0
B GIO DC V O TO
B Y T
I HC HU
TRNG I HC Y DC
NGUYN VN CHNH
Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định
LUN N CHUYấN KHOA CP II
HU - 2015
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) đặc trưng bỡi sự tắc nghẽn luồng
khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ
từ và là hậu quả của sự tiếp xúc lâu ngày với các chất và khí độc hại. Quá trình
viêm mất cân bằng của hệ thống Proteinase, anti- Proteinase, sự tấn công của các
gốc oxy tự do, làm phá hủy cấu trúc đường thở cũng như nhu mô phổi dẫn đến suy
giảm chức năng hô hấp. gây ra sự khó thở và các triệu chứng hô hấp khác, và ngày
càng làm xấu đi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Đây là nguyên nhân hàng đầu
gây ra cả về tử suất cũng như bệnh suất ở các quốc gia đã và đang phát triển. Từ
năm 1990 BPTNMT được thế giới xếp hạng là nguyên nhân thứ 12 gây ra tử vong
cộng sự Bệnh viện Universitario La Candelaria Tây Ban Nha nghiên cứu 129
bệnh nhân BPTNMT ổn định và 51 người hút thuốc lá được đo phế dung kế
bình thường và không mắc bệnh tim mạch cho kiểm tra nồng độ albumin niệu
và nhận thấy nồng độ albumin niệu ở nhóm bệnh nhân BPTNMT cao hơn ở
nhóm hút thuốc lá (Bệnh nhân BPTNMT chiếm 24%, hút thuốc lá chiếm 6%)và
có liên quan đến sự thiếu Oxy trong máu ( PaO2) [35].
Một nghiên cứu khác Bulcun E , Ekici M , Ekici A ,Kisa U Trường Đại
học Y khoa Kirikkale Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu 66 bệnh nhân BPTNMT và 40
người hút thuốc đo phế dung kế bình thường cho kiểm tra albumin niệu vi thể
cũng cho kết quả tỉ lệ albumin niệu vi thể ở bệnh nhân BPTNMT cao hơn hút
thuốc lá và nhận thấy albumin niệu vi thể phụ thuộc vào tình trạng nặng lên
BPTNMT và nồng độ PaO2 trong máu[31].
Tuy nhiên trong nước chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này. Vì vậy
chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định”
Nhằm các mục tiêu:
1 .Khảo sát nồng độ albumin niệu vi thể ở bệnh nhân BPTNMT do thuốc lá
giai đoạn ổn định bằng chỉ số albumin/creatinin niệu.Nong do albumin nieu the
2. Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ albumin niệu vi thể với tuổi, số
lượng thuốc lá được dùng, BMI, thời gian phát hiện bệnh, khó thở theo mMRC,
HA tâm thu, HA tâm trương, FEV1, FVC, khí máu động mạch, lipid máu.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1.1.1. Định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
bệnh nhân thì tỉ lệ là 9,2%. Bác sỹ chẩn đoán là 5,2% [78].
Hầu hết các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc BPTNMT tăng dần theo tuổi
và thói quen hút thuốc lá. Tỉ lệ mắc ở nam giới độ tuổi 70-74 cao gấp 6 lần so
với độ tuổi 55-59. Ở nữ giới, tỉ lệ mắc bệnh gia tăng từ sau 55 tuổi [5], [79].
Vì kĩ thuật đo hô hấp ký không được sử dụng rộng rãi trong một số
nghiên cứu dịch tễ ở các quốc gia, có một số nghiên cứu chỉ dùng triệu chứng
lâm sàng để chẩn đoán nên tỉ lệ mắc bệnh có sự không thống nhất ở một số
nghiên cứu.
