Nghiên cứu giá trị của nghiệm pháp đi bộ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định - Pdf 19

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) đặc trưng bởi sự tắc nghẽn
luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở thông khí này thường
tiến triển từ từ và là hậu quả của sự tiếp xúc lâu ngày với các chất và khí độc
hại [51], [52]. Quá trỡnh viêm, mất cân bằng của hệ thống proteinase, anti-
proteinase, sự tấn công của các gốc oxy tự do, làm phá hủy cấu trúc đường
thở cũng như là nhu mô phổi dẫn đến suy giảm chức năng hô hấp.
BPTNMT vẫn đang là một thách thức lớn về sức khỏe đối với y học
toàn cầu, vì tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong ngày càng gia tăng, kèm theo là
chi phí điều trị cao và hậu quả gây tàn phế của bệnh.
Các nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (Global burden of
disease study) dưới sự bảo trợ của WHO và World bank cho thấy, trên thế
giới hiện nay có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT. Tỷ lệ mắc ước tính
khoảng 9,34/1000 ở nam giới và 7,33/1000 ở nữ giới [51]. Tuy nhiên những
nghiên cứu gần đây từ các cuộc điều tra của các quốc gia ở châu Âu cho thấy,
tỷ lệ mắc vào khoảng 80-100/100.000 dân ở những vùng có tỷ lệ hút thuốc lá
cao. BPTNMT đang là gánh nặng bệnh tật và là nguyên nhân gây tàn phế
đứng hang thứ 12 và dự đoán sẽ vươn lên đứng hàng thứ 5 trong năm 2020
[11], [34], [51], [52].
Tỷ lệ tử vong do BPTNMT cũng gia tăng theo thời gian, năm 1990 trên
thế giới có khoảng 2,2 triệu người chết và là nguyên nhân gây tử vong đứng
hàng thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong. Năm 2000 có 2,7 triệu người
chết vì BPTNMT[66]. Hiện nay BPTNMT đang là nguyên nhân gây tử vong
đứng hàng thứ 5. TCYTTG dự đoán đến năm 2020 BPTNMT sẽ là nguyên
nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 [24], [52], [70]. Mỗi năm có 400.000 người
chết vì BPTNMT ở các nước công nghiệp phát triển và 650.000 đối với khu
2
vực đông nam Á. Với tính chất tiến triển trầm trọng như vậy BPTNMT đang
trở thành mối lo ngại về sức khỏe và là mục tiêu quan tâm của nhiều quốc gia
trên thế giới.

mô tả tình trạng tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn. Trong khi đó
ở các quốc gia khác ở châu Âu thì sử dụng danh từ viêm phế quản mạn tính
(VPQMT) và khí phế thũng (KPT). Giai đoạn năm 1968 sau lần sửa đổi thứ 8
về phân loại bệnh tật thuật ngữ VPQMT và KPT vẫn còn được sử dụng rộng
rãi. Trong những năm 1970 danh từ BPTNMT đã được sử dụng rộng rãi ở Mỹ
nhưng không phải là tất cả các nước trên thế giới. Theo thời gian thuật ngữ
BPTNMT đã dần dần thay thế cho cụm từ “VPQMT và KPT” [52].
Trong hội nghị lần thứ 10 – 1992 của WHO bàn về sửa đổi phân loại
bệnh tật đã nhất trí dùng thuật ngữ BPTNMT trong chẩn đoán và thống kê bệnh
tật. Kể từ đó nhiều công ước quốc tế về hướng dẫn chẩn đoán, điều trị, quản lý
bệnh đã ra đời, nhằm giảm tỷ lệ tử vong và ngăn chặn sự gia tăng của bệnh.
Thực tế là năm 1995 các hiệp hội hô hấp của các châu lục như hội lồng ngực Mỹ
(ATS), hội hô hấp châu Âu (ERS), hội lồng ngực Anh (BTS), lần đầu tiên đã
đưa ra các hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị BPTNMT.
Năm 1997 Viện Huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (National Heart,
Lung and Blood institute – (NHLBI) phối hợp với WHO đề ra trương trình khởi
động toàn cầu về phòng chống BPTNMT viết tắt là GOLD (Globol Initative for
Chronic Obstructive Pulmonary Disease). Năm 2001, GOLD đã đưa ra bản
khuyến cáo về quản lý, điều trị BPTNMT và lấy ngày 16 tháng 11 làm ngày
BPTNMT toàn cầu. Năm 2003 và năm 2005 GOLD đã đưa ra bản cập nhật
4
hướng dẫn chẩn đoán và điều trị BPTNMT. GOLD đã mang lại cho các nhà lâm
sàng một cái nhìn toàn diện về bệnh, hướng dẫn chẩn đoán sớm dựa trên cơ sở
các hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây bệnh đã được phát hiện.
Song song với việc thống nhất về thuật ngữ là sự thống nhất về mặt định
nghĩa. Hội lồng ngực Hoa Kỳ (AST) năm 1995 đã định nghĩa: BPTNMT là
một bệnh lý đặc trưng bởi tình trạng tắc nghẽn lưu lượng thở. Sự tắc nghẽn này
có tính tiển triển và không hồi phục hoặc chỉ hồi phục một phần, thường phối
hợp với sự tăng phản ứng đường thở do VPQMT hoặc KPT gây ra [12], [20].
Trong đó:

