Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Việt Nam - Pdf 34

THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ
CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM
A.Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN DÂN SỰ QUỐC TẾ
Nhu cầu giao lưu quốc tế giữa các quốc gia gia tăng không ngừng theo từng
giai đoạn phát triển, cùng với sự gia tăng đột biến về số lượng, đó là sự phong phú và
đa dạng của các loại hình quan hệ. Mỗi mối quan hệ luôn hình thành trên cơ sở lợi ích
hữu hình hoặc vô hình giữa các chủ thể nhất định. Do đó, việc giải quyết các tranh
chấp phát sinh giữa các chủ thể này khi xảy ra vấn đề xung đột lợi ích là nhu cầu tất
yếu của xã hội, nhà nước và pháp luật ra đời không ngoài mục đích trên.
Khi một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh tranh chấp có hai vấn
đề chủ yếu cần được giải quyết là xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết (đầu tiên
là ở cấp độ quốc gia sau đó là cấp độ Tòa án địa phương) và xác định pháp luật được
áp dụng. Nhìn chung, vấn đề xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia đối với
các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định khá khác biệt ở các quốc gia.
Gần như hoàn toàn không thể đạt được đến sự thống nhất do tính tương đối của các
căn cứ, có thể lí giải đó là một trong những nguyên nhân cho sự xung đột, không
thống nhất của các hệ thống pháp luật trên thế giới. Hầu hết các quốc gia khi xây
dựng hệ thống các quy phạm nhằm xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia khi điều
chỉnh các quan hệ có yếu tố nước ngoài đều theo xu hướng mở rộng tối đa khả năng
tài phán của mình đối với các quan hệ này. Tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể, các lợi
ích vật chất có thể mang lại cho từ việc tranh giành được thẩm quyền tài phán đó là
không xác định. Mục đích chính của các quốc gia khi đưa ra hệ thống các quy phạm
này chỉ nhằm một mục đích duy nhất là bảo vệ chủ quyền quốc gia mình. Điều này
làm phát sinh những xung đột gay gắt về thẩm quyền tài phán của quốc gia đối với
cùng một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Xung đột thẩm quyền là hiện tượng
hai hay nhiều cơ quan tư pháp (thường là các tòa án) của các nước khác nhau cùng có
thẩm quyền xét xử một vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài và có thể
có những phán quyết trái ngược nhau.
Việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia đối với một vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài cũng tương tự như việc xác định pháp luật áp dụng, nó có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết xung đột pháp luật ở đây là xung đột

ở nước ngoài.
- Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài,
phát sinh tại nước ngoài .
- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
* Mối quan hệ giữa “tố tụng dân sự quốc tế” và “thẩm quyền xét xử dân sự quốc
tế”
Theo định nghĩa ở trên thì “tố tụng dân sự quốc tế” bao gồm những vấn đề:
+ Thứ nhất, vấn đề thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế;
+ Thứ hai, quy chế pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân và nhà nước
nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc tế;
+ Thứ ba, vấn đề ủy thác Tư pháp quốc tế;
+ Thứ tư, vấn đề công nhận thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án
nước ngoài.
2. Thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Trong tiếng Việt, thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một
vấn đề theo pháp luật2. Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp
các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy
nhà nước do pháp luật quy định. Ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ này cũng
được sử dụng với nghĩa tương tự. Chẳng hạn, trong từ điển luật học của Pháp, thuật
ngữ thẩm quyền (competence) được hiểu là khả năng mà pháp luật trao cho cơ quan
công quyền (autorite publique) hoặc cơ quan tài phán (Juridiction) thực hiện công
việc nhất định hoặc thẩm cứu hoặc xét xử một vụ kiện 3. Trong từ điển luật học của
Mỹ, thẩm quyền được hiểu là khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyền
xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và giải quyết một
việc gì theo pháp luật4.
Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là thẩm quyền của tòa án tư pháp của một
nước nhất định đổi với việc xét xử các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài 5. Thẩm
quyền này của Tòa án một nước phụ thuộc vào quy định của điều ước quốc tế mà
Nguyễn Bá Diến: Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 331.
Xem: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003, tr.922.

