Tư tưởng chính trị trong tác phẩm luận ngữ của khổng tử - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

----------  ---------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài:

Tƣ tƣởng chính trị trong tác phẩm Luận Ngữ của Khổng Tử
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.88
Người thực hiện: LÊ THỊ HẰNG
Người hướng dẫn: PGS.TS TRẦN NGUYÊN VIỆT

HÀ NỘI - 2011


MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Học thuyết Nho gia do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập chiếm ngôi vị
chủ đạo trong nền văn hoá lâu đời ở Trung Quốc, trở thành vũ khí trị quốc sắc
bén của đa số các nhà chấp chính Trung Quốc trong suốt thời kỳ phong kiến.
Trong những năm trở lại đây, tác dụng của tư tưởng Khổng Tử đã bắt đầu gây sự
quan tâm chú ý của thế giới trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt
trước sự phát triển mạnh mẽ của một số nước Phương Đông, nhiều nhà nghiên
cứu khoa học xã hội muốn tìm hiểu nguyên nhân nào dẫn tới sự xuất hiện các
con rồng châu Á, và họ đã nhận ra rằng, những quốc gia này dù chế độ xã hội có
khác nhau, nhưng đều có một điểm chung, đó là coi trọng tư tưởng Nho giáo, mà
Khổng Tử là đại biểu cho tư tưởng đó.
Nho giáo ra đời vào thế kỷ thứ 6 – 5 TCN ở Trung Quốc và được truyền bá
vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam là

toàn diện, ổn định, hướng tới tương lai của từng quốc gia. Chính vì vậy, trong
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Tích cực,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Mở rộng, phát
huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm
của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng” [66]. Để giữ
vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không kế thừa những
giá trị tích cực của quá khứ trong lĩnh vực chính trị mà Nho giáo đã có những
đóng góp không nhỏ vào đó.

3


Trước những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng
chính trị trong tác phẩm Luận Ngữ của Khổng Tử” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
với hy vọng góp phần làm rõ ý thức và hành vi chính trị trong tư tưởng Khổng
Tử, từ đó làm rõ giá trị của nó đối với sự hình thành ý thức chính trị của người
Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nho giáo đã du nhập và phát triển ở Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử,
nó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Việt Nam, là công cụ quan
trọng trong việc cai trị, quản lý xã hội của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu Nho giáo nói chung, tư tưởng của Khổng Tử nói riêng là
một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trong nước và ngoài nước.
Nhìn chung, có thể phân định việc nghiên cứu Nho giáo nói chung và tư tưởng
chính trị của Khổng Tử nói riêng thành một số nhóm vấn đề sau đây:
- Nhóm thứ nhất đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung và những đặc điểm
khác nhau của Nho giáo nói chung, tư tưởng của Khổng Tử nói riêng để thấy
được ảnh hưởng của nó đối với xã hội và con người Việt Nam. Tiêu biểu cho
hướng nghiên cứu này phải kể đến các công trình nghiên cứu như “Nho giáo”

triển kinh tế và ổn định xã hội do biết phát huy những yếu tố tích cực của Nho
giáo, xuất phát từ thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi chúng ta phải giữ
gìn và phát huy những truyền thống văn hoá của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu
đã đi sâu tìm hiểu về Nho giáo ở Việt Nam, nêu rõ ảnh hưởng của nó trong các
lĩnh vực chính trị - xã hội, hệ tư tưởng, văn hoá, đạo đức, giáo dục - khoa cử...
Liên quan đến vấn đề này có: Tác giả Nguyễn Đăng Duy với “Nho giáo với văn
hoá Việt Nam”, Vũ Khiêu với “Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”, Nguyễn