thư và đột qụy. Trong số 28 nước công nghiệp, Mỹ được xếp hàng thứ 12 về
tỷ lệ tử vong do BPTNMT và các bệnh tương tự ở nam giới và hàng thứ 7 ở
nữ giới [24] chi phí và gián tiếp cho bệnh tính theo ngân sách quốc gia năm
1993 là 23,9 tỷ đô la. Với khoảng 15,7 triệu trường hợp mắc BPTNMT ở Mỹ,
ước tính giá chi phí cho bệnh BPTNMT là 1.522 USD cho 1 bệnh nhân trong
1 năm. Trong năm 1996 ở Mỹ tính ra mất 24 triệu ngày làm việc do
BPTNMT [22], [51], [52], [64].
Các nghiên cứu của 2 thập kỷ trước cho thấy khoảng 4 – 6% dõsố
người lớn ở châu Âu mắc các triệu chứng lâm sàng của BPTNMT. Theo ước
tính của WHO thì trong năm 1997 BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong ở
4,1% nam giới và ở 2,4% là ở nữ giới châu Âu. Hội Hô hấp châu Âu cung cấp
dữ liệu về tỷ lệ tử vong vì BPTNMT trong năm 2003, thấp nhất ở Hy lạp
(6/100.000 dân) và cao nhất ở Kyrgyzstan (95/100.000 dân) [46].
6
Ở Phỏp cú 2,5 triệu người mắc BPTNMT, tỷ lệ mắc chiếm cỡ 5% dân
số cả nước [31]. Khoảng 1/3 số này có hội chứng tắc nghẽn. 1/5 số bệnh nhân
tắc nghẽn có suy hô hấp mạn tính, như vậy có khoảng 150.000 đến 20.000
người có suy hô hấp mạn tính. Năm 1997 số người chết vì BPTNMT là 14942
(8730 đối với nam và 6212 đối với nữ), tương đương với 25,5 người/100.000
dân (30,7 nam và 20,7 nữ) .
BPTNMT được xác định với tỷ lệ mắc là 6,2% ở 11 nước thuộc hiệp
hội bệnh hô hấp châu Á Thái bình dương, [59].
Trung Quốc là nước có tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất so với cỏc vựng
khỏc trong cùng khu vực (26,2/1.000 ở nam và 23,7/1.000 ở nữ) [51], [52].
Bệnh phổi mạn tính là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở các thành
phố lớn và đứng hàng đầu ở nông thôn của trên 50% nam giới hút thuốc ở
Trung Quốc [71]. Theo đánh giá của hội lồng ngực Đài Loan thỡ cú tới 16%
dân số Đài Loan (lứa tuổi > 40 tuổi) mắc bệnh này. Năm 1994 tỷ lệ tử vong
do BPTNMT là 16,16/100.000 dân và BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong
đứng hàng thứ 6 ở Đài Loan [58].