(ví dụ: Việt Nam xác định thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với các vụ án dân sự có
liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam ) hay
nhằm mục đích bảo vệ cho các cá nhân, pháp nhân, một lĩnh vực ngành nghề nào đó
trong nước (ví dụ: Việt Nam xác định thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng vận chuyển mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi
nhánh tại Việt Nam).
II.
Xác định thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
1. Xác định thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài ở
các nước
Để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, pháp luật của
tất cả các quốc gia đều có quy định về các trường hợp tòa án và các cơ quan có thẩm
quyền khác của mình có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài.
- Bộ Luật dân sự Napoleong của Pháp năm 1804
Theo các Điều 14 và 15, nếu ít nhất một bên tranh chấp không phân biệt
nguyên đơn hay bị đơn, là người mang quốc tịch Pháp thì Tòa án Pháp có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự. Riêng trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản ở
Pháp, thì Tòa án Pháp giữ đặc quyền giải quyết tranh chấp, bất kể có công dân, pháp
nhân của Pháp có tranh chấp hay không8.
ThS. Nguyễn Bá Bình, Việc xác định cơ quan giải quyết tranh chấp và chọn luật áp dụng đối với hợp
đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,
web:.
7 Đã dẫn
8 Đoàn Năng: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB. Chính trị quốc gia, 2001, tr. 246.
6

3


Nguyên tắc chung làm cơ sở xác định thẩm quyền quốc gia giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài là nguyên tắc thẩm quyền theo nơi cư trú của bị
đơn10 (bị đơn cư trú ở nước nào thì Tòa án nước đó có thẩn quyền giải quyết tranh
chấp. Đối với pháp nhân, nơi “cư trú” của bị đơn được hiểu là nơi đặt trụ sở chính của
pháp nhân.
Ngoài nguyên tắc chung nêu trên, mỗi nước đều xây dựng những nguyên tắc
cụ thể xác định thẩm quyền giải quyết một số loại tranh chấp cụ thể như: Thẩm quyền
theo nơi có tài sản, thẩm quyền theo nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại, nơi pháp sinh
hậu quả hành vi gây thiệt hại …
2. Xác định thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
trong các điều ước quốc tế
Vấn đề xác định thẩm quyền quốc gia giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài trước hết được quy định trong pháp luật của từng nước, nhưng cũng được
9

Đã dẫn.
Đã dẫn.

10

4


các nước thỏa thuận quy định trong các điều ước quốc tế đa phương và song phương.
Việc thống nhất phân định thẩm quyền quốc gia trong việc giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài bằng cách kí kết các điều ước quốc tế là việc làm rất cần
thiết, nhằm khắc phục tình trạng xung đột pháp luật về thẩm quyền giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài, khắc phục tình trạng một tranh chấp có yếu tố nước
ngoài nhưng hai hay nhiều nước hữu quan đều khẳng định thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình hay họ đều khước từ giải quyết với lý do không thuộc thẩm quyền của

năm 2010. Trong các hiệp định này, nhìn chung việc phân định thẩm quyền xét xử
của tòa án trong đại đa số các trường hợp được xác định dựa trên mối liên hệ quốc
tịch. Tòa án có thẩm quyền để giải quyết vụ việc là tòa án của nước mà một trong các
bên đương sự mang quốc tịch. Ngoài căn cứ quốc tịch của đương sự, một số các căn
cứ khác cũng được sử dụng như căn cứ nơi thường trú của đương sự, nơi có tài sản là
đối tượng của tranh chấp…
Việc xác định thẩm quyền xét xử đôi với một số loại vụ việc được quy định
trong các Hiệp định tương trợ tư pháp cụ thể như sau:

5


+ Đối với các vụ việc về tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc
mất năng lực hành vi, vụ việc về hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành
vi hoặc thẩm quyền quyết định mất năng lực hành vi thì thẩm quyền thuộc về tòa án
của nước kí kết mà tòa án mang quốc tịch. Trong một số trường hợp nhất định, tòa án
của các nước kí kết mà đương sự cư trú cũng có thể có thẩm quyền.
Ví dụ, Điều 20 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và
hình sự giữa CHXH chủ nghĩa Việt Nam với Liên Bang Nga…11
+ Xác định thẩm quyền của tòa án trong việc tuyên bố một người mất tích
hoặc đã chết thì căn cứ vào quốc tịch của quốc tịch của đương sự.
Ví dụ, Điều 23 Hiệp định tương tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề
dân sự và hình sự giữa CHXH chủ nghĩa Việt Nam với Liên Bang Nga…
+ Đối với các tranh chấp liên quan đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
giữa vợ và chồng, tòa án của nước kí kết nơi cư trú chung, hoặc tòa án của nước mà
cả hai vợ chồng đều mang quốc tịch đều có thẩm quyền giải quyết. Nếu một người
mang quốc tịch của nước này và một người mang quốc tịch nước kia thì tòa án của
hai nước đều có thẩm quyền giải quyết.
+ Đối với vụ việc ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án của nước mà
cả hai vợ chồng có quốc tịch chung hoặc nơi cư trú chung vào thời điểm đưa đơn xin