5


Tài Thư với “Nho học và Nho học ở Việt Nam”, v.v. Các tác phẩm nêu trên, bên
cạnh việc phê phán những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo nói chung và tư
tưởng của Khổng Tử nói riêng, nhiều tác giả còn đặt ra vấn đề kế thừa và phát
triển những giá trị tích cực của nó nhằm khắc phục những mặt tiêu cực, góp phần
xây dựng và phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay hiện nay.
- Nhóm thứ tư là các công trình nghiên cứu về một vài khía cạnh của Nho
giáo ảnh hưởng của nó ở Việt Nam như luận án Vấn đề con người trong Nho
học sơ kỳ của Nguyễn Tài Thư; luận án Ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống của Trần Thị Hồng Thuý.v.v… Hay
các bài viết được đăng tải ở các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí Cộng sản, tạp
chí Nghiên cứu lý luận, tạp chí Triết học v.v. viết về các vấn đề: Đạo của người
quân tử trong Khổng học của Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Tạp chí
nghiên cứu Trung quốc, số 6, 2002; Quân tử qua Tứ thư của Trần Thị Hồng
Thuý, Tạp chí triết học, số 3, 1992; Quan niệm của Nho giáo về xã hội lí tưởng
của Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Triết học số 3, 2001, v.v. Luận án tiến sĩ của
Nguyễn Thanh Bình với đề tài Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự
thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) đã phân tích
Nho giáo với tính cách là học thuyết chính trị - xã hội. Tác giả đã bàn đến
những vấn đề của Nho giáo dưới góc độ chính trị - xã hội. Từ đó đề cập đến

tác giả quan tâm đề cập đến, nhưng mới chỉ dừng ở một vài khía cạnh, góc độ
đơn lẻ được đăng tải trên các bài báo, các tạp chí chuyên ngành như: Nhân, nhân
nghĩa, nhân chính trong “Luận ngữ” và “Mạnh Tử” của Hoàng Thị Bình đăng
trên tạp chí triết học, số 8, 2001, bài viết trình bày nội dung của hai phạm trù cơ
bản của học thuyết Khổng Mạnh là Nhân và Nhân nghĩa, đồng thời, chỉ ra sự

7


biểu hiện nội dung của hai phạm trù đó trong đường lối Nhân chính của học
thuyết ấy. Tác giả đã đánh giá tư tưởng Khổng – Mạnh qua quan điểm của các
ông về trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với dân, ở đó thể hiện tính nhân bản
trong học thuyết chính trị của hai ông. Tác giả còn đưa ra nhận định rằng, “dân
tộc Việt Nam đã phát triển tư tưởng Nhân chính và thực hiện nó một cách sáng
tạo, triệt để hơn”.
Bài Góp phần tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử trong Luận Ngữ của
tác giả Cung Thị Ngọc, đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận số 7, 2005, đã tập
trung trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử.
Từ đó tác giả cũng đưa ra nhận xét, tư tưởng giáo dục của Khổng Tử bên cạnh
những nét khiếm khuyết còn hàm chứa những giá trị mà chúng ta có thể tiếp tục
khai thác.
Bài “Nhân” trong Luận Ngữ của Khổng Tử của Lê Ngọc Anh, đăng trên tạp
chí Triết học số 11, 2004, trình bày những quan điểm cơ bản của của Khổng Tử
về phạm trù “Nhân”, và khẳng định: đạo nhân chính là đạo làm người của con
người. Xuất phát từ cơ sở đó tác giả đánh giá: ngày nay, chế độ xã hội đã khác
trước, con người ngày nay cần một thứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại
mình. Nhưng không phải vì vậy mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn
có ý nghĩa.
Bài viết Quân tử và tiểu nhân trong Luận Ngữ của tác giả Trần Đình Thảo
đăng trên tạp chí Triết học số 8, 2009, trình bày và phân tích quan niệm của

Khổng Tử, nhất là phương pháp giáo dục của Khổng Tử; Chương 2: Bản dịch
toàn văn Luận ngữ; Chương 3: Luận ngữ với người quân tử thời hiện đại: Tác

9


giả bàn về đặc trưng nhân cách của người quân tử dưới góc nhìn của Khổng Tử,
đồng thời luận giải đạo của người quân tử có cái gốc ở sự hoà hợp xã hội. Trên
cơ sở đó, tác giả khẳng định người quân tử thời hiện đại cần học tập 13 phẩm
chất được rút ra từ Luận ngữ. Cuối cùng tác giả khái quát việc vận dụng thành
công Nho giáo ở Hàn Quốc chung quanh việc giáo dục con người để tiến lên xây
dựng một xã hội phát triển bền vững. Chương 4: Châm ngôn Luận ngữ: Tác giả
chọn ra 104 câu theo từng thiên để giới thiệu.
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử nói chung, tư tưởng
chính trị của Khổng Tử nói riêng, từ trước tới nay đã được nhiều tác giả quan
tâm. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình chuyên biệt nào đề cập đến tư
tưởng chính trị của Khổng Tử trong tác phẩm Luận ngữ. Tiếp tục hướng nghiên
cứu tư tưởng chính trị của Khổng Tử, từ góc độ nghiên cứu triết học, chúng tôi
nhận thấy rằng, cần phải nghiên cứu, làm rõ thêm quan niệm của Khổng Tử về ý
thức chính trị và mối liên hệ mật thiết của nó tới hành vi chính trị, để từ đó làm
rõ những giá trị và hạn chế của nó đối với việc hình thành ý thức chính trị của
con người Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Phân tích, hệ thống hóa một số tư tưởng chính trị cơ bản của Khổng Tử
trong tác phẩm Luận Ngữ, từ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với sự hình thành ý
thức chính trị của con người Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ đi sau đây :
- Trình bày khái quát sự ra đời tác phẩm Luận Ngữ và những nội dung cơ bản



Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp logic và lịch sử, phân tích tổng hợp, so
sánh và đối chiếu.
6. Đóng góp của luận văn
* Về mặt lý luận
Luận văn nghiên cứu tư tưởng chính trị của Khổng Tử trong tác phẩm Luận
Ngữ nhằm làm rõ nguyên nhân ra đời, diễn biến và ảnh hưởng của nó trong lịch
sử cũng như hiện tại.
* Về mặt thực tiễn
Luận văn thực hiện được mục đích nêu trên góp phần vào việc làm rõ nội
dung tư tưởng chính trị của Khổng Tử. Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài
liệu tham khảo cho việc nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng của Khổng Tử nói
riêng, của Nho giáo nói chung, đồng thời thông qua việc đánh giá những mặt tích
cực và hạn chế của tư tưởng chính trị Khổng Tử để rút ra bài học và góp phần
định hướng đúng đắn cho sự hình thành tư tưởng chính trị của con người Việt
Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương 8 tiết.

12


NỘI DUNG
Chƣơng 1.
NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA KHỔNG TỬ TRONG TÁC PHẨM LUẬN NGỮ
1.1 Vài nét về thời đại và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tƣ tƣởng

Thứ ba, chiến tranh khốc liệt kéo dài đã làm cho nhân dân sống trong đau
khổ. Trong xã hội cảnh nồi da xáo thịt, bề tôi giết vua, anh giết em, con giết cha
trở nên phổ biến. Thời Xuân Thu trải qua khoảng 242 năm thì đã xẩy ra 483 cuộc
chiến tranh, không kể 450 lần “triều sính minh hội”. Từ chỗ có tới 1800 nước
chư hầu thì nay chỉ còn 5 nước lớn (Tề, Tấn, Tống, Tần, Sở) và một số nước nhỏ
chờ bị tiêu diệt. Chiến tranh liên miên gây thảm họa chết chóc, ly tán, làm cho
đời sống nhân dân vô cùng cực khổ như sử sách đã ghi “thây chất đầy thành,
thây chết đầy đồng”. Mạnh Tử đã phải thốt lên rằng, “đánh nhau giành đất, thây
chất thành đất; đánh nhau giành thành, thây chất đầy thành”. Đó là thời đại “liệt
quốc kiêm tính” (nhiều nước đánh nhau). Theo các sử gia nhận xét thì thời kỳ
Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ lịch sử đặc biệt có một không hai trong lịch
sử Trung Quốc. Đây là thời kỳ cái mới, cái cũ đan xen, xáo trộn. Chính trong
thời kỳ lịch sử đặc biệt này đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều tư tưởng, học thuyết.
Trong thời đại lịch sử đầy biến động và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề
về triết học, chính trị - xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, v.v.,
kích thích lòng người khiến cho các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm
ra các phương pháp giải quyết “cứu đời, cứu người”, làm nảy sinh một loạt các
nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn. Nhìn chung, các nhà tư

