so sánh pháp luật cộng đồng ASEAN với Công pháp quốc tế và Luật liện minh châu âu - Pdf 34

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
ASEAN và Liên minh châu âu( EU) là hai tổ chức liên chính phủ thành công nhất
trên thế giới. Để hiểu rõ về hai tổ chức này, thì điều quan trọng là phải hiểu rõ được
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các kĩnh vực khác nhau của hai
tổ chức này. Đều là tổ chức quốc tế - chủ thể của luật quốc tế, liệu pháp luật của hai tổ
chức này có giống nhau không, và có hoàn toàn giống với công pháp quốc tế không?
Để tra lời câu hỏi này nhóm chúng tôi lựa chọn làm rõ đề tài “so sánh pháp luật cộng
đồng ASEAN với Công pháp quốc tế và Luật liện minh châu âu”.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1. Khái quát chung về pháp luật cộng đồng ASEAN.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN do năm quốc gia thành viên sáng
lập trên cơ sở tuyên bố Bangkok (1967). Tới nay ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên.
Tại hội nghị cấp cao lần thứ 9 năm 2003 đã thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN chính
thức thành lập cộng đồng ASEAN. Việc thàh lập cộng đồng ASEAN có ý nghĩa quan
trọng, đánh dấu bước trưởng thành và phát triển của ASEAN. Hoạt động của ASEAN
được điều chỉnh bởi hệ thống phát luật của cộng đồng ASEAN.
Pháp luật cộng đồng ASEAN được hiểu là là tổng thể các nguyên tắc và quy
phạm pháp luật, do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ trong
khuôn khổ Cộng đồng ASEAN, phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị – an ninh
và văn hóa – xã hội (1).
Như vậy, phạm vi điều chỉnh của pháp luật cộng đồng ASEAN là quan hệ các
giữa các quốc gia trọng cộng đồng ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực bao gồm
kinh tế, chính trị, an ninh và văn hóa xã hội, do vậy, pháp luật Cộng đồng ASEAN
cũng được phân chia thành ba lĩnh vực chính: Luật Cộng đồng chính tri an ninh, Luật
cộng đồng kinh tế và luật Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN.
2. Khái quát về công pháp quốc tế.
Công pháp quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật được quốc
gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện
và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể
đó trong mội lĩnh vự của đời sống quốc tế (2).

đó(4).
II. So sánh Pháp luật cộng đồng ASEAN với Công pháp quốc tế.
1. Điểm giống nhau giữa pháp luật cộng đồng ASEAN và Công pháp quốc tế.
Là tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể của pháp luật quốc tế nên pháp luật
cộng đồng ASEAN và công pháp quốc tế có rất nhiều điểm giống nhau, thể hiện ở
những khía cạnh sau:
Thứ nhất: Về nguồn luật.
2


Nguồn luật là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên
tắc, quy phạm pháp luật. Cũng như công pháp quốc tế, pháp luật cộng đồng ASEAN
cũng có hai loại nguồn cơ bản là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ hay nguồn phái sinh.
Nguồn luật cơ bản chính là các điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế được hiểu là thỏa
thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc
tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào thỏa thuận đó được ghi chép
trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng
như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó”

(5)

. Các điều ước quốc

tế là nguồn của công pháp quốc tế cũng như của ASEAN được thể hiện ở những tên
gọi như hiến chương, hiệp ước, nghị định thư, tuyên bố,…. Nguồn cơ bản có giá trị
pháp lí bắt buộc đối với các thành viên kí kết hoặc tham gia điều ước.
Ngược lại nguồn bổ trợ của công pháp quốc tế cũng như của pháp luật cộng
đồng ASEAN chỉ có tính chất tham khảo, không có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các
chủ thể.
Thứ hai: Về bản chất pháp luật