các trường hợp Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài.
Thẩm quyền chung được hiểu là việc tòa án Việt Nam và tòa án nước ngoài
cùng có thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, nếu hướng
giải quyết của tòa án của tòa án nước ngoài mà phù hợp với những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam thì quyết định của họ có thể được thừa nhận và thi hành ở
Việt Nam. Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc
dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định trong Điều 410 BLTTDS Việt Nam năm
2004. Cơ sở của việc quy định thẩm quyền chung thường xuất phát từ việc hầu hết
các quốc gia trên thế giới có những quy định giống nhau về dấu hiệu xác định thẩm
quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Như vậy, khi xuất hiện vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài thì có khả năng có nhiều toà án cùng có thẩm quyền. Điều
này tạo điều kiện mở rộng thẩm quyền xét xử của các quốc gia cũng như tạo điều kiện
cho những người đi khởi kiện lựa chọn được toà án nào có thể bảo vệ tốt nhất quyền
và lợi ích của mình khi bị xâm hại.
Thẩm quyền riêng biệt của toà án Việt Nam là việc giải quyết tranh chấp dân
sự có yếu tố nước ngoài chỉ thuộc về toà án của Việt Nam .Tức là trong một số trường
hợp pháp luật Việt Nam chỉ có tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết nên khi tòa
án nước ngoài có giải quyết thì quyết định của họ sẽ không được thừa nhận và thi
hành ở Việt Nam. Pháp luật Việt Nam tại điều 411 BLTTDS Việt Nam năm 2004 và
trong một số hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước.
Cơ sở của việc quy định thẩm quyền riêng biệt là lý luận về sự phù hợp và mối
quan hệ đặc biệt giữa tranh chấp và tòa án một quốc gia cụ thể; Yếu tố chủ quyền, lợi
ích của quốc gia hoặc vấn đề an ninh trật tự công cộng của quốc gia. Qua đó bảo vệ
chủ quyền và lợi ích quốc gia cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Lý luận chung về thẩm quyền giải quyết các vụ việc trong TPQT ở các nước
đã chỉ ra rằng, có ba vấn đề cơ bản phải cân nhắc để xác định khi nào thì một tòa án

sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp”.
+ Vì sao lại căn cứ vào cơ quan, tổ chức nước ngoài là bị đơn và phải có trụ
sở chính?
Thứ nhất, trụ sở chính của doanh nghiệp đóng vai trò quản lí điều hành chính
cho hoạt động của một doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc nó có trách nhiệm chính
trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động của các bộ phận mà nó
quản lí.
Thứ hai xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo chủ quyền quốc gia theo lãnh thổ. Dù
không phải là pháp nhân, cơ quan có quốc tịch của quốc gia sở tại, tuy nhiên những
hoạt động chính yếu của nó được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia này. Chính vì vậy,
với quyền lực của mình, quốc gia sở tại buộc nó phải chấp nhận thẩm quyền tài phán
của mình trên cơ sở đảm bảo trật tự pháp lí được thiết lập trong nội tại lãnh thổ quốc
gia đó.
Thứ ba cũng khá thiết thực như đã được trình bày ở trên là tạo điều kiện cho
quá trình tố tụng, đặc biệt là việc thi hành án. Một khi trụ sở chính của cơ quan tổ
chức nằm trên lãnh thổ của Tòa án có thẩm quyền thì việc tống đạt các văn bản cũng
sẽ rất thuận lợi, các hoạt động cưỡng chế thi hành án,… sẽ không qua nhiều thủ tục
phức tạp như ủy thác tư pháp,….
Quy định trên cũng cho thấy, Tòa án Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết
trong trường hợp này khi phía khởi kiện là bên Việt Nam; còn nếu cơ quan, tổ chức
nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước
ngoài khởi kiện, Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết.
+ Tòa án Việt Nam cũng có quyền giải quyết vụ việc khi bị đơn là cơ quan, tổ
chức nước ngoài có chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam.
Luật không nói rõ là Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết đối với tất cả
các vụ việc phát sinh có liên quan đến chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam của
cơ quan, tổ chức nước ngoài hay chỉ trong một số trường hợp cụ thể. Cách quy định
của điều luật cho ta hiểu rằng, Tòa án Việt Nam có quyền giải quyết tất cả các vụ việc
mà bị đơn là tổ chức nước ngoài có chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam.
Trên thực tế có nhiều trường hợp không có một mối liên hệ nào giữa tư cách bị

