Bài tập học kỳ Môn: Luật Hành chính
Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia quản lí hành chính Nhà nước, thực trạng và giải pháp
cho sự vận dụng nguyên tắc vào thực tế quản lí hành chính hiện nay
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Do đó,
chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý của Nhà
nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mới thực sự thành công. Chính vì vậy
mà Đảng, Nhà nước ta luôn luôn chủ trương thu hút nhân dân lao động tham gia vào các hoạt
động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng. Nguyên tắc “Nhân
dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước” chính là sự cụ thể hóa của
chủ trương đó nhằm hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự là nhà
nước của dân, do dân và vì dân.
NỘI DUNG
A. Đặt vấn đề:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì
dân. Do đó, chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt
động quản lý của Nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mới
thực sự thành công. Chính vì vậy mà Đảng, Nhà nước ta luôn luôn chủ trương thu hút nhân
dân lao động tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành
chính nhà nước nói riêng. Nguyên tắc “Nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý
hành chính nhà nước” chính là sự cụ thể hóa của chủ trương đó nhằm hướng tới xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
B. Giải quyết vấn đề:
I. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước:
Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước, được thực
hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự
chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực, nhằm tổ chức và chỉ đạo
một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá – xã hội và hành
chính, chính trị. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều
hành của nhà nước.
Nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn
từ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý, từ bản chất của chế độ, được quy định trong pháp
nhấn mạnh tất cả các vấn đề xã hội cần được thực hiện dựa trên nguyên tắc này, hay cụ thể
hơn chính là dựa theo quan điểm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
b. Cơ sở pháp lý:
Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng nâng
cao vị thế của nhân dân trong việc tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước
bằng những cơ sở mang tính pháp lý đó chính là quy định cụ thể trong Hiến pháp và các
văn bản pháp luật.
Với bản chất dân chủ sâu sắc, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
được nhà nước ta ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do chính nhân
dân lao động tổ chức để thực hiện quyền lực của mình. Nó là một tổ chức được lập ra nhằm
phát huy tài năng, sức lực của người lao động trong việc gánh vác các công việc của nhà
nước và xã hội nhằm phục vụ cho chính họ. Ghi nhận nội dung này, Điều 2 – Hiến pháp
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) nêu rõ: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước
pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức”.
Để nhân dân thực sự là người làm chủ đất nước, việc tạo điều kiện cho nhân dân lao
động tham gia đông đảo vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước được Nhà nước ta ghi
2
Bài tập học kỳ Môn: Luật Hành chính
nhận tại Điều 3 – HP 1992: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ
về mọi mặt của nhân dân ” => Quyền được tham gia vào quản lý các công việc của nhà
nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân được hiến pháp ghi nhận và đã phát huy được
hiệu lực trong thực tế. Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn được thể hiện thông qua các quy
định sau của Hiến pháp 1992: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân ” (Điều 6), “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ
quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu dân ý” (Điều 53).
Bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý nhà nước nói chung và quản
lý hành chính nhà nước nói riêng, ngoài những quy định tại Hiến Pháp 1992 còn được ghi
trực tiếp và có hiệu quả nhất trong quản lý hành chính nhà nước. Người lao động nếu đáp
ứng các yêu cầu của pháp luật đều có thể tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước từ
đó trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào công việc quản lý hành chính nhà nước trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Người lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách
là thành viên của cơ quan này - họ là những đại biểu được lựa chọn thông qua bầu cử hoặc
với tư cách là các viên chức nhà nước trong các cơ quan nhà nước. Khi ở cương vị là thành
viên của cơ quan quyền lực nhà nước, người lãnh đạo trực tiếp xem xét và quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước, của từng địa phương trong đó có các vấn đề quản lý hành
chính nhà nước. Khi ở cương vị là cán bộ viên chức nhà nước thì người lao động sẽ sử
dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp để thực hiện vai trò người làm chủ đất nước,
làm chủ xã hội, có điều kiện biến những ý chí, nguyện vọng của mình thành hiện thực
nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh.
- Ngoài ra, người lao động có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà
nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình
vào cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương. Ðây là hình thức tham gia
rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
- Bên cạnh đó, nhân dân lao động có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà
nước khác (cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử) với tư cách là
những cán bộ, công chức.
* Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tham gia tích cực vào hoạt
động của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân lao động
trong việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Thông qua các hoạt
động của các tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát
huy. Ðây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng
nền dân chủ ở nước ta.
b. Tham gia trực tiếp:
* Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở
- Ðây là hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực hiện, các hoạt động này gần gũi
lý hành chính nhà nước. Ðiểm thú vị về mặt lý luận của nguyên tắc đó chính là nó chỉ thực
sự có ý nghĩa khi được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Có thể mở rộng, tăng cường quyền
của công dân trong hoạt động quản lý, nhưng không được phép hạn chế, thu hẹp những gì
mà Hiến pháp đã định.
