.Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước - Pdf 34

Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

MỤC LỤC

1

Nguyễn Đức Thắng N09- TL4


Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

ĐẶT VẤN ĐỀ
Với bản chất dân chủ sâu sắc, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân được Nhà nước xã hội chủ nghĩa ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Để nhân dân lao
động thực sự giữ vai trò là người làm chủ đất nước, việc tạo điều kiện để nhân dân lao
động tham gia vào quản lý hành chính nhà nước đã được ghi nhận vào đảm bảo thực hiện
như một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước.
Để hiểu sâu hơn về nguyên tắc này cũng như sự vận dụng nguyên tắc này trong
thực tiễn quản lý hành chính Nhà nước hiện nay. Em xin lựa chọn đề tài số 03: “Phân
tích nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà
nước và đánh giá việc vận dụng nguyên tắc này trong quản lý hành chính Nhà nước
hiện nay”.
Trong quá trình làm bài em đã có nhiều cố gắng song do kiến thức về lĩnh vấn đề
này còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được
sự nhận xét của các thầy cô trong tổ bộ môn để bài làm của em được hoàn thiện hơn.

Em xin cảm ơn!

2

Nguyễn Đức Thắng N09- TL4

cuộc sống trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật phát triển khách quan, cơ bản
của đời sống xã hội. Vì vậy, chúng phản ánh một cách sâu sắc các quy luật đó. Mặc dù
những nội dung phản ánh thực tiễn khách quan của quản lý hành chính Nhà nước, các
nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước lại được ghi nhận thông qua nhận thức chủ
quan của con người. Bởi vậy, chúng bao giờ cũng chịu sự chi phối của những điều kiện về
chính trị, giai cấp và xã hội; hay nói cách khác, các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà
nước phản ánh bản chất giai cấp của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
2.3 Các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước có tính ổn định.
Do bản thân các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước là sự phản ánh các
quy luật khách quan của quản lý hành chính Nhà nước nên tính ổn định của chúng trong
từng thời kỳ, từng giai đoạn được đảm bảo. Tuy vậy, tính ổn định đó chỉ có ý nghĩa tương
I.

3

Nguyễn Đức Thắng N09- TL4


Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

đối. Tính ổn định của các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước không loại bỏ việc
không ngừng đổi mới về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện các nguyên tắc để
phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.
2.4 Các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước có mối liên hệ với nhau và
tạo thành một hệ thống nguyên tắc.
Mỗi nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước có nội dung riêng, phản ánh
những quy luật khách quan khác nhau trong quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, có nhiều
nguyên tắc khác nhau được đặt ra trong quản lý hành chính Nhà nước. Những nguyên tắc
này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống thống nhất. Việc thực hiện tốt
nguyên tắc này tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc khác.


Nguyễn Đức Thắng N09- TL4


Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

Trong quản lý hành chính nhà nước nguyên tắc này được thể hiện ở những hình thức
tham gia vào hoạt động quản lý hành chính của nhân dân lao động.
1.2.1. Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Các cơ quan trong Bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước. Vì
vậy, tham gia vào các hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích cực,
trực tiếp và có hiệu quả của nhân dân lao động vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Thứ nhất, nhân dân lao động có thể tham gia vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước
với tư cách là thành viên của cơ quan này, những người đại biểu được lựa chọn thông qua
con đường bầu cử. Nhân dân lao động có thể tham gia vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân là
những cơ quan quyền lực của Nhà nước. Điều 83 Hiến pháp 1992 (đã được sữa đổi, bổ sung
năm 2001) quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền
lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan
duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về
đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những
nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và
hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của Nhà nước”. Khi tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước, nhân dân lao động có
trực tiếp xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; của từng địa phương trong
đó các vấn đề quản lý hành chính Nhà nước. Nhân dân lao động có đủ điều kiện do pháp luật
quy định sẽ có thể tham gia vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước. Ví dụ: Điều 3 Luật
bầu cử đại biểu quốc hội quy định tiểu chuẩn của đại biểu Quốc hội: “1.Trung thành với tổ
quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc
đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh.

các điều kiện biến ý chí, nguyện vọng của mình thành hiện thực. Công dân Việt Nam có đủ
điều kiện do pháp luật quy định đều có thể trở thành cán bộ, công chức trong các cơ quan
Nhà nước. Ví dụ: Khoản 1 Điều 36 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
“1. Người đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:
Có một quốc tịch là quốc tịch Việt nam;
Đủ 18 tuổi trở lên;
Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;
Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;
Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ;
Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển”.
Thứ ba, nhân dân lao động có thể tham gia gián tiếp vào các cơ quan Nhà nước thông
qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan
quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương. Điều 54 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ
sung năm 2001) quy định: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,
tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở
lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng
nhân dân theo quy định của pháp luật”. Bầu cử vừa là quyền chính trị cực kỳ quan trọng của
công dân, nhờ quyền bầu cử mà các công dân có thể lựa chọn những người ưu tú nhất, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của mình vào các cơ quan quyền lực của Nhà
nước, giải quyết những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Chính ở quyền này nhân dân
lao động thực hiện được quyền lực của mình, thực hiện quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã
hội của mình.
Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội.
Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân tổ chức Việt Nam có chung
mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng
những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Ví dụ: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh,… Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động có thể