14


tưởng, các môn phái triết học đều đại diện cho các tầng lớp, giai cấp xã hội khác
nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt
để giải quyết các vấn đề xã hội theo lập trường của giai cấp mình, tạo nên không
khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Hoa cổ đại. Nó thực sự trở
thành điểm đỉnh của toàn bộ đời sống văn hoá tinh thần Trung Hoa cổ đại, như
một mốc son chói lọi trong tư tưởng phương Đông.
Trong số các học thuyết ra đời ở thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Nho giáo
là học thuyết chính trị - đạo đức tiêu biểu nhất, có ảnh hưởng lâu dài nhất ở

phản ánh quá trình hình thành và tiến hóa của vũ trụ, thông qua nó để thể hiện tư
tưởng triết học tự nhiên trên cơ sở lý giải mối quan hệ giữa Âm và Dương trong
chỉnh thể sơ khai là Thái cực.
Để phát triển nông nghiệp, ngoài việc xây dựng các công trình thuỷ lợi
dẫn nước vào ruộng, người ta đã biết quan sát sự vận hành của mặt trăng để tính
ra chu kì thuỷ triều lên xuống, biết làm ra lịch pháp tính ngày, giờ, tháng, năm
theo dõi thời tiết, khí hậu, mùa màng dựa vào hệ thống 10 can, 12 chi. Bên cạnh
những thành tựu về khoa học tự nhiên, Trung Quốc có một nền văn học rất
phong phú. Ngay từ đầu thời Tây Chu, Kinh Thi đã xuất hiện. Đây là tập thơ ca
và cũng là tác phẩm văn học đầu tiên của Trung Quốc với 305 bài thơ được chia
làm 3 phần là Phong, Nhã, Tụng. Là một tập thơ được sáng tác trong 5 thế kỉ,
Kinh Thi không chỉ có giá trị về văn học, mà còn là tấm gương phản ánh tình
hình xã hội Trung Quốc đương thời. Ngoài ra, tác phẩm này còn được các nhà
Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tư tưởng của nó. Chính Khổng Tử đã nói:
“Sao các con chẳng chịu đọc Kinh Thi? Kinh Thi khiến cho ta hưng khởi tâm

16


hồn, dạy cho ta xem xét, dạy cho ta biết hợp quần, dạy cho ta biết oán giận chính
đáng. Gần thì biết thờ cha mẹ, xa thì biết thờ vua. Lại ghi nhớ tên gọi của nhiều
loài chim, loài thú và cây cỏ” [28, tr.623]1.
Thứ hai, về tư tưởng chính trị. Xuất phát từ quan niệm kính trời, thờ
thượng đế, tri mệnh, người với trời hợp nhất, tư tưởng chính trị thời Chu đã được
tôn giáo hoá một cách toàn diện, chủ trương của giai cấp quý tộc nhà Chu là
“nhận dân”, “hưởng dân” và “trị dân”. Thiên tử là người chịu mệnh trời nhận dân
để thống trị thiên hạ. Chính vì vậy, mọi người phải kính cẩn, sợ uy trời và tôn
trọng phép tắc của Thiên tử. Nếu kẻ làm dân mà làm loạn thì kẻ được “hưởng
dân” (thiên tử) sẽ phải dùng phép tắc để trị dân.
Thứ ba, về tư tưởng đạo đức. Thời nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm

Lên ba tuổi, Khổng Tử mồ côi cha, lúc nhỏ chơi với bọn trẻ ông thường
hay bày các khay để cúng và chơi trò tế lễ. Đến năm mười một tuổi từng học
Chu lễ với Lỗ Thái sư. Mười chín tuổi, Khổng Tử thành gia thất. Hai mươi tuổi,
ông đã nắm vững nhiều tri thức văn hoá và được ca ngợi là “bác học hiếu lễ”.
Năm Khổng Tử hai mươi tuổi thì người mẹ qua đời. Lúc này Khổng Tử đã từng
làm “tướng lễ” (giúp việc cúng tế lễ nghi) và theo nghề “Nho”. Sau đó giữ chức
uỷ lại coi việc gạt thóc trong kho, sau làm chức quan coi việc nuôi bò, dê để
dùng vào việc cúng tế “Thưở ấy tuy Ngài còn trẻ tuổi, nhưng đã nổi tiếng là
người giỏi, cho nên quan nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho hai người con là Hà Kị
và Nam Cung Quát theo ngài học lễ” [25, tr.48]. Gần ba mươi tuổi, nhờ sự giúp
đỡ của Lỗ hầu, Khổng Tử đến Lạc ấp, kinh đô nhà Chu. Tại đây ông đã tận mắt
xem xét các tài liệu mà người xưa để lại, hiểu được những thể chế, nghi lễ nhà
Chu, điều gì chưa rõ thì hỏi han ở mọi người, hỏi lễ ở Lão Tử, hỏi nhạc ở Trành
Hoằng. Ít lâu sau, ông trở về nước Lỗ, kiến thức rộng thêm, học trò càng đông,
nhưng bản thân ông chưa được trọng dụng.