Ước tính mức độ lưu hành BPTNMT ở Mĩ khoảng 13,5%, trong đó chủ
yếu là BPTNMT giai đoạn nhẹ và trung bình - theo nghiên cứu NHANES III
[24]. Ở châu Âu tỉ lệ này thay đổi từ 2% tại Hà Lan đến hơn 10 % tại Áo và
Đức. Tại Anh quốc, tỉ lệ mắc BPTNMT khoảng 6,4%, trong đó 4% nam và 3%
nữ. Tại Pháp, tỉ lệ này là khoảng 5%, Tây Ban Nha là 9,1% [79].
Theo nghiên cứu PLATINO, tại Nam Mĩ tỉ lệ BPTNMT ở đối tượng trên
40 tuổi dao động trong khoảng 7,8 - 20%.
Một nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy tỉ lệ mắc BPTNMT là 3,6% (nam
4,5% và nữ 1,8%).
Theo Zhong và cộng sự (2007), điều tra ở các đối tượng trên 40 tuổi ở 7
tỉnh và thành phố ở Trung Quốc thì tỉ lệ mắc BPTNMT là 8,2% (nam 12,4% và
nữ 5,1%).
Yoo KH và cộng sự (2011) nghiên cứu dịch tễ tại Hàn Quốc cho thấy tỉ lệ
BPTNMT ở lứa tuổi 19 trở lên là 8,8% và từ 40 tuổi trở lên là 13,4% [5].
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Ở nước ta, tại hội thảo "Kiểm soát hen và BPTNMT" năm 2007, tổ chức
Phòng chống bệnh hen và BPTNMT toàn cầu cho biết, Việt Nam là nước có tỷ lệ
mắc bệnh BPTNMT cao nhất châu Á - Thái Bình Dương với 6,7% dân số với trên
4 triệu người mắc hen; trong đó 3.000 người tử vong/năm [82].
Báo cáo của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi
giới [78].
- Sự tăng đáp ứng phế quản
6
Ảnh hưởng đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là không rõ. Sự gia tăng
đáp ứng phế quản có thể cũng phát triển sau khi tiếp xúc với khói thuốc lá hay
với những chất kích thích ở môi trường.
- Sự tăng trưởng phổi
Liên hệ với quá trình xảy ra trong mang thai, cân nặng lúc sinh và sự tiếp
xúc với môi trường trong thời kỳ thiếu niên làm chức năng hô hấp giảm tối đa
có thể gặp ở một số người [2].
1.1.3.2. Những yếu tố tiếp xúc
- Hút thuốc lá
Hút thuốc lá có tỷ lệ cao hơn về các triệu chứng hô hấp và các bất thường
chức năng phổi. Ở người hút thuốc lá, một tỷ lệ lớn suy giảm FEV1 hàng năm,
và tỷ lệ tử vong do BPTNMT cao hơn so với người không hút thuốc. Hút thuốc
lá thụ động cũng có thể góp phần vào các triệu chứng hô hấp và BPTNMT bằng
cách tăng gánh nặng toàn bộ phổi bởi các hạt và các loại khí hít vào. Hút thuốc
trong thời kỳ mang thai cũng có thể đặt ra một nguy cơ cho thai nhi, ảnh hưởng
đến sự tăng trưởng và phát triển phổi trong tử cung.
- Bụi và chất hóa học nghề nghiệp
Phơi nhiễm nghề nghiệp bao gồm các bụi hữu cơ, vô cơ, các tác nhân hóa
học và khói. Một tuyên bố được công bố bởi Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ kết
luận rằng phơi nhiễm nghề nghiệp chiếm từ 10 đến 20% các trường hợp có triệu
chứng hoặc suy giảm chức năng hô hấp phù hợp với BPTNMT.
- Ô nhiễm môi trường trong và ngoài nhà
Có bằng chứng cho rằng sự ô nhiễm từ nhiên liệu sinh học nấu ăn và sưởi
ấm trong những nhà ở thông khí kém là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với
ứng viêm ở những bệnh nhân này chưa được biết. Viêm phổi là sự khuếch đại
lớn hơn bởi các stress oxy hóa và sự ứ đọng các men protein trong phổi. Đồng
thời, các cơ chế này dẫn đến những thay đổi bệnh lý đặc trưng trong BPTNMT.