quy định cụ thể trong các Điều ước quốc tế.
2. Điểm khác nhau giữa pháp luật Cộng đồng ASEAN với Cồng pháp quốc tế.
Thứ nhất: Nguồn luật
Nguồn luật của Công pháp quốc tế đa dạng hơn pháp luật công đồng ASEAN. Công
pháp quốc còn có nguồn cơ bản là tập quán quốc tế, còn pháp luật cộng đồng ASEAN
không có nguồn tập quán, bởi các quốc gia trong khu vực có các tập quán, điều kiện
khác nhau do đó rất khó để tất cả các quốc gia đồng y sử dụng một tập quán nào là
pháp luật có giá trị sử dụng bắt buộc. Ngoài ra, các nguồn bổ trợ của công pháp quốc tế
đa dạng hơn pháp luật cộng đồng ASEAN. Ngoài một số nguồn như khuyến nghị,
thông cáo báo chí,… thì công pháp quốc tế còn có một số nguồn bổ trợ như phán quyết
của tòa án, hành vi pháp lí đơn phương của quốc gia, các học thuyết pháp lí, nguyên tắc
pháp luật chung,… Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa nguồn luật của pháp luật
cộng đồng ASEAN so với công pháp quốc tế. Điều này cũng dễ hiểu bởi ASEAN chỉ là
một chủ thể của luật quốc tế, còn công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ pháp luật phát
sinh giữa tất cả các chủ thể, phạm vi điều chỉnh của pháp luật rộng hơn và phức tạp
hơn.
Thứ hai: cơ chế xây dựng pháp luật
Luật quốc tế được các chủ thể xây dựng nên bằng hai phương pháp: Thỏa thuận
rõ ràng minh bạch thông qua việc kí kết Điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận ngầm định
qua việc các chủ thể thừa nhận những quy tắc xử sự chung hình thành thực tiễn sinh
hoạt quốc tế là những quy phạm quốc tế có tính bắt buộc chung.
Pháp luật cộng đồng ASEAN: Các quốc gia thành viên ASEAN xây dựng pháp
luật trên cơ sở cơ chế tham vấn đồng thuận. Để ban hành ra pháp luật các quốc gia phải
thảo luận, tham khảo kiến của nhau, sau đó mới đi đến quyết định. Các quyết định và
4


các văn bản pháp lí của ASEAN chỉ được ban hành trên cơ sở đồng ý của tất cả các
quốc gia thành viên.
Thứ ba: Về cơ chế thực thi và tuân thủ pháp luật.



pháp luật. Tuy nhiên, nếu xét chi tiết thì vẫn có một số điểm khác nhau, do Công pháp
quốc tế có phạm vi cũng như đối tượng điều chỉnh rộng hơn, phức tạp hơn rất nhiều.
III. So sánh pháp luật cộng đồng ASEAN với Luật Liên minh châu Âu (EU).
1. Điểm giống nhau giữa pháp luật Cộng đồng ASEAN với Luật EU.
Về mặt bản chất, ASEAN và Liên minh châu Âu đều là tổ chức quốc tế liên
chính phủ - chủ thể của Luật Quốc tế, do đó pháp luật của hai tổ chức này cũng có
nhiều điểm giống nhau, đó chính là những điểm chung của pháp luật quốc tế. Điểm
giống nhau giữa pháp luật cộng đồng ASEAN và pháp luật EU thể hiện ở những điểm
sau:
Thứ nhất: Về nguồn luật.
Cũng như Công pháp quốc tế, pháp luật ASEAN và pháp luật EU đều có hai loại
nguồn chủ yếu đó là nguồn luật cơ bản và nguồn bổ trợ. Nguồn cơ bản chính là các
điều ước quốc tế thành lập cũng như điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong
các lĩnh vực khác nhau của hai tổ chức này, thể hiện dưới dạng các tên gọi khác nhau
như Hiến chương, Hiệp ước, nghị định, tuyên bố, hiệp định,… Các điều ước quốc tế
này đều chứa đựng các quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc chung đối với tất cả các
thành viên của hai tổ chức quốc tế này.
Ngoài ra, giữa pháp luật cộng đồng ASEAN và Pháp luật EU có điểm giống
nhau về nguồn luật bổ trợ đó là đều có các loại nguồn như quy chế, khuyến nghị,…
Tuy nhiên vị trí của loại nguồn này trong hai hệ thống pháp luật này không giống nhau.
Thứ hai, về bản chất.
Do đều là các tổ chức quốc tế - chủ thể của pháp luật quốc tế do đó pháp luật
ASEAN và EU có một số điểm giống nhau về bản chất như công pháp quốc tế. Thể
hiện ở điểm cả pháp luật của ASEAN và EU đều có bản chất là ý chí và thỏa thuận.
Bản chất ý chí thể hiện ở việc, các quốc gia tham gia vào quá trình xây dựng nên các
quy phạm pháp luật, và các nguyên tắc, các quy phạm được ban hành đều thể hiện ý chí
của các quốc gia thành viên. Các quốc gia gia nhập sau, chấp nhận kí vào các văn bản
gia nhâp, tức là các quốc gia này chấp nhận các quy định của tổ chức, có chung ý chí