Lúc đầu là ho ngắt quãng sau là ho hàng ngày và thường là ho cả ngày.
• Ở giai đoạn ổn định ho kèm theo khạc đờm nhầy, số lượng đờm thay
đổi tùy theo từng bệnh nhân. Để xác định lượng đờm thường khó khăn vì
8
bệnh nhân đôi khi nuốt đờm hoặc không để ý. Đờm trở thành đờm mủ trong
đợt cấp.
• Sự xuất hiện khó thở khi gắng sức làm cho tiên lượng bệnh tồi hơn và
chứng tỏ sự suy giảm CNHH nặng lên. Khó thở tiến triển từ từ và bệnh nhân
cố gắng làm giảm cảm giác khó thở bằng cách tự giảm gắng sức, biến đổi
kiểu thông khí để thích nghi do vậy làm cho sự phát hiện nó bị chậm trễ. Mức
độ khó thở khi gắng sức có thể đánh giá rất dễ dàng dựa trên khả năng hoạt
động của bệnh nhân trong cuộc sống hàng ngày (leo cầu thang, khoảng cách
đi bộ trên đường thẳng) và lượng giá theo thang khó thở.
• Theo Maitre B và CS (1996) thì đau ngực không phải triệu chứng lâm
sàng của BPTNMT, nhưng đau ngực lại gợi ý đến biến chứng của BPTNMT
[49]. Có 2 biến chứng hay gặp là tràn khí màng phổi và tắc động mạch phổi
[28]. Khi chức năng phổi giảm rõ, bệnh nhân khó thở rõ rệt hơn, bệnh nhân
thở rít và có cảm giác đau tức ngực [31].
1.3.1.3. Triệu chứng thực thể
• Theo Loveridge và CS (1986): Triệu chứng thực thể trong
BPTNMT có giá trị trong định hướng chẩn đoán. Dấu hiệu thực thể hay gặp
nhất là rì rào phế nang giảm hai đáy phổi và thời gian thở ra kéo dài. Có thể
nghe thấy ran ẩm nhỏ hạt ở thì thở vào [43].
• Lồng ngực thường bị biến dạng, tăng đường kính trước sau (lồng
ngực hình thùng), nếu bệnh nặng thì bệnh nhân thở ra phải mím môi lại, ngồi
thở, hai tay chống về phía trước [8], [43].
• Khe gian sườn thấp bị rỳt lừm khi hít vào (dấu hiệu Hoover), khí
quản co rút vào hõm ức khi hít vào (dấu hiệu Campbell), hai dấu hiệu này hay
gặp ở bệnh nhân BPTNMT mức độ nặng, có rối loạn thông khí rõ rệt.
9