Có nhiều nghiên cứu đã xác định có mối liên quan giữa hút thuốc lá và
hiện tượng viêm. Khói thuốc lá kích hoạt đại thực bào và tế bào thượng bì sản
xuất ra nhiều chất như LTB4, IL8, TNF-α có khả năng làm tổn thương các cấu
trúc của phổi. Đặc điểm viêm trong BPTNMT là sự gia tăng đáp ứng bảo vệ đối
8
với sự tiếp xúc do hít các hạt và khí độc hại. Hiện tượng viêm do khói thuốc lá
có thể có tác động qua lại với các yếu tố kí chủ và các yếu tố từ môi trường gây
ra sự giảm chức năng hô hấp ở bệnh nhân BPTNMT.
Mặt khác, hai quá trình quan trọng góp phần trong bệnh sinh của
BPTNMT là sự mất quân bình của hệ men proteinase và antiproteinase và sự tác
động của các stress oxy hóa có thể gây hẹp đường hô hấp và phá hủy chủ mô
phổi [2], [3], [21].
Hình1.1: Cơ chế bệnh sinh của BPTNMT theo NHLBI và WHO (2006) [74]
(Nguồn: Workshop report, p.90 (2008).)
1.1.5. Giải phẫu bệnh học của BPTNMT
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là kết quả của thay đổi bệnh lý các thành
phần của phổi gồm đường dẫn khí lớn, đường dẫn khí nhỏ, nhu mô và mạch máu
phổi. Tại đường dẫn khí lớn (khí quản, phế quản có đường kính trong > 2mm) có
sự tăng sinh các tế bào ly, phì đại các tuyến tiết nhầy, loạn sản tế bào vẩy của lớp
biểu mô và thâm nhiễm những tế bào viêm ở bề mặt biểu mô.
9
10
Sự giới hạn lưu lượng khí là sự biến đổi quan trọng trong BPTNMT. Sự
giới hạn này là do hiện tượng tái cấu trúc, xơ hóa và hẹp đường thở nhỏ gây nên
sự tắc nghẽn cố định đường thở và đưa đến hậu quả là gia tăng kháng lực đường
thở. Bên cạnh đó, sự phá hủy phế nang (khí phế thủng) ngăn cản khả năng duy
trì sự mở của những đường khí nhỏ và làm mất tính đàn hồi của phổi, từ đó làm
giảm áp lực trong lòng phế nang. Sự phá huỷ thành ngoài của đường khí nhỏ,
mất tính đàn hồi của phổi do khí phế thủng và sự xuất tiết chất nhầy đã đóng
góp vào cơ chế gây tắc nghẽn đường khí ngoại vi.
Sự giới hạn lưu lượng khí được biểu hiện bởi sự giảm FEV1 và tỉ
FEV1/FVC trong đó tỉ FEV1/FVC giảm là dấu hiệu đầu tiên của sự giới hạn lưu
lượng khí. [2], [15]
1.1.6.3. Bất thường về sự trao đổi khí
Ở những bệnh nhân bị BPTNMT, sự tắc nghẽn đường khí ngoại vi, sự phá
huỷ chủ mô phổi và những bất thường về mạch máu gây ra sự mất quân bình
giữa thông khí / tưới máu dẫn đến tình trạng thiếu oxy máu và sau đó tăng khí
cácbonic máu. Lúc đầu tình trạng thiếu oxy máu chỉ xảy ra lúc gắng sức, nhưng
khi bệnh tiến triển nặng thì tình trạng thiếu oxy máu xảy ra lúc nghỉ ngơi. [2]
1.1.6.4. Tăng áp phổi và tâm phế mạn
Tăng áp phổi thường xảy ra khi bệnh nhân bị thiếu oxy nặng PaO 2
hoặc khi giảm diện tích khuếch tán (cắt phổi, vách phế nang bị hủy).