theo quy định trên, khi bị đơn nước ngoài chỉ có nơi tạm trú tại Việt Nam mà không
có tài sản trên lãnh thỗ Việt Nam, Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết.
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có một quy định nào
rõ ràng, phân biệt về thường trú hoặc tạm trú. Trong Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội số 35/2001/PL-UBTVQH10 về Thuế thu nhập đối với người có thu nhập
cao có một quy định: “Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại
Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng kể từ khi đến Việt Nam; được coi là
không cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày”
Vậy Tòa án Việt Nam sẽ căn cứ vào tiêu chí nào để xác định thẩm quyền tài
phán của mình, đây là một vấn đề mà pháp luật còn bỏ ngỏ. Vì vậy, pháp luật tố tụng
hoặc các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan cần có những bổ sung hợp lí
tạo điều kiện cho quá trình thực thi các quy định đã được ban hành.
Quy định này trái với một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ví
dụ: Khoản 1, Điều 18 của Hiệp định Tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình
sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy
định: “Tòa án của một trong hai bên ký kết ra quyết định sẽ được coi là có thẩm
quyền đối với vụ việc, nếu bị đơn có nơi thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thổ của
bên ký kết đó tại thời điểm bắt đầu tiến hành trình tư tố tụng”. Trong trường hợp này,
quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng nên sẽ có những trường hợp Tòa
án Việt Nam có thẩm quyền xét xử dù bị đơn nước ngoài chỉ có nơi tạm trú tại Việt
Nam.14
13

Nguyên văn: “As regards a dispute arising out of the operations of a branch, agency or other
establishment, in the courts for the place in which the branch, agency or other establishment is situated”
14

Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Trung Hoa 1998

9

Khi bên nước ngoài là nguyên đơn, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết
vụ việc trong các trường hợp cụ thể là yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng, xác định cha mẹ và
người nước ngoài phải cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.
Đây là một trường hợp ngoại lệ của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam khi
điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Quy định trên là hợp lý vì những
vụ việc này liên quan đến nhân thân của các đương sự trong vụ việc cũng như những
chủ thể khác có liên quan nên khi vụ việc xảy ra, các chủ thể hiện đang có mặt tại
Việt Nam, bên người nước ngoài có quyền khởi kiện tại Tòa án Việt Nam để yêu cầu
giải quyết. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để bên nước ngoài bảo vệ lợi ích hợp pháp
của mình, Tòa án Việt Nam có thể xác minh vụ việc, điều tra, thu thập chứng cứ cũng
như áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết trong quá trình giải quyết vụ việc. Đây
cũng là một trong những biểu hiện của việc đối xử tương xứng của pháp luật một
quốc gia đối với công dân nước mình và công dân nước ngoài hoặc người không quốc
tịch cư trú cùng trên một lãnh thổ.
d) Vụ việc dân sự về quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam,

10


nhưng có ít nhất một trong các đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước
ngoài. Trường hợp này được chia thành:
+ Quan hệ theo pháp luật Việt Nam:
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khi bên nước ngoài không có trụ
sở chính, cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam (đối với cơ
quan, tổ chức) hoặc không có nơi thường trú ở Việt Nam (đối với cá nhân) nhưng căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật Việt Nam. Quy định này
là hợp lý vì nếu trong trường hợp cơ quan, tổ chức có trụ sở chính, cơ quan quản lý,
chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài hoặc cá nhân có nơi thường trú ở nước
ngoài mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó không theo pháp luật Việt