trước hoặc đồng thời với hạn chế lưu lượng khí thở ra [54]. Cả hai thể bệnh
đều là hậu quả của các yếu tố nguyên nhân (như hút thuốc lá), thường xuất
hiện cùng nhau và đó không phải là thể VPQMT đơn thuần hay KPT đơn
thuần, mà đa số BPTNMT có phối hợp cả 2 thể này [25].
1.3.2.Cận lâm sàng:
* X quang: Để theo dõi và chẩn đoán các biến chứng của BPTNMT .
- Hình ảnh VPQMT: Theo Fraser R.S và CS (1994) có khoảng 20 –
50% hình ảnh X quang phổi bình thường, có 2 dấu hiệu gợi ý là:
+ Hình ảnh dày thành phế quản: Trên phim X quang phổi thấy dấu hiệu
đường ray xe điện hoặc dấu hiệu hình nhẫn dương tính.
+ Hình ảnh phổi bẩn, có tương quan về tổ chức học với viêm mạn tính
và xơ hóa nhẹ. Thành phế quản dày còn tạo nên các hình ảnh đường ray, hình
ảnh ống nhòm (hội chứng phế quản). Khi có bội nhiễm thỡ viờm phế nang ở
xung quanh phế quản tạo nên các bóng, nốt mờ (hội chứng phế nang), các ổ
sáng hình ống, các hình ảnh vòng tròn thường nhỡn rừ ở hai nền phổi, kèm
theo viêm xung quanh phế quản tạo nên hình ảnh phổi bẩn (dirty lung).
Nhưng hình ảnh viêm này không đặc hiệu [30].
- Hội chứng mạch máu:
+ Động mạch phổi ngoại vi thưa thớt tạo nên một vùng giảm động
mạch kết hợp với hình ảnh căng giãn phổi.
+ Hình ảnh động mạch phổi tăng đậm: Mạch máu nhìn thấy rõ, tăng
kích thước và phân bố sát tới vùng ngoại vi của phổi.
11
- Hỡnh ảnh giãn phế nang: Tam chứng cổ điển của hình ảnh KPT là:
Dấu hiệu căng giãn phổi, giảm tuần hoàn phổi, cỏc búng khớ thũng.
* Thông khí phổi:
Đo thông khí phổi là xét nghiệm cần thiết cho chẩn đoán, nhất là chẩn
đoán sớm, xác định mức độ nặng nhẹ và theo dõi tiến triển của bệnh [35], [62].
FEV
1

1
/FVC < 70%; FEV
1
< 30% SLT hoặc FEV
1
< 50% SLT
Nhưng có triệu chứng suy hô hấp mạn.
Đặc điểm chính của BPTNMT là RLTK tắc nghẽn không hồi phục, làm
test hồi phục phế quản có giá trị chẩn đoán phân biệt với hen phế quản [14].
Theo GOLD (2006), test hồi phục phế quản dương tính khi FEV
1
tăng > 12%
12
(hoặc FVC tăng > 15%) hoặc trên 200ml sau khi cho bệnh nhân phun hít
400àg salbutamol.
* Khớ máu động mạch trong BPTNMT
BPTNMT thường gây giảm oxy máu động mạch (PaO
2
) là do mất cân
bằng giữa thông khí – tưới máu.
Do vậy thăm dò khớ mỏu cho bệnh nhân BPTNMT là rất cần thiết [15].
Việc đo và phân tích các thành phần khớ mỏu động mạch để đánh giá tình
trạng hô hấp trong các bệnh phổi đã được nhiều tác giả đề cập [67].
Bình thường PaO
2
từ 80 - 100 mmHg, ở người trên 60 tuổi thì PaO
2
bình
thường là 70 mmHg; bình thường PaCO
2

2
vẫn bình thường. Có khi PaCO
2
tăng nhưng cơ thể bù trừ bằng tăng
bicacbonat, do vậy pH vẫn bình thườn.
BPTNMT giai đoạn nhẹ đến trung bình thường chỉ giảm PaO
2
máu đơn
thuần không kèm theo tăng PaCO
2
; khi chuyển sang giai đoạn nặng thì kèm
theo tăng PaCO
2
. Tuy nhiên PaCO
2
tăng khi FEV
1
giảm < 1,2 lít, nếu khi
FEV
1
> 1,5 lít mà có tăng PaCO
2
mỏu thì khả năng có thể do rối loạn của
trung khu hô hấp. Trong các đợt bùng phát tình trạng suy hô hấp càng nặng
lên [29].
Barnes P.J và CS (1997) [15] cho rằng chẩn đoán suy hô hấp dựa vào
khớ mỏu động mạch, điều quan trọng là có suy hô hấp cấp hay không? Tác
giả đưa ra 3 trạng thái điển hình của khớ mỏu động mạch trong BPTNMT.
13
Bảng 1.1. Áp lực khí trong máu động mạch:

/FVC)
<70% và/hoặc chỉ số Tiffeneau (FEV
1
/VC) <70% sau test HPPQ.
- Chẩn đoán mức độ bệnh theo tiêu chuẩn của GOLD – 2006.
1.4. NGHIỆM PHÁP ĐI BỘ 6 PHÚT:
14
1.4.1. Sơ lược lịch sử, sự ra đời của nghiệm pháp đi bộ 6 phút:
Trước kia để đánh giá khả năng gắng sức của người bệnh, người ta
thường hỏi bệnh nhân đi được bao nhiêu bậc cầu thang? Anh chị có thể đi qua
được bao nhiêu dãy nhà? Sự đánh giá này thường không chính xác vì phụ
thuộc vào nhận định chủ quan của người bệnh [13]. Theo thời gian để cú cỏch
đánh giá chính xác hơn các nhà lâm sàng đã tìm ra những phương pháp đánh
giá khách quan đem lại kết quả cao như: NPĐB6P, test leo cầu thang, test đi
bộ con thoi, đạp xe lực kế [13]
Năm 1960 Balke B. phát minh ra một nghiệm pháp đơn giản để đánh giá
khả năng gắng sức của bệnh nhân bằng cách đo khoảng cách đi bộ trong 12
phút. Nghiệm pháp này cũng áp dụng để đánh giá sức khỏe ở người khỏe
mạnh, mức độ tàn phế của bệnh nhân VPQMT, nhưng thực tế thấy rằng
nghiệm pháp này thực hiện với thời gian dài làm bệnh nhân mệt mỏi quá mức
do đó không thích hợp. Vì vậy năm 1982 Butland R.J.A. và CS đã tìm ra
NPĐB6P có khả năng đánh giá tương tự như nghiệm pháp đi bộ 12 phút,
nhưng thời gian ngắn hơn do vậy bệnh nhân thực hiện dễ hơn, nghiệm pháp
này cũng phản ánh tốt khả năng thích nghi với hoạt động hàng ngày của bệnh
nhân [19].
Nghiệm pháp đi bộ 6 phút thường dùng để đánh giá khả năng gắng sức của
người mắc bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, bệnh hô hấp, bệnh lý về cơ…
trong các bệnh về hô hấp đặc biệt BPTNMT, NPĐB6P còn được dùng để
đánh giỏ hiệu quả của điều trị. Đi bộ là hoạt động thể lực thường ngày của
con người nhưng ở bệnh nhân mắc những bệnh kể trên thường bị giảm nặng

 Bệnh lý cơ xương khớp mạn tính ảnh hưởng đến vận động
 Bất đồng ngôn ngữ, thính lực, thị lực kém.
1.4.3. Đánh giá kết quả và các yếu tố ảnh hưởng:
- Cách đánh giá kết quả:
Theo Enright P.L. và CS (1998), khi nghiên cứu trên 117 nam giới
khỏe mạnh và 173 nữ giới khỏe mạnh tuổi từ 40-80 thấy KCĐB6P trung bình
cho đàn ông là 576m; cho phụ nữ là 494m. Enright P.L. và CS (1998)
Đưa ra phương trình tính số lý thuyết cho KCĐB6P ở người lớn, khỏe
mạnh như sau:
+ Nam giới: KCĐB6P = (7,57 x Chiều cao
cm
) – (5,02 x Tuổi) – (11,76 x
Cân nặng
kg
) – 309m.
+ Nữ giới: KCĐB6P = (2,11 x Chiều cao
cm
) – (2,29 x Cân nặng) – (5,78
x Tuổi) + 667m [26].
Theo Troosters T. và CS (1999), KCĐB6P ở người khỏe mạnh = 631 ±
93m. Tác giả đưa ra công thức tính KCĐB6P như sau:
KCĐB6P = 218 + (5,14 x Chiều cao
cm
) – (5,32 x Tuổi) – (1,8 x Cân
nặng
kg
) + (5131 x Giới). (trong đó: Giới tính được tính như sau: Nam=1;
Nữ=0) [66].
- Các yếu tố có thể làm giảm KCĐB6P:
17