Người ta có thể gián tiếp đánh giá khả năng khuếch tán của phổi thông qua
việc đo phân áp O2 (PaO2) và phân áp CO2 (PaCO2) trong máu động mạch. Máy
phân tích khí trong máu dùng các điện cực để đo trực tiếp trong mẫu máu PaO 2
và PaCO2 và nồng độ H+ (được biểu diễn bằng trị số pH). Các trị số khác có liên
quan đến thăng bằng toan kiềm được tính toán từ PaCO2 và pH.
12
+ Các giá trị bình thường của PaO 2, PaCO2 , SaO2 và pH trong máu động
mạch [9]:
- PaO2
= 80 – 98 mmHg ( 10,6 – 13 kPa )
- PaCO2 = 38 – 43 mmHg ( 5 – 7 kPa )
- SaO2
= 95 – 97%
- pH
= 7,35 – 7,43
1.1.8. Chẩn đoán BPTNMT
1.1.8.1. Chẩn đoán xác định
Theo GOLD năm 2013 [51]
- Triệu chứng lâm sàng: bn có thể có một trong các dấu hiệu sau đây:
+ Trong tiền sử và/hoặc hiện tại có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ như hút
trục phải (> 1100), dày thất phải (R/S ở V6 - V1).
1.1.8.2. Chẩn đoán mức độ nặng của bệnh
- Chẩn đoán mức độ thông khí tắc nghẽn [51]
Bảng 1.1. Mức độ nặng của tắc nghẽn theo chức năng hô hấp[51]
Mức độ thông khí tắc nghẽn
(Theo chức năng hô hấp)
Giá trị FEV1 sau test giãn PQ
GOLD 1 (nhẹ)
FEV1 ≥ 80% trị số lí thuyết
GOLD 2 (trung bình)
50% ≤ FEV1 < 80% trị số lí thuyết
GOLD 3 (nặng)
30% ≤ FEV1 < 50% trị số lí thuyết
GOLD 4 (rất nặng)
FEV1 < 30% trị số lí thuyết
Phân độ trên dùng cho bệnh nhân đã được chẩn đoán BPTNMT khi tỷ
Gaensler: FEV1/FVC < 0,7 sau khi thử thuốc.
14
• mMRC: 2-4: nhiều triệu chứng: bệnh nhân thuộc nhóm B hoặc D
1.2. VIÊM TRONG BPTNMT
1.2.1. Viêm trong BPTNMT
Viêm đóng vai trò trung tâm trong cơ chế sinh bệnh của BPTNMT. Ở
người hút thuốc lá có sự phối hợp cả viêm đường hô hấp dưới và viêm hệ thống.
Sự thay đổi chủ yếu ở phổi của những người hút thuốc trẻ là một sự gia tăng
đáng chú ý của đại thực bào phế nang. Những tế bào này tập hợp các phân tử
sắc tố và tình trạng hoạt hóa và biểu thị gene bị biến đổi. Tuy nhiên, khi ngưng
thuốc lá thì sự thay đổi này có thể hồi phục. Một khi BPTNMT phát triển, có sự
gia tăng chủ yếu là đại thực bào, bạch cầu đa nhân và tế bào T-CD8+, mặc dù
bạch cầu ái toan cũng có thể hiện diện ở một số bệnh nhân, đặc biệt là trong đợt
bộc phát. [3], [90].
1.2.1.1. Tế bào Lympho T-CD8+
Có sự khác nhau có ý nghĩa về số lượng tế bào lympho T-CD8+ trong
đường dẫn khí ngoại biên và trung tâm ở người hút thuốc lá có hay không có
BPTNMT. Những phương pháp hóa mô miễn dịch đã được sử dụng để xác định
15
bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào và T- CD4+ và CD8+ tẩm nhuận tại
vách đường dẫn khí. Những người hút thuốc lá bị BPTNMT có một sự gia tăng
khối lượng cơ trơn gợi ý có sự tái cấu trúc đường dẫn khí và sự gia tăng số
lượng tế bào lympho T-CD8+ tương quan với mức độ giới hạn lưu lượng khí.