18


Năm 51 tuổi ông được vua nước Lỗ cử làm Trung Đô tể (vị quan đứng đầu
kinh thành). “Được một năm, Trung Đô rất có trật tự, kỷ luật từ trên xuống dưới,
thành một thị trấn kiểu mẫu” [33, tr.48]. Một năm sau được cử làm Tư không,
sau đó được thăng lên chức Đại tư khấu (vị quan đứng đầu nghành tư pháp). “Ở
chức vụ này trong 4 năm, ông xem lại luật lệ, đặt ra những phép tắc nhằm cứu
giúp người nghèo khó, khuyến khích dân chúng giữ lấy thuần phong mỹ tục, bày
ra một cảnh tượng thái bình: người đi đường thấy của rơi không thèm nhặt, trộm
cắp mất hẳn, hình pháp đặt ra không cần dùng tới” [28, tr.188]. Sau đó ông được
cất nhắc lên chức Nhiếp tướng sự coi việc hình in, ấn định luật lệ, phép tắc trong
nước. “Sử chép rằng: Ngài vừa cầm chính quyền được bảy ngày thì giết quan đại
phu Thiếu Chính Mão, là người xảo quyệt gian hiểm lúc bấy giờ được ba tháng

v.v.
Về mặt triết học, Khổng Tử thừa nhận thế giới là một thể thống nhất luôn
luôn tự vận động, sinh hoá do sức mạnh huyền diệu của âm, dương là hai khởi
nguyên tương đối “cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá” [25, tr.66]. Khởi
điểm của tạo hoá và đạo trời đất cũng khởi đầu bởi sự biến hoá của hai khởi
nguyên tương đối là âm và dương. Đồng thời, ông nhấn mạnh vai trò hoạt động
của con người trong thế giới: “người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm
dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành” [25, tr.67], cho nên
con người có cái sáng suốt để hiểu hết sự vật. Nhưng khi giải thích nguồn gốc
sâu xa của vũ trụ ông lại khẳng định có “mệnh trời”, có “quỷ thần” là lực lượng
siêu nhiên chi phối, con người phải biết mệnh, dựa vào mệnh, theo mệnh, không
thể cưỡng lại được mệnh. Như vậy, trong triết học của Khổng Tử vừa có những
yếu tố duy vật chất phác và biện chứng tự nhiên tiến bộ, lại vừa có những quan

20


điểm duy tâm thần bí, điều mà sau này nhiều Nho gia đã phát triển, khuyếch đại
thành học thuyết duy tâm tiên nghiệm phục vụ cho giai cấp thống trị của chế độ
phong kiến trì trệ, bảo thủ ở Trung Quốc.
Khổng Tử coi đạo đức là gốc của con người, là cơ sở để quản lí xã hội.
Nội dung của đạo đức bao gồm nhiều mặt như: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng,
liêm, v.v., song ông tập chung chủ yếu vào chữ “Nhân”. “Nhân” được Khổng Tử
coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và quan hệ giữa
người với người từ gia đình đến xã hội. Chữ nhân trong quan niệm của Khổng
Tử có ý nghĩa rất rộng và sâu sắc, bao quát mọi mặt của đời sống con người, lúc
thì trừu tượng khái quát, lúc thì cụ thể sinh động, tuỳ hoàn cảnh mà biểu hiện ra
một cách khác nhau.
Bên cạnh Nhân, Khổng Tử còn chú trọng đến “Lễ”, nhưng Lễ theo Khổng
Tử không phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập mà là một vấn đề

Tử yêu cầu những người cầm quyền phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức bản
thân, lấy việc huệ dân làm mục đích căn bản cho hoạt động chính trị của nhà cầm
quyền.
Mục đích cao nhất trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử là xây dựng xã
hội lý tưởng theo mô hình xã hội thời Tây Chu, một xã hội có tôn ti trật tự, mọi
người sống có trách nhiệm với nhau, làm đúng chức năng của mình, giúp đỡ lẫn
nhau, không xâm phạm nhau; ai cũng phải tu thân, nhất là những người lãnh đạo
xã hội. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở, trọng tình cảm, công bằng, không có
người quá nghèo hoặc quá giàu. Xã hội đó không kích thích lao động sản xuất,
làm giàu, coi nhẹ lợi ích vật chất, coi trọng tình cảm.