 Bệnh nhân ngoài đợt cấp: không có các dấu hiệu nặng lên của
bệnh (ho khạc đờm mủ, sốt, khó thở tăng hơn bình thường, dùng
các thuốc giãn phế quản thông thường không đỡ, CRP bình
thường, BC mỏu khụng tăng, x-quang phổi không có dấu hiệu
viêm, tràn khí màng phổi, tắc mạch phổi…)
19
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Nội dung nghiên cứu:
* Nhận xét một số đặc điểm của bệnh nhân:
+ Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng: Về tuổi giới, tình trạng dinh
dưỡng, mức độ khó thở, thể lâm sàng, biến chứng.
+ Kết quả đo thông khí phổi: Giá trị trung bình của một số chỉ tiêu
thông khí phổi và phân loại RLTK.
+ Kết quả đo khí máu: Giá trị trung bình của một số chỉ tiêu khớ mỏu
động mạch.
* Nhận xét về kết quả đo KCĐB6P:
+ Giá trị của KCĐB6P trung bình, KCĐB6P trung bình theo giới.
+ Đánh giá những thay đổi của: Mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO
2
, tỷ lệ
triệu chứng: Đau ngực, chóng mặt, đau chân, xuất hiện dấu hiệu co thắt phế
quản sau nghiệm pháp
+ Tỷ lệ giảm độ bão hòa oxy (SpO
2
) sau khi thực hiện NPĐB6P.
* Nhận xét về mối liên quan giữa KCĐB6P với các chỉ tiêu:
+ Liên quan giữa KCĐB6P với: Tuổi, tình trạng dinh dưỡng, mức độ
khó thở, giai đoạn bệnh, thể lâm sàng và biến chứng.
+ Liên quan giữa KCĐB6P với chỉ tiêu thông khí phổi.
+ Liên quan giữa KCĐB6P với khớ mỏu động mạch.

Đơn vị
1 Dung tích sống thở chậm CV lít
2 Dung tích sống thở gắng sức FVC Lít
3 Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên FEV
1
Lít
4 Chỉ số Tiffeneau FEV
1
/VC %
5 Chỉ số Geansler FEV
1
/FVC %
6 Lưu lượng thở ra tối đa ở nửa giữa FVC FEF
25-75%
Lít/giây
* Nguồn: Theo Nguyễn Văn Tường, Trần Văn Sáng [10].
+ Quy trình đo:
21
Chuẩn bị mỏy: Mỏy được chuẩn định và kiểm tra đầy đủ các điều kiện
(đo độ ẩm không khí, nhiệt độ phòng, áp suất khí quyển, thử test chuẩn).
Chuẩn bị bệnh nhân đo: Bệnh nhân phải được nghỉ ít nhất 15 phút trước
khi đo. Bệnh nhân ở tư thế ngồi, được ghi tên tuổi, chiều cao, cân nặng và
được giải thớch cỏc bước đo theo một trình tự thống nhất, làm mẫu trước.
. Đo dung tích sống thở chậm (VC): Bệnh nhân hít vào thở ra bình
thường khoảng 3 chu kỳ sau đó hít vào từ từ thật tối đa rồi thở ra từ từ thật tối
đa, đo 3 lần, lấy kết quả cao nhất.
. Đo dung tích thở mạnh (FVC): Bệnh nhân hít vào thở ra bình thường
khoảng 3 chu kỳ sau đó hít vào từ từ thật tối đa rồi thở ra thật nhanh,mạnh và
tối đa, đo 3 lần, lấy kết quả cao nhất. Các chỉ số khác máy tự động tính toán
theo chỉ số FVC.