liên kết của hai tổ chức này là khác nhau. Bởi những khác biệt trên mà pháp luật của
hai tổ chức này có rất nhiều điểm khác nhau, thể hiện ở nguồn luật, bản chất pháp luật,
việc xây dựng pháp luật cũng như thi hàng và các biện pháp đảm bảo thi hành pháp
luật.
* Sự khác nhau về nguồn luật:
Tuy đều có hai loại nguồn luật là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ, nhưng vị trí, vai
trò của nguồn bổ trợ là khác nhau.
Đối với pháp luật ASEAN, nguồn bổ trợ (nguồn phái sinh) bao gồm khuyến nghị
của các nhóm đặc trách cấp cao, thông cáo báo chí của các thiết chế cộng đồng,… các
văn bản này chỉ mang tính chất tham khảo, không có giá trị bắt buộc chung đối với các
quốc gia thành viên.
7


Luật của liên minh châu âu lại hoàn toàn khác. Nguồn luật bổ trợ (phái sinh) của
EU bao gồm quy định, quyết định, chỉ thị, phán quyết của tòa án. Mặc dù là nguồn phái
sinh nhưng chúng lại có giá trị bắt buộc, các chủ thể liên quan phải thi hành. Giá trị của
các văn bản pháp luật này cao hơn luật của các quốc gia, do đó khi có xung đột xảy ra
thì luật của liên minh sẽ được ưu tiên áp dụng.
Ngoài điểm khác biệt trên, có thể thấy nguồn luật của liên minh châu âu có phần
đa dạng hơn. Thể hiện ở chỗ nguồn luật của liên minh châu âu có án lệ (phán quyết của
tòa án) có giá trị bắt buộc thi hành chung, còn pháp luật của ASEAN không có loại
nguồn này. Một số phán quyết của tòa án cộng đồng châu âu đã trở thành quy phạm
pháp luât có giá trị bắt buộc như: Quy định giá trị pháp lý của pháp luật châu âu châu
âu cao hơn nội luật được thừa nhận trong một phán quyết nổi tiếng là phán quyết
VanGendenloos (1963) và Costa cl ENEL (1964). Hay quy định đối với tòa án cộng
đồng châu âu, pháp luật cộng đồng châu âu có giá trị pháp lý cao hơn toàn bộ pháp luật
của các nước thành viên, kể cả các quy phạm pháp luật hiến định được lấy từ phán
quyết Hondelsgensellchaft quốc tế năm 1970 (7).
* Sự khác biệt về bản chất pháp luật.

Cộng đồng ASEAN dựa trên cơ chế tham vấn và đồng thuận. Theo đó các quyết định
và văn bản pháp lý của ASEAN chỉ được ban hành trên cơ sở sự đồng thuận của tất cả
các quốc gia thành viên. Để ban hành ra pháp luật, các nước thành viên phải tham gia
bàn bạc, đóng góp ý kiến, tham khảo lẫn nhau… để có thể đưa ra quyết định cuối cùng,
quyết định này phải được sự đồng ý của tất cả các quốc gia thành viên.
Cơ chế này hoàn toàn khác so với cơ chế ra quyết định và ban hành pháp luật của
Liên Minh Châu Âu. Pháp luật Liên Minh châu Âu chủ yếu được ban hành theo nguyên
tắc đa số phiếu kép. Theo đó, quyết định được thông qua khi đa số các thành viên bỏ
phiếu thuận và số phiếu thuận đảm bảo đại diện cho đa số dân số của Liên minh.
Cơ chế ban hành pháp luật của ASEAN có ưu điểm là đảm bảo quyền bình đẳng
của các quốc gia trong khu vực, đảm bảo cho tất cả các quốc gia có thể bình đẳng với
nhau trong việc quyết định các vấn đề chung của cộng đồng, giúp ASEAN có thể tồn
tại và phát triển theo định hướng “thống nhất trong đa dạng”. Tuy nhiên việc ban hành
pháp luật trên cơ sở “đồng thuận” có một số điểm hạn chế, đó là quá trình thương
lượng để có sự đồng thuận của tất cả các quốc gia thành viên thường kéo dài rất lâu,
thậm chí nhiều quyết định hoặc văn bản pháp luật không được thông qua khi tất cả các
quốc gia đồng ý nhưng chỉ một quốc gia không đồng ý, điều này có thể làm ảnh hưởng
đến lợi ích của các quốc gia khác. Cơ chế ban hành pháp luật của Liên minh châu âu đã
khắc phục được hạn chế này. Việc ban hành pháp luật trên cơ sở nguyên tắc đa số phiếu
kép đã giúp cho các thỏa thuận, quyết định, hay văn bản pháp luật được thông qua
nhanh chóng.
Ngoài ra, Cơ chế ban hành pháp luật cộng đồng ASEAN và Luật của Liên minh
châu âu còn có sự khác biệt ở cơ quan có thẩm quyền ban hành. Pháp luật cộng đồng
9


