MỤC LỤC
A.
B.
I.
II.
1.
2.
3.
C.
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề.
Ba vụ việc tranh chấp về lối đi trong cộng đồng dân cư.
Vụ việc thứ nhất.
Vụ việc thứ hai.
Vụ việc thứ ba.
KẾT BÀI
1
1
1
2
2
8
11
15
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống dân cư không thể tránh khỏi những tranh chấp, mà vấn đề
tranh chấp về quyền sử dụng bất động liền kề mà cụ thể là trong việc sử dụng lối
2
Đồng thời, Điều 275 Bộ luật Dân sự 2005 về quyền về lối đi qua bất động
sản liền kề quy định:
“1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu
khác mà không có lối ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động
sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu
cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ
sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thỏa thuận khác…
2. Vị trí, giới hạn chiều dài, rộng, cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm
thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối
đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.
3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở
hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía
trong theo quy định của khoản 2 điều này mà không có đền bù.”
II. Ba vụ việc có tranh chấp về lối đi trong cộng đồng dân cư.
1. Vụ việc thứ nhất.
a) Thông tin về vụ việc.
_Vụ việc “tranh chấp ngõ đi chung”.
_ Bản án số 08/2008/DSST
_ Ngày 03.07.2008.
_ Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm- thành phố Hà Nội.
b) Chủ thể của vụ việc.
Nguyên đơn:
Cụ Nguyễn Thị Thêu, sinh năm 1919.
Trú tại: Khoan Tế, Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội
Cụ Thêu ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Tập theo giấy ủy quyền số 2490 ngày
12.5.2006.
Năm 1980 ông Nở quy hoạch lại vườn có nắn lại lối đi chung vòng qua bờ
ao, gia đình cụ Thêu vẫn đi được ra ngõ xóm bằng lối đi chung vòng qua bờ ao,
gia đình cụ Thêu vẫn đi được ra ngõ xóm bằng lối đi chung.
4
Năm 1997 cụ Thêu được Nhà nước xây cho ngôi nhà tình nghĩa nên nhà
đã chuyển hướng khác, cụ đã làm ngõ đi và làm cổng ra ngõ nhà ông Lược,
nhưng ông Lược không đồng ý. Nay cụ yêu cầu gia đình ông Nở và gia đình bà
Toán phải trả lại lối đi chung theo sơ đồ năm 1974 có diện tích: 9,1m dài x 2m
rộng = 18,9m2 trong đó gia đình ông Nở chiếm 8,81m2, gia đình bà Toán chiếm
10,1m2.
Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của ông Nở là ông Nhuần trình bày: Nhà
cụ Thêu và nhà ông trước đây ở cùng một nhà trên cùng một phiến đất, khi ông
Nở ra ở riêng thì xây nhà phía trước. Gia đình cụ Thêu có ngõ đi theo bản đồ năm
1947 là ngõ đi chung của gia đình cụ Thêu, bà Toán và ông Nở.
Năm 1983 ông Nở bà Toán có thỏa thuận nắn ngõ đi từ trong ao ra ngoài.
Ngõ đi đang tranh chấp hiện nay vẫn còn nguyên trạng như bản đồ năm 1974. Cụ
Thêu kiện gia đình ông xây bịt lối đi là không có căn cứ vì gia đình ông xây
tường bao trên phần đất của ông. Ngõ đi chung hiện đang tranh chấp nằm trên
phần đất ngõ nhà bà Toán. Ông không đồng ý cắt đất của mình trả cho cụ Thêu
làm ngõ đi và cũng không bán đất cho cụ Thêu để làm ngõ.
Bà Nguyễn Thị Toán chết ngày 29.7.2006 các con bà là những người thừa kế
quyền và nghĩa vụ của bị đơn trình bày:
Năm 1974 nhà bà Toán, ông Nở, cụ Thêu đi chung ra ngõ trên phần đất nhà
ông Nở theo sơ đồ năm 1974. Trước năm 1986 gia đình ông Nở có quy hoạch lại
đất và xây tường bao quanh. Để cho đất vuông thẳng ông Nở đã lấy phần đất giáp
gianh với lối đi chung và trả lại ngõ đi chung ngay phần đất bên cạnh, vì ngõ đi
chung không còn hình dạng ban đầu mà ngõ đi xuất phát từ nhà bà Toán vòng ra
bờ ao kéo ra đến đưỡng ngõ xóm.
giải quyết;
2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các
khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:
6
a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối
cùng;
b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết
định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định
giải quyết cuối cùng.”