22


Với tư cách nhà hoạt động chính trị, Khổng Tử là đại diện cho tầng lớp
quý tộc trong thời kì chế độ nô lệ đang có xu hướng tan rã. Đứng trên lập trường
của giai cấp chủ nô đang suy tàn để giải quyết vấn đề, Khổng Tử tự cho mình là
người có trách nhiệm khôi phục lại trật tự lễ giáo cũ với chủ trương cai trị quốc
gia theo lễ chế nhà Chu. Mặc dù vậy, nhưng ông cũng phải thừa nhận cần phải
có một số cải cách trong quan niệm về Lễ và có thái độ coi trọng địa vị con
người. Bởi vậy, về căn bản, quan điểm và hoạt động chính trị của ông không
thuận với xu thế phát triển của lịch sử, không đáp ứng được yêu cầu của hiện
thực chính trị đương thời. Vì thế, ngoài bốn năm làm quan Tư khấu nước Lỗ khi
đã ngoài 50 tuổi, thì trong suốt 14 năm chu du các nước, Khổng Tử đều không
được các nước chư hầu trọng dụng, ngược lại còn luôn bị đối xử lạnh nhạt, thấm
chí đôi khi thầy trò còn lâm vào cảnh khốn cùng. Dẫu vậy, Khổng Tử vẫn nỗ lực
thực hiện lí tưởng chính trị của mình bằng cách dốc sức vào sự nghiệp giáo dục
và văn hoá, để tạo ra lực lượng nòng cốt, trung thành phục vụ chế độ xã hội, thực
hiện tiếp lý tưởng chính trị của mình. Suốt cuộc đời luôn khao khát được vi
chính, Khổng Tử mong mỏi được mang cái đạo của mình ra thi thố với đời. Ông

Luận Ngữ là một trong những cuốn kinh điển quan trọng của Nho gia,
được các học giả từ xưa cho đến nay sắp đặt vào hệ thống Tứ thư và tập trung
chú giải, dịch thuật ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. “Luận Ngữ” nguyên nghĩa là
những lời bàn bạc. Sách Luận ngữ chép rất trung thực tư tưởng của Khổng Tử,
do vậy, muốn tìm hiểu học thuyết của Khổng Tử thì phải căn cứ trước hết vào
Luận Ngữ. Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: “Từ xưa tới nay hầu hết các học
giả về học thuyết Khổng Tử đều dùng cả Tứ thư lẫn Kinh thư, Kinh Lễ, Kinh
Dịch, Khổng Tử gia ngữ v.v…làm tài liệu, như vậy theo tôi không phải là tìm

24


hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thời Chiến Quốc, vì trong
những sách dẫn trên, ngoài bộ Luận ngữ là đáng tin nhất, thì còn bộ nào cũng
chứa nhiều tư tưởng của người sau này, không phải của Khổng Tử” [32, tr.7].
Chính vì lẽ đó mà khi nghiên cứu về Khổng Tử cũng như nội dung tư tưởng của
Nho gia không thể không tìm hiểu Luận ngữ.
Luận ngữ là những ghi chép lời ứng đáp của Khổng Tử với các học trò và
những người đương đại, thỉnh thoảng có những lời nghị luận học trò với nhau
khi tiếp nghe lời thầy. Sau khi Khổng Tử mất, họ đã tập trung lại những gì họ ghi
chép mà soạn ra, nên gọi là Luận ngữ. Có thể khẳng định rằng, Luận ngữ là một
tác phẩm quan trọng trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc mà nhân vật trung tâm
của tác phẩm này chính là Khổng Tử.
Theo nhận định của các học giả, Luận ngữ ra đời từ trước thời Chiến
Quốc, trong thảm họa “phần thư khanh nho” của Tần Thuỷ Hoàng, sách Luận
ngữ hầu như bị cháy rụi trong ngọn lửa bạo tàn. Đến thời Tây Hán, phải khó
khăn lắm người ta mới khôi phục lại được. Lúc này xuất hiện ba bản Luận ngữ:
- Lỗ Luận ngữ : 20 thiên
- Tề Luận ngữ : 22 thiên.
- Cổ văn Luận ngữ : 21 thiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status