ASEAN không do một cơ quan cụ thể nào xây xựng, mà do tất cả các quốc gia thành
viên trực tiếp thảo luận và thông qua. Còn luật liên minh châu Âu được ban hành bởi
các cơ quan có quyền lập pháp trong hệ thống thiết chế của EU. Ủy ban châu Âu là cơ
quan đề xuất các sáng kiến xây dựng pháp luật, trên cơ sở sáng kiến của Ủy ban châu


của các quốc gia thành viên, do đó khi xảy ra xung đột pháp luật, luật liên minh sẽ được
ưu tiên áp dụng (10).
Ngoài ra, việc thực thi pháp luật thông qua các thiết chế pháp lý cũng có nhiều
điểm khác nhau. Pháp luật cộng đồng ASEAN được thực hiện thông qua tất cả các thiết
chế, tuy nhiên vai trò của các thiết chế này trên thực tế không được thể hiện rõ. Còn đối
với Luật liên minh Châu Âu, vai trò thực thi pháp luật được quy định cụ thể, rõ ràng;
các thiết chế của liên minh châu âu là cơ quan trực tiếp thực thi pháp luật.
- Khác nhau trong cơ chế đảm bảo tuân thủ pháp luật:
Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể của pháp luật thực hiện đúng theo các quy
định của pháp luật. Để đảm bảo các chủ thể thực hiện đúng các quy phạm pháp luật,
pháp luật cộng đồng ASEAN và EU đều có cơ chế đảm bảo thực hiện, tuy nhiên cơ chế
này không giống nhau.
Việc đảm bảo thực hiện pháp luật cộng đồng ASEAN được thể hiện thông qua
các quy định của pháp luật quốc gia, các biện pháp chế tài cũng như hệ thống các cơ
quan cưỡng chế quốc gia; ngoài ra còn do các thiết chế chính trị của cộng đồng
ASEAN giám sát việc thực thi pháp luật. Tuy nhiên, cơ chế này không được quy định
thống nhất trong một văn bản pháp luật của ASEAN mà được quy định ở hầu hết các
văn bản pháp lý của ASEAN, từ Hiến chương ASEAN cho tới các văn bản hợp tác
chuyên ngành. Mỗi văn bản pháp luật lại quy định các thủ tục giám sát khác nhau, tùy
thuộc vào từng lĩnh vực hợp tác cụ thể được quy định tại văn bản đó. Chính sự không
tập trung và thống nhất này đã làm giảm hiệu quả giám sát thực thi pháp luật của Cộng
đồng(11).
Trong khi đó, chức năng giám sát thực thi pháp luật của Liên minh châu Âu
được giao cho Ủy ban châu Âu, với một thủ tục giám sát chặt chẽ và cụ thể. Ngoài ra,
tòa án công lí liên minh châu âu còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các
tranh chấp cũng như đảm bảo thực hiện pháp luật. Do luật Liên minh châu Âu được áp
dụng trực tiếp cho các quốc gia thành viên, nên cũng quy định trực tiếp các chế tài
nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật.
IV. Đánh giá, nhận xét của nhóm:

C. KẾT LUẬN
Qua việc so sánh pháp luật cộng đồng ASEAN với Công pháp quốc tế và Luật
Liên minh châu âu đã giúp chung ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về các hệ thống
pháp luật này; đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu thêm về hai tổ chức quốc tế là
ASEAN và EU. Có thể thấy, giữa pháp luật cộng đồng ASEAN, công pháp quốc tế có
nhiều điểm giống nhau, tuy có phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh hẹp hơn,
những Pháp luật ASEAN chính là biểu hiện của công pháp quốc tế. Còn với Luật Liên
minh châu âu, do có sự khác biệt giữa ASEAN và EU về nhiều điều kiện do đó pháp
luật của hai tổ chức này có rất nhiều điểm khác nhau.
12


CHÚ GIẢI:
(1), (6), (11)

. Trường đại học Luật Hà Nội, khoa pháp luật Quốc tế - trung tâm luật châu Á –

Thái Bình Dương, Tập bài giảng Pháp luật cộng đồng ASEAN, Hà nội 2011
(2)

. Trường đại học Luật Hà nội, giáo trình luật công pháp quốc tế, Nxb CAND, Hà nội

2005.
(3)

. “sources of EU law”. European Commission. Bản chính lưu trữ ngày 28 tháng 2

năm 2008.
(4),(9)
(5)


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status