Như vậy, theo điều luật này, nếu bên nguyên có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hoặc một trong các giấy tờ thuộc khoản 1,2 và 5 của điều 50 Luật đất đai
năm 2003 thì Tòa án mới giải quyết. Các giấy tờ thuộc khoản 1,2 và 5 điều 50 Bộ
luật đất đai bao gồm:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ
sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền
sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm
1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai
của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
định ở trên, do vậy theo khoản 2 điều 136 Bộ luật đất đai thì thẩm quyền giải
quyết vụ án này phải giao cho chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết. Các
bên có thể yêu cầu chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có tranh chấp giải
quyết. Nếu cảm thấy không thỏa đáng, có quyền khiếu nại lên chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp tỉnh nơi có tranh chấp, nếu tiếp tục không thỏa đáng có thể đệ đơn
lên bộ trưởng bộ Tài nguyên và môi trường theo quy định tại điểm a,b khoản 2
8
điều 136 Bộ luật đất đai. Quyết định đình chỉ vụ án của tòa án cấp sơ thẩm là
hoàn toàn chính xác.
2.Vụ việc thứ hai.
a) Thông tin vụ việc.
_ Về vụ việc “tranh chấp quyền sử dụng đất (ngõ đi)”.
_ Bản án số 04/2008/DS-ST.
_ Ngày 09/08/2008.
_ Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
b) Chủ thể vụ việc.
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Mệnh, sinh năm 1949.
Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn Chi, sinh năm 1944.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị Tu, sinh năm 1955
Đều trú tại: thôn Chúc Đồng 2, xã Thụy Dương, huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội.
c) Nội dung vụ việc.
Theo án sơ thẩm, ông Nguyễn Hữu Mệnh trình bày:
Ông Nguyễn Hữu Mệnh và ông Nguyễn Tuấn Chi là anh em họ, được quản
lý, sử dụng 02 thửa đất từ đời các cụ để lại. Ranh giới phân chia hai thửa đất là
một phần tường hậu nhà ông Mệnh nhưng cùng sử dụng một đoạn ngõ đi chung
ra đường ngõ xóm. Chiều rộng ngõ khoảng 1,3m, chiều dài khoảng 2,0m. Năm
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Trịnh Thị Tu (vợ ông Mệnh)
cùng có yêu cầu như ông Mệnh là xác định ngõ đang tranh chấp là ngõ đi chung
vì được hình thành từ rất lâu, khi bà về làm dâu mấy chục năm nay đã đi trên ngõ
này rồi.
UBND xã Thụy Hương và UBND huyện Chương Mỹ đều cho rằng ngõ đi
đang tranh chấp là ngõ đi chung vì mặc dù không biết chính xác thời gian hình
thành nhưng chỉ biết rằng ngõ có từ rất lâu, các bên vẫn sử dụng từ trước đến nay.
Việc không thể hiện ngõ đi chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do
sai sót từ công tác đo đạc.
10
d) Quyết định của Tòa án.
Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ áp dụng các điều 265,273,275 Bộ luật
dân sự, điều 131, điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị định 70/CP ngày
12/06/1997 của Chính Phủ quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khời kiện của ông Nguyễn Hữu Mệnh.
2. Ông Nguyễn Hữu Mệnh và ông Nguyễn Tuấn Chi được quyền sử dụng ngõ đi
chung có vị trí như sau: Phía Đông giáp đường đi của xóm có chiều dài 2,0m;
phía tây giáp nhà ông Chi có chiều dài 2,0m, phía nam giáp đất nhà ông Mệnh có
chiều dài là 1,8m, phía Bắc giáp đất (tường bếp) nhà ông Chi có chiều dài 1,3m
(có sơ đồ kèm theo bản án).
3. Ông Nguyễn Hữu Mệnh và ông Nguyễn Tuấn Chi có trách nhiệm đến cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đề nghị điều chỉnh lại diện tích đất thực tế được sử dụng
và diện tích đất ngõ đi chung theo quy định chung của pháp luật.
4. Buộc ông Nguyễn Tuấn Chi phải tháo dỡ toàn bộ phần đã xây dựng trên ngõ đi
chung để đảm bảo việc sử dụng ngõ đi chung cho gia đình ông Nguyễn Hữu
Mệnh và gia đình ông Nguyễn Tuấn Chi theo đúng hồ sơ kèm theo bản án.
5. Buộc ông Nguyễn Tuấn Chi phải nộp 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông
Nguyễn Hữu Mệnh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
định là ngõ đi chung của hai gia đình nên ông Chi phải tháo dỡ toàn bộ phần đã
xây dựng trên ngõ đi chung để đảm bảo cho ông Mệnh sử dụng ngõ đi chung.
Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp với pháp luật, có cơ sở để chấp
nhận.
3. Vụ việc thứ ba.
a) Thông tin vụ việc.