3. Ý nghĩa của việc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà
nước:
Xuất phát từ nền tảng Hiến pháp và xem xét bản chất của pháp luật và các chính sách
thể hiện trong các văn kiện pháp lý, có thể lập luận những lý do và ý nghĩa chính trị của
việc công chúng tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước như sau:
Tất cả các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội đều liên quan trực tiếp
tới nhân dân lao động, vì nhân dân phục vụ, như vậy ở đây nhân dân lao động với tư cách
là người chịu sự quản lý của các chủ thể quản lý cũng đồng thời là đối tượng mà hoạt động
quản lý hướng tới nhằm phục vụ, bảo vệ là người hơn ai hết cần có quyền tham gia vào cỗ
máy quản lý hành chính nhà nước này. Có như vậy, quyền làm chủ của nhân dân mới có
thể phát huy tối đa hiệu quả cũng như lợi ích của nhân dân được bảo vệ. Nhân dân ủy
quyền cho Quốc Hội và Hội đồng nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Đây là ý nghĩa
chính trị của sự ủy nhiệm trong chế độ dân chủ đại diện của chế độ ta. Tuy nhiên, ủy nhiệm
5
Bài tập học kỳ Môn: Luật Hành chính
không phải trao toàn bộ quyền lực của nhân dân cho bộ máy nhà nước mà là công dân giám
sát và góp ý hoạt động của cơ quan nhà nước. Nghĩa là dù bằng hình thức trực tiếp hay gián
tiếp, nhân dân lao động có quyền tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước và
được bảo đảm quyền Hiến định đó.
Trong xã hội, tồn tại các thành viên trong xã hội vốn không đồng nhất về lợi ích, quyền
lợi và địa vị kinh tế, chính trị cũng như những khác biệt khác như khác biệt về giới, về
nhóm dân tộc, các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. Do tính chất không đồng nhất này,
hay còn gọi là sự không cân xứng về vị thế và lợi ích của đối tượng đó, nên các nhóm lợi
ích khác nhau cần được phát biểu quan điểm, cần được lên tiếng và có những hoạt động cụ
thể nhằm hạn chế những rào cản đó, trên cơ sở đó xây dựng một nhà nước công bằng dân
chủ.
cũng được phát triển mạnh. Tình hình này cho phép nhân dân có khả năng tham gia nhiều
hơn trong hoạt động quản lý của nhà nước, từ việc phản biện các chính sách, pháp luật của
Nhà nước, giám sát sự thực hiện của các cơ quan nhà nước và của công chức, cũng như đề
đạt nguyện vọng, ý kiến của mình cho các cơ quan nhà nước xem xét, thực hiện.
Với hình thức này, vai trò của nhân dân được nhân rộng lên rất nhiều và có ảnh hưởng
rất lớn đến hiệu quả quản lý hành chính nhà nước.
Đối với hình thức tham gia trực tiếp, đối với hình thức này thì nhân dân lao động trực
tiếp tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trực tiếp biểu đạt nguyện vọng,
mong muốn của mình cũng như trực tiếp thực hiện nó trong phạm vi quyền hạn theo quy
định của pháp luật. Như vậy, đối với hình thức này, nguyện vọng của nhân dân được thể
hiện chính xác nhất, trực tiếp nhất, thông qua đó nâng cao hiệu quả vận dụng nguyên tắc
này vào thực tiễn đời sống xã hội, phát huy được vai trò làm chủ của nhân dân rõ ràng nhất.
Hình thức này thể hiện rõ nhất vai trò làm chủ của nhân dân lao động đối với Nhà nước, xã
hội, bảo đảm được bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Hình thức tham gia của nhân dân vào các hoạt động tự quản ở cơ sở, hình thức này đã
ngày càng phát huy được tính tích cực thực tế. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là
hoạt động hết sức rộng rãi chính vì vậy hình thức này đã hỗ trợ hoạt động quản lý ở từng cơ
sở, ở từng địa phương, bám sát tình hình thực tế phát huy hiệu quả quản lý.
1.2. Những mặt hạn chế:
Đối với hình thức tham gia gián tiếp, sự tham gia của nhân dân vào việc quản lý nhà
nước phụ thuộc rất nhiều vào phương thức lựa chọn người đại diện và vào phương thức
hoạt động của các cơ quan đó. Theo quy định hiện hành, mối quan hệ giữa người đại diện
với nhân dân vẫn còn khoảng cách khá xa và lỏng lẻo. Những người được bầu vẫn đại diện
cho nhân dân một cách chung chung, chưa có sự gắn bó giữa người được bầu với cử tri. Nó
thể hiện ở chỗ người được bầu không cần đi vận động, không cần hứa hẹn với cử tri vẫn
được bầu và khi đã trúng họ không rõ những nguyện vọng mà người bầu ra họ là những gì.
Trong thời gian đảm nhiệm trọng trách đại biểu của dân, theo quy định, họ phải tiếp xúc cử
tri trước và sau các kỳ họp để nắm bắt ý kiến của nhân dân, nhưng cơ chế bắt buộc họ phải
tiếp nhận và trực tiếp xử lý những vấn đề cụ thể của người dân yêu cầu là không có. Cách
tiếp xúc hiện nay chủ yếu thực hiện theo phương thức “đại cử tri”, nghĩa là tiếp xúc với các
đóng góp đăng trên các cơ quan báo chí cũng chỉ có số ít những người có ý kiến. Việc kiểm
tra, giám sát hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan và công chức nhà nước; thực hiện
khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước của
người dân cũng còn hạn chế.