 Chuẩn bị bệnh nhân: Bệnh nhân được hướng dẫn trước và giải thích về
mục đích của việc thực hiện nghiờm phỏp, yêu cầu mặc quần áo thích
hợp, giầy hoặc dép phù hợp (có thể đi chân trần nếu bệnh nhân muốn).
Ăn nhẹ trước khi làm nghiệm pháp ít nhất 1 giờ. Không vận động mạnh
hoặc gắng sức trong vòng 2 giờ trước khi làm nghiệm pháp.
 Thực hiện nghiệm pháp: Bệnh nhân không cần khởi động trước khi làm
nghiệm pháp, được ngồi nghỉ trên ghế gần điểm xuất phát ít nhất 10 phút.
 Cho người bệnh dừng tại điểm xuất phát, đo SpO
2
, mạch, huyết áp,
nhịp thở trước khi làm nghiệm pháp, ghi nhận mức độ khó thở theo
thang khó thở MRC. Dặn bệnh nhân tỷ mỉ, nếu không đi tiếp được thì
có thể dừng lại, có thể đi chậm lại hoặc dừng lại và nghỉ ngơi nếu cần
sau đó tiếp tục đi nếu có khả năng.
 KTV hướng dẫn người bệnh cách đi dọc theo quãng đường đánh dấu,
vòng lại ở đầu và cuối quãng đường và lại đi tiếp. Dừng lại ngay khi cú
chuụng báo hiệu. Nếu bệnh nhân không hiểu rõ KTV đi thử một đoạn
cho người bệnh xem.
 KTV dặn người bệnh trước khi thực hiện nghiệm pháp là đi càng nhanh
càng tốt nhưng không được chạy, KTV đứng gần nơi xuất phát, khởi
động thiết bị bấm giờ.
 Vặn đồng hồ đếm ngược 6 phút và cho người bệnh bắt đầu đi, người
bệnh không được nói chuyện với ai trong suốt quá trình đi.
23
 KTV không đi cùng người bệnh, quan sát và ghi vào hồ sơ mỗi vòng
người bệnh đi được. Dùng giọng nói đều đều hướng dẫn và thông báo
cho người bệnh sau mỗi phút đi được, không khuyến khích động viên
người bệnh trong lúc đi.
 Nếu bệnh nhân dừng lại khi thực hiện nghiệm pháp và có nhu cầu nghỉ
ngơi, bệnh nhân có thể dựa vào tường nếu muốn, rồi tiếp tục đi khi có

2
)
Bảng 2.3. Chỉ số BMI theo chiều cao và cân nặng
Chỉ số BMI < 18 18 - 25 >25
Thể trạng Gầy Bình thường Béo
* Nhận xét mức độ khó thở theo MRC (Medical Research Council) [48]:
Mức độ 1: Khó thở khi gắng sức nhiều.
Mức độ 2: Khó thở khi leo cầu thang 1 tầng, đi nhanh trên đường bằng
phẳng hoặc leo dốc.
Mức độ 3: Khả năng đi bộ chậm hơn so với người cùng độ tuổi ở
đường bằng hoặc dừng lại để thở khi đi bộ một đoạn xa.
Mức độ 4: Khó thở khi đi bộ, phải nghỉ sau đi bộ khoảng 100m hoặc
sau khi đi bộ vài phỳt trờn đường phẳng.
Mức độ 5: Khó thở khi gắng sức nhẹ như khi thay quần áo.
* Phân loại thể bệnh BPTNMT: Theo Barnes B.J. và CS (1997); Honig
E.G. và CS (1998).

Bảng 2.4. Những đặc điểm chính hai thể của BPTNMT:
Thể
bệnh
Đặc điểm
KPT chiếm ưu thế
(Týp PP)
VPQMT chiếm ưu thế
(Týp BB)
25
Tuổi Khoảng 60 tuổi Khoảng 50 tuổi
Khó thở Nặng Nhẹ
Ho Muộn, sau khó thở Sớm, trước khó thở
Khạc đờm Ít, đờm nhày trong Nhiều, đờm nhày mủ

1
< 30% SLT hoặc FEV
1
< 59%
Kèm theo suy hô hấp mạn tính.
Theo GOLD 2006 [32].
* Biến chứng tâm phế mạn: Dựa vào các tiêu chuẩn [35]
- Có hội chứng suy tim phải.
- Điện tâm đồ: P phế, dày thất phải, tăng gánh thất phải.
- Thăm dò huyết động (siêu âm tim hoặc thông tim): Áp lực động mạch
phổi tăng.
2.3.2. Nhận xét giá trị của khoảng cách đi bộ 6 phút:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status