- Vụ việc “ tranh chấp mở lối đi chung”.
b) Chủ thể của vụ việc.
Nguyên đơn: ông Phạm Văn Hoàng
Bị đơn: Phạm Văn Long
c) Nội dung vụ việc.
12
Tóm tắt vụ việc: Tòa chiều theo ý nguyên đơn – buộc mở lối đi khác ngoài lối đi
hiện hữu.
Ông Phạm Văn Long có gần 10.000m 2 đất tại xã Hòa Khánh, huyện Cái
Bè, tỉnh Tiền Giang. Theo ông Long, nguyên đó là đất ruộng và một số hộ dân đã
đi nhờ trên bờ ranh ruộng giữa hộ ông với hộ lân cận.
Việc đi nhờ đơn thuần là thói quen chứ không phải các hộ không có lối đi nào
khác. Bởi lẽ vào đầu tháng 9 năm 1975, chừng mười hộ dân trong xã đã tự bỏ ra
một ít đất để mở lối đi chung. Hơn 30 năm nay, lối đi chung đó trở nên thông
dụng, ai cũng có thể dễ dàng ra vào.
Như trường hợp của ông Phạm Văn Hoàng, tiếp giáp tỉnh lộ 33, chỉ cần
bước ra khỏi nhà , rẽ phải dọc đường tráng xi măng rồi rẽ trái vào đường đất nói
trên thì ông Hoàng có thể vào vườn. Song lâu nay ông Hoàng vẫn đi ké trên đất
của ông Long để vào vườn về nhà.
Nể tình láng giềng nên lâu nay ông Long vẫn cho ông Hoàng đi ké. Tuy
nhiên, cây trái trong vườn của ông Long thường xuyên bị mất mát. Cho nên ông
Long đã đề nghị ông Hoàng đi lối cũ để về chứ đừng đi ké nữa.
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Điều kiện người có quyền về lối đi qua bất động sản liền kề xin mở lối đi ra
đường công cộng là do:
Thứ nhất, bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác
Thứ hai, không có lối đi ra.
Từ quy định của pháp luật, căn cứ vào tình tiết của vụ án có thể thấy yêu cầu của
ông Hoàng và một số hộ dân khác là không có căn cứ. Theo đúng các tình tiết
trong vụ án, ông Hoàng, cùng với nhiều chủ sử dụng các khu đất khác đều đã có
lối đi từ khu đất của họ ra đường đi công cộng. Con đường này đã được các hộ
hình thành và sử dụng hơn 30 năm. Không thể vì lí do con đường đó sử dụng khó
hoặc xa để yêu cầu mở lối đi khác qua bất động sản liền kề. Vì thế, nhận định của
Toà án cấp phúc thẩm là “lối đi cũ xa và khó khăn, từ đất của ông Hoàng phải đi
qua nhiều khúc mới ra được tỉnh lộ 33” để giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp
14
sơ thẩm cho phép ông Hoàng mở lối đi qua bất động sản nhà ông Long là không
có cơ sở. Chỉ trong trường hợp bất động sản bị vây bọc hoàn toàn bởi các bất
động sản khác và không có lối đi nào khác, chủ bất động sản không có lối đi mới
có quyền mở lối đi ra đường công cộng qua bất động sản liền kề. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc ông Hoàng hoặc các hộ khác có yêu cầu mở lối đi thì Tòa án
cũng không có căn cứ để chấp nhận.
Việc Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng
trong điều kiện thực tế đã nêu là không đúng pháp luật dân sự về quyền lối đi qua
bất động sản liền kề.
2. Không chỉ sai khi ra quyết định không có căn cứ, việc Tòa án quyết định
buộc ông Long phải bán đất cho ông Hoàng, chỉ xét về khía cạnh hình thức, đã là
vượt quá thẩm quyền của Tòa án.
Về nguyên tắc, Tòa án chỉ giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu và trong phạm
vi yêu cầu của đương sự. Vụ án mà đượng sự yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh
sự mà còn được Hiến pháp qui định.
C. KẾT BÀI
Qua ba vụ việc tìm hiểu ở trên chúng ta có thể nhận thấy rằng tranh chấp về
lối đi chung là một vấn đề khá phổ biến xảy ra trong đời sống tuy nhiên việc giải
quyết tranh chấp này cũng là một vấn đề đáng phải nhắc đến. Không phải vụ việc
nào cũng được xử lý phù hợp với đúng quy định của pháp luật, mà có những vụ
đã bị tòa án xử sai do nhận thức không đúng về những quy định của pháp luật.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
1. Trường Đại học Luật Hà Nội. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập I. NXB
nhân dân năm 2009.
2. Bộ luật dân sự năm 2005.
3. Luật đất đai năm 2003.
17