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ kiện này hay không?” (tức là câu hỏi về thẩm quyền).
Chỉ khi nào giải quyết xong câu hỏi đầu tiên (câu hỏi về thẩm quyền) với kết quả trả lời là có, tức là
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc, thì câu hỏi thứ hai mới đươc đặt ra: “Căn cứ vào
các quy phạm xung đột pháp luật của Việt Nam thì hệ thống pháp luật nước nào được áp dụng để giải
quyết vụ việc?”. Trả lời câu hỏi thứ nhất là có, rồi thì các quy định về quy phạm xung đột mới có cơ hội
được áp dụng”
Xem: Nguyễn Văn Cương, không nên đặt quy phạm xử lí xung đột pháp luật vào luật cạnh tranh,
/>15

11


Ông E là con ông B hiện đang làm việc tại Việt Nam muốn kiện công ty M ra Tòa án
Việt Nam để được bồi thường thiệt hại về tinh thần. Trong trường hợp này, sự việc đã
xảy ra ở Việt Nam và có ít nhất một bên đương sự (ông E) là người nước ngoài nên
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết.
Việc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền tài phán đối với những vụ việc dân sự
về quan hệ dân sự xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam là nhằm mục đích đảm bảo trật tự
quản lí xã hội của nhà nước, ngoài mục đích này thì cũng còn khá nhiều các thuận lợi
khác đối với việc giải quyết vụ việc dân sự đó. Cụ thể, vì quan hệ đó xay ra trên lãnh
thổ của Việt Nam nên trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng liên quan đến
việc xác định những vấn đề liên quan đó sẽ dễ dàng hơn. Mặt khác, khi quan hệ đó
xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam thì khả năng lớn là quan hệ đó sẽ chịu sự điều chỉnh
của pháp luật Việt Nam (toàn bộ hoặc ở một khía cạnh nào đó của quan hệ), hay nói
cách khác pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam, điều này sẽ tạo điều kiện rất
thuận lợi khi Tòa án Việt Nam là Tòa án có thẩm quyền tài phán.
Quy định này là một bước tiến bộ của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét
xử của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong điều
kiện Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế, những
quan hệ dân sự mà một bên hoặc cả hai bên tham gia đều là nước ngoài được thực


đơn hoặc bị đơn) hoặc cả nguyên đơn, bị đơn là cơ quan, tổ chức Việt Nam và có trụ
sở trên lãnh thổ Việt Nam. Nếu Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết,
Tòa án nước nào có thẩm quyền giải quyết? Việc xác định thẩm quyền trong trường
hợp này sẽ theo nguyên tắc nào?17
Quan điểm thứ hai cho rằng, trong trường hợp này, Tòa án Việt Nam vẫn có
thẩm quyền giải quyết. Quan điểm này hợp lý hơn nhưng lại không chính xác với
ngôn từ được quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 410 của BLTTDS vì cơ quan, tổ
chức không có nơi cư trú mà chỉ có nơi đặt trụ sở chính, nơi đặt trụ sở của chi nhánh,
văn phòng đại diện.18
Tóm lại, theo quy định của điểm này, thì một vụ việc dân sự mà Tòa án Việt
Nam có thẩm quyền chỉ khi thỏa mãn đủ ba điều kiện sau:
Thứ nhất, quan hệ dân sự đó có căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ
đó theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài.
Thứ hai, cả hai bên đương sự đều là cá nhân, cơ quan tổ chức Việt Nam.
Thứ ba, nguyên đơn hoặc bị đơn cư trú tại Việt Nam.
e) Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện toàn bộ hoặc một
phần hợp đồng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Đây là một trong những quy định mang tính chuyên biệt về thẩm quyền tài
phán của Tòa án Việt Nam theo quy định của Điều 410. Hợp đồng về cơ bản cũng là
một loại quan hệ dân sự19, chính vì vậy các căn cứ được phân tích ở trên cũng được áp
dụng cho các giao dịch hợp đồng tương tự như các quan hệ khác. Việc có một quy
định chuyên biệt đối với các giao dịch hợp đồng xuất phát từ sự phổ biến của nó trong
thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế cũng như khả năng phát sinh tranh chấp của nó
so với các quan hệ dân sự thông thường khác.
Quan hệ hợp đồng khá phức tạp, bởi tính đa dạng của nó, cùng với sự phát
triển của kinh tế, quan hệ này lại biến chuyển theo chiều hướng phức tạp hơn, đặc biệt
là đối với các hợp đồng thương mại quốc tế.
Theo quy định này, chỉ cần hợp đồng được thực hiện tại Việt Nam là tòa án
Việt Nam có thẩm quyền mặc dù hợp đồng được kí kết ở nước ngoài, do pháp luật

tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp
dân sự, hôn nhân và gia đình.
+ Trường hợp hai bên là công dân Việt Nam.
Đối với trường hợp này sẽ có các khả năng có thể xảy ra là: 1) vụ việc li hôn
có liên quan đến tài sản ở nước ngoài; 2) vụ việc li hôn mà hai bên hoặc một trong
các bên công dân Việt Nam đang cư trú làm việc ở nước ngoài; 3) vụ việc ly hôn mà
các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài,
nay họ về Việt Nam xin ly hôn.
Các trường hợp li hôn có yếu tố nước ngoài mà cả bên chủ thể đều là công dân
Việt Nam thường không có nhiều vấn đề tranh chấp về thẩm quyền tài phán. Đối với
trường hợp li hôn mà các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo
pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn được hướng dẫn khá cụ thể tại
Nghị quyết số 01/2003/ NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp
dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia
đình. Cụ thể, khi Tòa án giải quyết loại việc này cần phân biệt hai trường hợp:
Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm
quyền của nước đã ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp hoặc đã được
hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo quy định của Nghị
định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì việc
kết hôn của đương sự cần được ghi chú vào sổ đăng ký; do đó, nếu việc kết hôn của
đương sự chưa được ghi chú vào sổ đăng ký thì Toà án yêu cầu đương sự làm thủ tục
ghi chú vào sổ đăng ký theo quy định của Nghị định số 83 rồi mới thụ lý giải quyết
việc ly hôn. Trong trường hợp đương sự không thực hiện yêu cầu của Toà án làm thủ
tục ghi chú vào sổ đăng ký mà vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không
công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì
Toà án giải quyết theo thủ tục chung.
Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm
quyền của nước chưa ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp cấp và cũng
chưa được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo quy
định của Nghị định số 83 thì trong trường hợp này giấy đăng ký kết hôn phải được

cãi là Tòa án Việt Nam có thẩm quyền không khi một vụ việc li hôn có yếu tố nước
ngoài mà có hai bên chủ thể đều không có hoặc không còn quốc tịch Việt Nam nhưng
họ kết hôn theo pháp luật Việt Nam vậy trong trường hợp này có thể căn cứ vào điểm
b (bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam) hoặc điểm đ (căn cứ xác lập quan hệ đó
theo pháp luật Việt Nam)? Những vấn này hầu như chưa có văn bản nào quy định cụ
thể, nghị quyết số 01/2003/ NQ-HĐTP cũng không nhắc đến vấn đề này.
Nhìn chung, việc mở rộng thẩm quyền tài phán của Việt Nam trong trường
hợp này chủ yếu xuất phát tư đặc tính của các quan hệ hôn nhân gia đình. Gia đình
luôn được xem là nền tảng của xã hội, việc li hôn không chỉ ảnh hưởng đến bên vợ
chồng mà còn có khả năng tác động rất lớn đến một số các đối tượng liên quan khác
(con cái) và tác động đến xã hội. Vì vậy, đối với loại quan hệ mang tính nhạy cảm
này, việc các quốc gia mở rộng thẩm quyền tài phán của mình nhằm tạo điều kiện cho
các bên chủ thể là công dân Việt Nam có một sự lựa rộng hơn trong trường hợp li hôn
để có thể đảm bảo quyền lợi của mình cũng như phù hợp với truyền thống văn hóa
của dân tộc.

2.1.2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam theo phương pháp quy
dẫn theo quy định của khoản 1 điều 410.
Về thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài được quy định của khoản 2 điều 410 theo phương pháp liệt kê,
thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc này còn được quy định
ở khoản 1 điều 410 theo phương pháp quy dẫn: “Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo quy định của
Xem thêm Ts. Đỗ Văn Đai – Pgs.Ts Mai Hồng Quỳ, Tư Pháp Quốc Tế Việt Nam, Nxb Đại Học Quốc
Gia, Tp Hồ Chí Minh, Năm 2006, tr 189-190.
20

15



- Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người
không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú làm ăn, sinh sống tại Việt Nam. Trường
hợp này được xác định theo dấu hiệu quốc tịch kết hợp với dấu hiệu nơi cư trú.
- Xác định một sự kiện pháp lý nếu sự kiện đó xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam .
Trường hợp này được xác định theo dấu hiệu nơi xảy ra sự kiện. Tòa án Việt Nam sẽ
là tòa án có điều kiện thuận lợi để xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu cho việc giải
quyết vụ việc khi vụ việc xảy ra rên lãnh thổ Việt Nam.
- Tuyên bố công dân nước ngoài, người không quốc tịch bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu họ cư trú, làm ăn, sinh sống ở Việt
Nam và việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên
lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp này xác định theo dấu hiệu nơi cư trú và dấu hiệu nơi
xảy ra sự kiện.