Mối liên quan giữa sự tẩm nhuận T- CD8+ và tổn thương cấu trúc và chức năng
động mạch gợi ý khả năng rằng T- lymphocyte CD8+ đóng một vai trò sớm
trong bệnh sinh các bất thường mạch máu phổi xảy ra trong các giai đoạn sớm
của BPTNMT. [3], [78].
1.2.1.2. Bạch cầu đa nhân trung tính đường thở
Bạch cầu đa nhân trung tính cũng gia tăng số lượng và liên quan với độ
H2O2 gia tăng trong hơi thở của những bệnh nhân BPTNMT trong giai đoạn ổn
định và đợt bộc phát cấp của BPTNMT được cho là có nguồn gốc một phần từ
sự gia tăng phóng thích superoxide anion (O2–) từ đại thực bào phế nang.
Những stress oxy hóa ngoài việc gây tổn thương trực tiếp phổi còn góp
phần vào sự mất quân bình
proteinase - antiproteinase bởi sự bất hoạt
antiproteinase (như α1 antitrypsine và SLPI) và bởi sự hoạt hóa proteinase (như
MMPs). Những chất oxy hóa cũng thúc đẩy phản ứng viêm, ví dụ như bởi sự
hoạt hóa yếu tố sao chép NF-kB, IL8 và TNF. Cuối cùng những stress oxy hóa
có thể góp phần làm hẹp đường hô hấp. H2O2 gây co thắt cơ trơn phế quản trong
phòng thí nghiệm và isoprostane F2III là một chất gây co thắt phế quản mạnh
ở người [3],[70].
1.2.3. Viêm tiếp diễn sau khi ngưng hút thuốc lá
Vì các đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính là những tế bào quan
trọng nhất gia tăng trong đường dẫn khí và phế bào ở BPTNMT, vai trò của
lymphocyte trong viêm cũng được chú ý đến. Có mối liên quan rõ ràng giữa bề
dày toàn bộ thành đường dẫn khí và độ nặng của sự tắc nghẽn lưu lượng khí.
Cũng như có một sự phối hợp giữa độ nặng của sự tắc nghẽn và bề dầy của biểu
mô, lá thành, cơ trơn và nội mạc. Có chứng cứ là có sự đáp ứng miễn dịch thích
nghi được biểu hiện bởi sự hiện diện của tế bào T và B chứa trong những nang
lympho trong 25% đến 35% đường dẫn khí ở bệnh nhân BPTNMT nặng [3].
17
1.2.4. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và viêm hệ thống
Trong BPTNMT, đặc biệt giai đoạn nặng và trong đợt bộc phát cấp, các
tác giả thấy có bằng chứng của viêm hệ thống với sự gia tăng các cytokines,
Đột quỵ
Nhồi máu cơ tim cấp
Yếu cơ
Sút cân
Loãng xương
Đái tháo đường
Cơ xương
Gan
tủy xương
Thoái biến cơ
Xương tủy
Bạch cầu và
tiểu cầu
Bệnh mạch máu
Loãng xương
Hình 1.2. Đáp ứng viêm toàn thân và tại chỗ trong bệnh BPTNMT [90]
(Nguồn: Respiration,75, pp. 224-238 (2008)).