Hiệu quả của hoạt động quản lý bị hạn chế, không đạt hiệu quả mong muốn. Chính
vì vậy cần phải tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế này để đưa ra những giải pháp
thích hợp nhằm đảm bảo hiệu quả của việc vận dụng nguyên tắc “nhân dân lao động tham
gia đông đảo vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước” vào thực tiễn.
2. Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong việc tham gia quản lý hành chính
nhà nước của nhân dân:
Trước hết, là từ nhận thức của xã hội, của những người quản lý. Mặc dù hiện nay tư
tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã được
phổ biến trong xã hội, nhưng việc nhận thức đúng về tư tưởng này vẫn còn khoảng cách.
Những người quản lý vẫn còn thiếu tin tưởng ở người dân, vẫn coi việc quản lý nhà nước là
công việc riêng vốn có của Nhà nước mà không phải là nhiệm vụ của chính nhân dân trong
8
Bài tập học kỳ Môn: Luật Hành chính
việc quản lý xã hội. Ngược lại, chính người dân cũng coi đó chỉ là nhiệm vụ của các cơ
quan nhà nước, mà không phải là của mình. Vì lẽ đó, đã làm hạn chế sự tham gia rộng rãi
của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước.
Thứ hai, những quy định pháp lý chưa đủ mạnh và rõ để các cơ quan nhà nước, nhất là
các cơ quan đại biểu phải thực hiện các nhiệm vụ mà nhân dân ủy quyền và để nhân dân
kiểm soát sự ủy quyền của mình, cũng như để nhân dân tham gia trực tiếp nhiều hơn vào
các công việc của Nhà nước
Thứ ba, ảnh hưởng của văn hóa hành chính cũ còn khá nặng. Đã có một thời gian dài ở
Việt Nam, bộ máy nhà nước được xây dựng và hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp.
Các cơ quan nhà nước được xây dựng theo một mô hình thống nhất chung, đứng ra làm tất
cả mọi việc cho nhân dân theo sự chỉ huy tập trung từ bên trên và đã mang lại nhiều kết quả
cho người dân, vì thế nhân dân tin tưởng vào Nhà nước. Nhưng cũng từ thực tế đó, lâu dần
đã hình thành nên tâm lý và văn hóa hành chính mà theo đó, các cơ quan, công chức coi
qua các cơ quan đại diện của dân có hiệu quả, cần chuyển các đại biểu được bầu của dân
sang chế độ hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Tách bạch, không để vai trò lập pháp, đại
biểu nhân dân và vai trò hành chính do cùng một cá nhân thực hiện. Mở rộng hình thức
quyết định trực tiếp – trưng cầu dân ý, để toàn dân có quyền tham gia vào các công việc
trọng đại của đất nước, của địa phương, học tập các mô hình trưng cầu dân ý của một số
quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả tham gia vào các hoạt động tham gia vào quản lý hành
chính nhà nước của nhân dân lao động.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước. Đổi mới cơ
cấu tổ chức, phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước, mở rộng sự công khai,
minh bạch, tạo cơ hội để người dân nắm được các công việc của Nhà nước để tham gia một
cách chủ động, thiết thực, có hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và
của công chức trong việc tiếp thu các ý kiến và nguyện vọng của nhân dân trong hoạt động
quản lý hành chính nhà nước.
Thứ ba, tiếp tục mở rộng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mở rộng sự hình
thành và tham gia của các hội, tổ chức phi chính phủ trong việc giải quyết các nhu cầu của
nhân dân và tích cực tham gia vào công tác quản lý nhà nước. Có các cơ chế và phương
thức để phát huy và tiếp nhận được các ý kiến phản biện của nhân dân và của các tổ chức
quần chúng.
Thứ tư, tiếp tục có biện pháp giáo dục nâng cao kiến thức, trình độ, nhất là ý thức chính
trị, tinh thần pháp luật của người dân, làm cho người dân tự giác và có ý thức hơn nữa
trong việc tham gia vào các công việc xã hội và các hoạt động quản lý nhà nước.
Thứ năm, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc tuyên truyền, giáo
dục và tổ chức tham gia của người dân đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật. Ngoài
ra cần phải sử dụng tốt hơn các phương tiện thông tin đại chúng. Mở rộng việc sử dụng các
báo điện tử trong việc tuyên truyền các chính sách, pháp luật của Nhà nước và thu thập,
phản ánh các ý kiến đóng góp, tham gia của nhân dân.
C. Kết thúc vấn đề:
“Dân là gốc, thuộc phạm trù vĩnh viễn. Đảng và Nhà nước thuộc phạm trù lịch sử.
Lòng Dân là điểm xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của ý Đảng và pháp luật. Về
nguyên tắc: Lòng Dân, ý Đảng và pháp luật phải thống nhất, phải là một, không thể là hai,