I.Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân.
1.Khái niệm và đặc điểm thuế thu nhập cá nhân;
a, Khái niệm
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập của các cá
nhân trong từng thời kì. Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế xuất hiện tương đối
sớm. Lần đầu tiên nó xuất hiện ở nước Anh vào năm 1799. Đầu tiên nó đã bị phản
đối rất nhiều, bản thân thủ tướng nước Anh William Pitt năm 1798 đã từng nói “
Thật là nhục nhã và xấu hổ đối với cơ quan thuế và hình ảnh của một quốc gia khi
bắt một quí ông hay một quí cô phải nói với ai đó về thu nhập của họ”. Nhưng chỉ
một năm sau thì chính ông đã phải thay đổi quan điểm, và thuế thu nhập cá nhân
đã ra đời. Ở Mỹ, thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện trong thời kì chiến tranh 1812,
và nó cũng dựa vào điều luật thuế của nước Anh năm 1798. Sau 1815, nó lại bị xoá
bỏ ở Mỹ do Nhà nước không có nhu cầu tăng thu ngân sách. Nhưng cho đến năm
1862, thuế thu nhập cá nhân lại quay trở lại nước Mỹ sau khi Bộ luật thuế 1862
được tổng thống Licoln phê chuẩn, nó nhằm mục đích cung cấp nguồn tài chính
cho cuộc nội chiến của nước Mỹ . Ở một số nước khác thuế thu nhập cá nhân cũng
xuất hiện từ khá sớm, nước Nhật năm 1887,Trung Quốc năm 1936 còn Hàn Quốc
thì loại thuế này ra đời muộn hơn vào năm 1974 .
Tóm lại, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của
cá nhân cư trú và không cư trú.
b, Đặc điểm
Thuế thu nhập cá nhân là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của
từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp
thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu
nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các
đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.
Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối
tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh
thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước
nhập cá nhân đánh theo nguyên tắc khả năng trả thuế và thuế suất của nó thường
được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa
các đối tượng trả thuế.
Thuế thu nhập cá nhân (thuế tncn) không bóp méo giá cả bằng hàng hóa, dịch vụ.
Thuế thu nhập cá nhân (thuế tncn) không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán)
hàng hóa, dịch vụ nên nó không tọa ra sự sai lệch giá cả hàng hóa dịch vụ.
II. Quy định của pháp luật về thu nhập chịu thuế trong thuế thu
nhập cá nhân
1. Đối tượng nộp thuế
Theo quy định tại Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 2 của Nghị
định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao
gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế
của đối tượng nộp thuế như sau:
Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và
ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.
Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại
Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.
Theo quy định này thì ta phải xác định cá nhân cư trú và cá nhân không cư
tại việt Nam. Theo khoản 2 Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân thì cá nhân cư trú là
người đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch
hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp: Có nơi
ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú và có nhà thuê để ở tại
Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ
90 ngày trở lên trong năm tính thuế.
1. Thu nhập từ kinh doanh
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh, bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của
cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung
ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ.
Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu
hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng
dịch vụ.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công là các khoản thu nhập người lao động
nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không
bằng tiền.
Thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm:
- Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định
của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc
hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố
độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật,
trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một
lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động,
trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm
theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi
trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội;
- Tiền thù lao dưới các hình thức;
- Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban
kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức;
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là khoản thu nhập nhận được từ
việc chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; Thu nhập từ
chuyển quyền thuê đất, thuê mặt nước; Các khoản thu nhập khác nhận được từ
chuyển nhượng bất động sản.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là
thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
6. Thu nhập từ trúng thưởng
Thu nhập từ trúng thưởng là các khoản tiền hoặc hiện vật mà cá nhân nhận
được dưới các hình thức sau đây: Trúng thưởng xổ số; Trúng thưởng trong các
hình thức khuyến mại; Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; Trúng
thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng là thời điểm tổ chức,
cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.
7. Thu nhập từ bản quyền
Thu nhập từ bản quyền là thu nhập nhận được khi chuyển nhượng, chuyển
giao quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển
giao công nghệ.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ bản quyền là thời điểm tổ chức, cá
nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.
8. Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện của bên nhượng quyền.
Thu nhập từ nhượng quyền thương mại là các khoản thu nhập mà cá nhân
nhận được từ các hợp đồng nhượng quyền thương mại nêu trên, bao gồm cả việc
nhượng lại quyền thương mại theo quy định của pháp luật về nhượng quyền
động tức là người
đứng ra kinh
doanh và không giới hạn mức tối đa, trong khi chi phí được khấu
trừ cho 1 cá nhân đóng thuế thu nhập từ tiền lương, tiền công chỉ
giới hạn tối đa là 4 triệu đồng/tháng. Để tránh sự tùy tiện trong
việc định ra mức lương cho chính mình, luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp đã loại trừ “tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư
nhân” ra khỏi chi phí được khấu trừ, trong khi đó thuế TNCN thì
không người trực tiếp kinh doanh, giảm thu nhập chịu thuế. Mặt
khác thu nhập từ kinh doanh còn được khấu trừ chi trả lãi tiền
vay, chi khấu hao TSCĐ,… trong khi thu nhập từ tiền lương tiền
công không đề cập đến các yếu tố này.
- Về thu nhập chịu thuế khi chuyển nhượng bất động sản
có sự phân biệt thuế suất rất lớn khi xác định được giá vốn và
không xác định được giá vốn. Chính điều này dẫn tới sự kê khai
giá không thực tế khi giao dịch mua bán nhà đất
- Về các khoản thu nhập được miễn thuế cần phải xem xét lại
bởi chúng không tương thích với luật quốc tế và không phù hợp
với thông lệ quốc tê, chẳng hạn như:
+ Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng
đất ở trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có một nhà ở,
đất ở duy nhất thì không phải nộp thuế. Quy định như vậy là hợp
lí nhưng trên thực tế rất khó có thể kiểm soát việc sở hữu nhà ở,
quyền sử dụng đất của người bán trong trường hợp chuyển
nhượng có phải là duy nhất thực sự hay không bởi việc chuyển
- Đối với thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh
doanh của cá nhân nên loại trừ phần tiền lương, tiền công trả cho
người lao động trực tiếp đứng ra kinh doanh như trong thuế thu
nhập doanh nghiệp.
- Xem xét lại qui định về miễn thuế, tránh sự thiên lệch giữa
các đối tượng
chịu thuế.
+ Đối với miễn thuế cho chuyển nhượng bất động sản của người
chỉ có một nhà đất duy nhất phải qui định cụ thể hơn tránh gây
khó khăn cho người dân. Cần tập trung rà soát và truy thu thuế ở
các cá nhân có thu nhập từ nhiều nơi, nên chuyển đối tượng này
từ được miễn thuế sang được giảm 50% số thuế phải nộp là phù
hợp, nhằm hạn chế thất thu thuế, đồng thời vẫn kiểm kê kiểm
soát được hoạt động chuyển nhượng kinh doanh bất động sản.
+ Các khoản thu nhập theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 4
Luật thuế TNCN nên được coi là thu nhập chịu thuế thu nhập cá
nhân vì như vậy sẽ tạo ra sự bình đẳng trong xã hội , trở thành
công cụ pháp lý đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập.
- Cải tiến thủ tục hoàn thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho cá
nhân khi làm thủ tục quyết toán thuế và hoàn thuế cuối năm
- Tăng cường công tác quản lý thu thuế, qui định chặt chẽ
hơn nữa các chế tài liên quan đến kê khai người phụ thuộc, áp
dụng công cụ tin học trong
quản lý tránh sự trùng lặp nhưng
đồng thời không gây khó dễ cho người dân.