1.2.5. Đáp ứng pha cấp (Acute-phase response)
Đáp ứng pha cấp là phần quan trọng và sớm của đáp ứng miễn dịch bẩm
sinh. CRP là chỉ dấu chính của đáp ứng pha cấp và liên quan đến sự gia tăng
nguy cơ bệnh lí tim mạch như nhồi máu cơ tim cấp, cơn đau thắt ngực không ổn
CRP máu đã được thông báo. Ngưng điều trị corticosteroids khí dung sẽ làm gia
tăng có ý nghĩa nồng độ CRP trên bệnh nhân BPTNMT. Bởi vì CRP là một chỉ
dấu sinh học của đáp ứng viêm hệ thống và liên quan với độ trầm trọng của các
biến chứng tim mạch nên nhiều nghiên cứu đã xem đáp ứng viêm hệ thống
trong BPTNMT đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ giữa BPTNMT và
bệnh lí tim mạch [27], [77].
Một protein pha cấp khác là fibrinogen cũng thấy gia tăng trong BPTNMT,
đặc biệt là trong đợt bộc phát cấp. Người ta thấy sự liên quan của việc gia tăng
fibrinogen với sự suy giảm FEV1 [80], [86], [89] và gia tăng nguy cơ nhập viện
của bệnh nhân BPTNMT [48]. Wedzicha và cộng sự thấy rằng trong đợt bộc phát
cấp của BPTNMT, nồng độ fibrinogen huyết tương góp phần vào sự bất thường
nội môi và rối loạn đông máu đưa đến các biến cố tim mạch. Fowbeer và cộng sự
thấy có sự gia tăng D - dimer máu ở bệnh nhân BPTNMT [90].
20
Amyloid huyết thanh (SAA) là một protein pha cấp khác được phóng
thích bởi các cytokines tiền viêm từ gan, nhưng không giống CRP, SAA còn
được phóng thích từ các mô viêm. Các tác giả thấy có sự gia tăng SAA trong
đợt bộc phát cấp BPTNMT và nồng độ SAA liên quan với mức độ trầm trọng
của đợt cấp. SAA gắn với vi khuẩn gram âm và là một phần của cơ chế miễn
dịch bẩm sinh chống lại vi khuẩn, nhưng SAA cũng có tác dụng tiền viêm bao
gồm hoạt hóa tế bào nội mạc, bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân và tế bào
Th17 để phóng thích các chất trung gian tiền viêm và ức chế tác dụng của
lipoxin kháng viêm. SAA hoạt hóa thụ thể Toll-like 2 dẫn đến hoạt hóa NF-kB
[2], [5].
Protein surfactant (SP - D) là một glycoprotein được tiết chủ yếu bởi type
II pneumocyte và tế bào club (club cells hay Clara cells) và đóng vai trò trong
miễn dịch bẩm sinh chống lại vi sinh vật. SP-D huyết thanh tăng ở người hút
Trong khi số lượng bạch cầu trung tính máu không phải luôn luôn tăng
trong BPTNMT giai đoạn ổn định [89], có sự tương quan nghịch giữa số
lượng bạch cầu trung tính và FEV1. Bạch cầu trung tính từ bệnh nhân
BPTNMT còn thấy tăng sản sinh các gốc tự do (ROS) để đáp ứng với các tác
nhân kích thích. Mặc dù không thấy sự khác nhau trong quá trình chết theo
chương trình của các bạch cầu trung tính máu ở bệnh nhân BPTNMT và
người hút thuốc lá, có một sự suy giảm L-selectin và gia tăng trình diện CD
11b ở bệnh nhân BPTNMT [75].
Tế bào T máu gia tăng số lượng của CD4+CD28null và CD8+CD28null và
các tế bào T này chứa và phóng thích perforins và granzyme B. Tế bào γδT-cell
gia tăng ở người hút thuốc lá bình thường nhưng không tăng trong BPTNMT
[27], [87].
Sự giảm sút trong chức năng thực bào và độc tế bào của tế bào giết tự
nhiên (NK) máu được thấy ở bệnh nhân BPTNMT. Có một sự suy giảm số
lượng invariant NK T-cell máu.
