một
quy định pháp luật đã cũ, đã lạc hậu, đã bị hủy bỏ mà vẫn nhầm tưởng rằng đang thi
hành đúng pháp luật. Xét cho cùng thì đó cũng là một hình thức VPPL. Không chỉ
thế, nhiều khi luật chưa kịp sửa đổi để thích ứng với yêu cầu của cuộc sống nên
buộc các cơ quan ban hành pháp luật phải ban hành các văn bản hướng dẫn hoặc
quy định trái với luật.Do đó sự không phù hợp của luật là một nguyên nhân dẫn đến
tình trạng bắt buộc phải VPPL bởi chính các cơ quan nhà nước. Trên thực tế, chúng
ta còn có thể thấy một số quy định trong các điều luật trở nên vô hiệu, thể hiện sự
không phù hợp của chính các quy định đó mà ví dụ rõ nhất là các quy định về thời
hạn trong bộ luật tố tụng hình sự. Các quy định này gần như không bao giờ được
tôn trọng trong quá trình tố tụng.
Một trong những nguyên nhân làm cho pháp luật của nước ta khó đi vào cuộc
sống là do những quy định của nó được xây dựng trên mong muốn chủ quan, duy ý

pháp luật, nhất là tội phạm. Bên cạnh đó pháp luật còn để ngỏ nhiều lĩnh vực không
kiểm soát làm cho các hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng nhiều khi bị bó
tay.
Vấn đề con người cũng đang có nhiều vướng mắc. Các lực lượng tham gia
phòng chống VPPL thiếu về năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt trong công
tác hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế; vấn đề này thực sự ảnh hưởng
nhiều đến hiệu quả hoạt động hợp tác với nước ngoài trong công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm, thậm chí có những vụ việc do tham mưu đề xuất của cơ sở
chưa chuẩn làm ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Không chỉ thế, sự kém hiệu quả của các hoạt động tư pháp nói chung và các
hoạt động tố tụng nói riêng vẫn chưa đươc khắc phục triệt để. Điều này thể hiện ở
những hiện trạng như chất lượng xét xử thấp, số vụ việc giải quyết gây oan, sai cho
công dân vẫn xảy ra trong tất cả các trình tự tố tụng, thi hành án chưa đạt chất
lượng, yêu cầu...Tất cả những thực tế đó dẫn đến hậu quả người dân hoài nghi về
tính nghiêm minh của pháp luật xã hội chủ nghĩa, không tin tưởng vào cơ quan nhà
nước, cơ quan bảo vệ pháp luật, không tố giác vi phạm pháp luật, không giúp đỡ cơ
quan thi hành pháp luật...
d. Nguyên nhân do ý thức pháp luật của các chủ thể vi phạm còn hạn chế.
Một thực tế khá phổ biến hiện nay của tình hình VPPL là nhiều trường hợp
VPPL xảy ra không hoàn toàn do ý thức chống đối xã hội của người vi phạm mà
nguyên nhân lại từ sự không hiểu biết pháp luật của chủ thể vi phạm. Mặt khác, sự
9


không hiểu biết pháp luật dễ dẫn đến tâm lí coi thường pháp luật, hoặc lợi dụng tình
hình kém hiểu biết pháp luật để thực hiện, che dấu hành vi phạm tội. Những thực
trạng này là nhân tố ảnh hưởng và là điều kiện thuận lợi cho các VPPL có cơ hội
phát triển.
e. Công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa được chú trọng
đúng mức khi ý thức pháp luật trong dân chúng còn nhiều hạn chế.

các mặt của đời sống xã hội. Bởi vì trong cuộc sống, nhiều trường hợp pháp luật chỉ
được thực thi thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước, do đó pháp luật có phát
huy tốt hiệu lực hay không trong cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào năng lực lãnh
đạo, quản lý, chuyên môn nghiệp vụ, sự trong sạch của bộ máy nhà nước...và cũng
phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện đến đâu của bộ máy nhà nước để đáp ứng những
chức năng và nhiệm vụ mà xã hội mới đặt ra cho nó.
2. Hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho sự thực
thi tuân thủ pháp luật.
Xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật có tính toàn diện, đồng bộ,
phù hợp, ổn định với trình độ pháp lý cao là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển
các hành vi hợp pháp,tích cực; là cơ sở pháp lý để tuyên truyền, giáo dục nâng cao
ý thức tôn trọng pháp luật, thói quen xử sự hợp pháp của các chủ thể pháp luật và
tiến hành đấu tranh phòng chống các hiện tượng tiêu cực, VPPL trong xã hội.
3. Nâng cao ý thức pháp luật và trình độ văn hóa pháp lý.
Nâng cao ý thức pháp luật và trình độ văn hóa pháp lý của các chủ thể là một
nội dung cơ bản của việc phát triển các hành vi hợp pháp, tích cực và hạn chế các
hành vi bất hợp pháp, tiêu cực. Các biện pháp cụ thể là: đẩy mạnh và nâng cao công
tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của công tác
đào tạo; bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật, thông qua
hoạt động của đội ngũ này pháp chế được cũng cố, ý thức pháp luật và trình độ
pháp lý của nhân dân được nâng cao; tạo điều kiện để thu hút đông đảo nhân dân
tham gia vào các quá trình xây dựng pháp luật, thông qua đó mọi người dân chủ
động nâng cao ý thức pháp luật và trình độ pháp lý.
4. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống VPPL, đảm bảo xử lý
nghiêm minh, kịp thời, chính xác các trường hợp vi phạm pháp luật.
Cụ thể, một số giải pháp trong thời gian tới có thể được thực hiện như: gắn
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội với nhiệm vụ cũng cố an ninh, trật tự xã hội, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà
nước nhằm loại bỏ các điều kiện làm nảy sinh, phát triển các hiện tượng tiêu cực và
VPPL; tăng ường xã hội hóa công tác đấu tranh phòng chống VPPL nhằm động

tiêu cực phát sinh mà cả đất nước phải đối mặt. Trong đó, vấn đề VPPL xảy ra phức
tạp, đang là một trong những nguyên nhân lớn nhất cản trở sự tiến bộ của xã hội. Vì
vậy, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống VPPL không phải là của riêng một cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào mà đang cần sự chung tay góp sức của mỗi thành viên trong
toàn xã hội. Việc nhận thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình VPPL, rút ra

12


được nguyên nhân và tìm ra được những giải pháp cơ bản để giải quyết thực trạng
đó cũng đang là yêu cầu cấp bách đối với nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền.
Đề tài mà em đã lựa chọn trên đây, dù mới chỉ là đề tài nghiên cứu, tìm hiểu
qua tài liệu, sách vở là phần lớn; nhưng ở góc độ cá nhân, bản thân đang là sinh
viên và với tư cách là một thành viên trong xã hội, cũng xin được phần nào chung
sức, góp phần nhỏ bé vào công tác đấu tranh phòng, chống VPPL; vì theo em, đối
với thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên-tầng lớp được trang bị nhiều tri thức thì dành sự
quan tâm cho vấn đề VPPL, dù đó là nhận thức về mặt lý luận hay thực tiễn thì
cũng đã phần nào chung sức mình vào công tác đấu tranh phòng và chống VPPL, vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status