tổ chức xã hội đã thu hút một lượng đông đảo quần chúng nhân dân lao động tham gia vào
quản lý hành chính nhà nước.
1.2.3. Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở.
Ở nơi cư trú, sinh hoạt, làm việc, nhân dân lao động thường xuyên thực hiện các hoạt
động mang tính chất tự quản. Đây là những hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực
hiện nó có mối liên quan chặt chẽ với các công việc khác của quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Các hoạt động tự quản ở cơ sở như: bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, tổ chức
đời sống công cộng,… đều rất gần gủi và thiết thực đối với cuộc sống của mỗi người dân.
Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản mà người dân lao động là những chủ thể
tham gia tích cực, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của người dân mà pháp
luật đã quy định thực sự được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
1.2.4. Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính Nhà
nước.
Ngoài việc tham gia vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các
hoạt động tự quản thì việc nghiêm chỉnh thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng là
một hình thức tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước của công dân. Điều 53 Hiến pháp
năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định; “Công dân có quyền tham gia
quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chúng của cả nước và địa
phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”.
Để thực hiện các quyền cơ bản này, pháp luật đã quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể
của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính Nhà nước. Ví dụ: Điều
74 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà
7

Nguyễn Đức Thắng N09- TL4


Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh

để cho nhân dân lao động có thể tham gia tích cực vào hoạt động quản lý hành chính Nhà
nước. Để đảm bảo cho nhân dân lao động được tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước,
Nhà nước ta đã ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và các Luật như: Luật bầu cử Quốc
hội và Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu
nại, tố cáo, Luật thanh tra, Luật phòng chống tham nhũng,…trong đó quy định cụ thể các
điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý hành chính
8

Nguyễn Đức Thắng N09- TL4


Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

Nhà nước như việc các đại biểu, cơ quan Nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết các đề xuất,
kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào việc ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật, các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các luật về tổ
chức chính trị - xã hội như Luật Mặt trận tổ quốc, Luật công đoàn cụ thể hóa các quy định
của Hiến pháp về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý hành chính nhà
nước. Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quyền
tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước của nhân dân lao động như: Nghị định số
29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã;
Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và
thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, ấp, cụm dân cư; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP
ngày 13/2/1999 của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà
nước; Nghị định số 87/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ ban hành quy chế thực
hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong thời gian qua việc tham
gia vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước của nhân dân được đảm bảo, nhân dân lao động
nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật và có năng lực đều có thể tham
gia vào các cơ quan Nhà nước. Việc bầu cử đại biểu cũng ngày càng thể hiện đúng ý kiến

luật của người dân không cao. Chính vì vậy khi tham gia vào công việc quản lý hành chính
Nhà nước người dân vẫn còn đang rất lung túng.
Việc tổ chức các hình thức, phương thức tham gia của người dân được các cơ quan
Nhà nước thực hiện cũng chưa thật khoa học. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được tổ
chức lấy ý kiến của người dân chưa thật sự hướng vào các đối tượng bị điều chỉnh. Việc tiếp
thu giải quyết các vấn đề mà nhân dân đưa ra chậm và luôn bị tránh né làm giảm long tin và
nhiệt tình của nhân dân.
Trình độ sử dụng công nghệ thông tin để tham gia đóng góp ý kiến cho các văn bản
pháp luật của người dân còn thấp. Sự phổ cập bào chí điện tử mới chỉ giới hạn ở các thành
phố và một số đối tượng.
3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện nguyên tắc nhân dân lao
động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà nước.
Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, sửa đổi cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội
đồng nhân dân sao cho những người được bầu phải gắn bó với người dân, phản ánh được ý
chí, nguyện vọng của người dân không còn đại diện chung chung, hình thức.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách nên hành chính Nhà nước, đổi mới cơ cấu tổ chức và
phương thức hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Mở rộng sự công khai, minh bạch, tạo cơ
hội để người dân nằm bắt được các công việc của Nhà nước một cách chủ động, thiết thực
và hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, công chức trong việc tiếp thu
ý kiến và nguyện vọng của nhân dân.
Tiếp tục có các biện pháp giáo dục, nâng cao trình độ nhất là ý thức chính trị, tinh
thần pháp luật của người dân, làm cho người dân tự giác và có ý thức hơn nữa trong việc
tham gia vào công việc xã hội và hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc tuyên truyền, giáo dục và tổ
chức tham gia của người dân đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật.
Sử dụng tốt hơn các phương tiện thông tin đại chúng. Mở rộng việc sử dụng các bào
điện tử trong việc tuyên truyền các chính sách, pháp luật của Nhà nước và thu thập, phản ánh
các ý kiến đóng góp, tham gia của nhân dân.
III.


5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội.
Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Luật Mặt trận tổ quốc Việt nam.
Luật cán bộ, công chức.
Luật tổ chức Chính phủ.
http:// www.tapchicongsan. Org.vn.
http:// www.Nhandan.com.vn
http://www.tintuc.xalo.vn
http://www.chinhphu.vn

12

Nguyễn Đức Thắng N09- TL4




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status