1.2.6. Chất trung gian gây viêm
Bệnh nhân BPTNMT có sự gia tăng hơn bình thường nồng độ các chỉ dấu
sinh học tiền viêm. Sự gia tăng nồng độ TNF- α và thụ thể của chúng (TNFR-55
và TNFR-75) liên quan với sự hoạt hóa bạch cầu và sụt cân ở bệnh nhân
22
BPTNMT. Có sự gia tăng nồng độ IL-6 và IL-8 trong đợt bộc phát cấp [78].
Người ta cũng thấy có sự gia tăng IL-6 và IL-1β ở người hút thuốc lá mạn tính
không bị BPTNMT. Các cytokines này có lẽ chịu trách nhiệm cho đáp ứng tủy
xương ở bệnh nhân BPTNMT. IL-8, yếu tố tăng trưởng sinh máu G-CSF và IL6 có tác dụng kích thích tủy xương và có thể là chất trung gian ứng cử cho đáp
ứng tủy xương liên quan với BPTNMT. IL-6 là chất trung gian quan trọng của
đáp ứng pha cấp và các tác giả cũng nhận thấy cytokine này kích thích mạnh tủy
xương phóng thích bạch cầu và tiểu cầu và còn là một cytokine tiền viêm quan
TNF-α và IL-1β cùng với IL-6 chịu trách nhiệm cho hoạt hóa đáp ứng
pha cấp. Đáp ứng này sinh ra CRP, fibrinogen và các tác nhân đông máu khác
liên quan với các biến cố tim mạch do tắc mạch [48], [62],[77].
CXCL8 và các chemokines CXC khác đóng một vai trò quan trọng trong
việc huy động bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân. CXCL8 máu cũng gia
tăng ở bệnh nhân BPTNMT và liên quan yếu cơ.
Tóm lại, các cytokines viêm hệ thống trên bệnh nhân BPTNMT có khả
năng phát động một đáp ứng viêm hệ thống đặc điểm bởi sự gia tăng bạch cầu,
tiểu cầu máu cũng như các protein tiền đông máu và tiền viêm. Chúng cũng có
khả năng hoạt hóa bạch cầu và nội mạc của giường mao mạch để thúc đẩy sự
xâm nhập và kết dính giữa bạch cầu và nội mạc mạch máu.
1.2.7. Mối liên hệ giữa phổi và phản ứng viêm hệ thống
Quá trình viêm ở phổi đưa đến viêm hệ thống. Người ta cho rằng quá trình
viêm ở phổi có thể đưa đến viêm hệ thống. SP-D được sản xuất chủ yếu tại phổi
từ tế bào pneumocyte type 2 và tế bào club nhưng lại gia tăng trong huyết thanh
bệnh nhân BPTNMT, mặc dù sự gia tăng này cũng thấy ở một số bệnh viêm
phổi khác. Khi hít phải các hạt bụi nhỏ (đường kính < 10 m) ở trong không khí
ô nhiễm sẽ đưa đến hoạt hóa đại thực bào phế nang sản xuất cytokines bao gồm
IL-1β, IL-6 và GM-CSF. Các cytokines này đi vào máu kích thích đáp ứng tủy
xương làm gia tăng bạch cầu và tiểu cầu. Các hạt có kích thước rất nhỏ
(nanoparticles) có khả năng vào thẳng hệ tuần hoàn và gây đáp ứng viêm. Các
cytokines TNF-α, IL-1β, IL-6, GM-CSF và CXCL gia tăng trong đàm, dịch rửa
phế quản và trong máu của bệnh nhân BPTNMT giải thích cho đáp ứng viêm
này. Tuy nhiên, không có mối liên quan tốt giữa nồng độ trong đàm và huyết
24
thanh. Điều này có thể giải thích do sự chuyển hóa của cytokines trong máu và
sự gắn của nó lên các thụ thể. Hơn nữa, nồng độ ở trong đàm phản ánh phản