TS. Nguyễn Trung Tín, Về thẩm quyền của Toà án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 02/2006.
21

16


- Tuyên bố công dân nước ngoài, người không quốc tịch mất tích, đã chết nếu
họ có mặt ở Việt Nam tại thời điểm có sự kiện xảy ra mà sự kiện đó là căn cứ để
tuyên bố một người mất tích, đã chết và việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác
lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp này được xác định
theo dấu hiệu nơi xảy ra sự kiện.
- Yêu cầu Toà án Việt Nam tuyên bố công dân Việt Nam mất tích, đã chết nếu
việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ
Việt Nam. Trường hợp này được xác định theo dấu hiệu quốc tịch.
- Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ hoặc công nhận quyền
sở hữu của người đang quản lý đối với bất động sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.

– Thái Lan thì Ponpot phát hiện và bà Nữ bị bắn chết. Nay ông Minh sống ở Mỹ, yêu
cầu tuyên bố bà Nữ chết. Qua điều tra các chứng cứ có liên quan và thực hiện việc
ThS. Nguyễn Bá Bình, Hiện tượng đa phán quyết đối với việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp điện tử
23 TS. Đỗ Văn Đại – PGS.TS. Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nhà xuất bản Đaị học Quốc
gia TP. Hồ Chí Minh,2006, tr.51
22

17


thông báo nhắn tin cùng xác minh lời khai, tòa án tỉnh Trà Vinh (nơi cư trú cuối cùng
của bà Nữ) thấy có đủ cơ sở và tuyên bà Nữ, sinh năm 1954 đã chết từ ngày bản án có
hiệu lực pháp luật. Sự kiện xảy ra ở biên giới Campuchia- Thái lan nên Tòa án nơi
xảy ra vụ việc hoàn toàn có thể được yêu cầu giải quyết. Nếu quy định là tòa án Việt
Nam có thẩm quyền riêng biệt, tức là quy định tòa án nơi xảy ra vụ việc không có
quyền giải quyết. Trong khi đó khoản 2, điểm c, điều 411 BLTTDS 2004 lại quy định
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt khi có yêu cầu tuyên bố công dân nước
ngoài, người không quốc tích mất tích, đã chết nếu họ có mặt ở Việt Nam tại thời
điểm có sự kiện xảy ra”.
Ngoài ra, quy định của pháp luật trái với quy định của một số điều ước quốc tế
trong lĩnh vực này mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể điểm b khoản 2 Điều 410
BLTTDS 2004 quy định Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khi bị đơn người
nước ngoài có nơi “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam” hoặc “ có tài sản
trên lãnh thổ Việt Nam”. Theo khoản 2 điều 9 Nghị định số 68/2003/NĐ-CP Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài quy định: “Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công
dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt
Nam”. Điều này có nghĩa là khi bị đơn nước ngoài chỉ có nơi “tạm trú” tại Việt Nam
thì Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết. Trong khi đó, điều 18 Hiệp



hiệu về “thẩm quyền riêng biệt mà là một dấu hiệu về “thẩm quyền chung” của Tòa
án Việt Nam.
Thứ ba, về quy định tại điểm b khoản 2 Điều 410 BLTTDS 2004 nên điều
chỉnh theo hướng tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
trong trường hợp “Bị đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch có nơi
thường trú, tạm trú tại Việt Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam”. Điều này sẽ
góp phấn hạn chế sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật Việt Nam với các cam kết
quốc tế của Việt Nam thể hiện một phần trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên. Bởi việc ban hành các quy định của pháp luật quốc nội tương thích, phù
hợp với nội dung của các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc tham gia là
một yêu cầu quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, đặc
biệt là đối với Việt Nam khi hệ thống pháp luật cho sự vận hành của nền kinh tế thị
trường đang trong giai đoạn hình thành và phát triển.
Một là, cả hai bên chủ thể là công dân Việt Nam và tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài.
Theo điều 405 khoản 2 Bộ luật Tố tụng dân sự định nghĩa: “Vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài là vụ việc có ít nhất một trong các bên đương sự là người nước
ngoài, hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”
Căn cứ vào quy định này thì quan hệ giữa hai bên chủ thể là công dân Việt Nam trong
trường hợp này vẫn có thể là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi tài sản liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Tuy nhiên, trong các quy định của điều 410 không có quy định nào liên quan
đến quan hệ dân sự mà tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Giả sử có một quan hệ dân sự mang các yếu tố sau:

1) Cả hai bên chủ thể đều mang quốc tịch Việt Nam,

dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài được đối xử như người nước ngoài về xét về khía
cạnh này. Tuy nhiên, ngay cả nếu căn cứ vào điểm đ khoản 2 điều 410 thì quyền khởi
kiện hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự cũng rất hạn chế, vì phải đảm bảo một điều
kiện rất quan trọng là bị đơn phải là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam và đang cư
trú tại Việt Nam..
Xét từ góc độ lí luận, công dân định cư ở nước ngoài vẫn mang tư cách pháp lí
là công dân của quốc gia mà họ mang quốc tịch, và họ vẫn có những nghĩa vụ nhất
định đối với nhà nước của mình (tuy sẽ có những hạn chế nhất định), vì vây họ cũng
có quyền được bảo vệ bởi nhà nước đó, được nhà nước đảm bảo thực hiện những
quyền cơ bản của mình, mà rõ ràng quyền khởi kiện yêu càu nhà nước đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của mình là một trong những quyền cơ bản, quyền hiến định.
Xét từ góc độ thực tiễn, việc nhà nước ta từ bỏ quyền tài phán của mình trong
trường hợp này rõ ràng không phù hợp chung với thông lệ quốc tế, đó là chưa kể đến
xu hướng chung của các quốc gia đều cố gắng mở rộng tối đa thẩm quyền tài phán
của mình đến mức có thể.
Hơn nữa, vấn đề hạn chế quyền tài phán này sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các
công dân Việt Nam đang định cư ở nước ngoài, nhất là những người lao động phổ
thông, những người không thể có một trình độ pháp lí cũng như vốn kiến thức cần
thiết về thủ tục tư pháp tố tụng của nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của mình đó là
chưa kể đến nhiều khó khăn khác26. Việc buộc họ phải khởi kiện ở Tòa án nước sở tại
là vô cùng khó khăn, và một vấn đề khác cũng cần phải nhắc đến là quyền lợi của họ
(những người lao động) sẽ rất khó được đảm bảo khi đối tượng khởi kiện của họ
thường là các chủ lao động nước sở tại.
Mặt khác, việc nhà nước ta gây ra sự hạn chế này sẽ buộc những công dân
Việt Nam đang định cư ở nước ngoài này sẽ buộc phải từ bỏ quốc tịch của mình để
tìm kiếm một quốc tịch mới có lợi hơn cho việc bảo vệ quyền lợi của họ, tuy nhiên,
đối với một số quốc gia việc này sẽ không có gì là dễ dàng. Đặc biệt đối với các đối
tượng trí thức đang học tập và làm việc ở nước ngoài, việc họ tiếp tục giữ quốc tịch
Việt Nam là còn mong muốn quay về, thì chính phủ nước ta cần có những chính sách
hợp lí hơn, và đây là một trong những vấn đề cần đảm bảo đầu tiên cho quyền lợi

Điều 23 Brussel Convention 2002 quy định: “Nếu một hoặc nhiều hơn một
trong số các bên chủ thể của quan hệ dân sự đó cư trú tại một quốc gia thành viên
thỏa thuận chọn Tòa án của một nước thành viên có thẩm quyền giải quyết tất cả các
tranh chấp phát sinh hoặc sẽ phát sinh liên quan đến một quan hệ cụ thể, thì Tòa án
này hoặc các Tòa án này sẽ có thẩm quyền giải quyết. Đây sẽ là thẩm quyền riêng biệt
trừ khi tất cả các bên đều thỏa thuận khác. Thỏa thuận này phải được: (a) thành lập
thành văn bản; (b) theo mẫu đã được các bên thỏa thuận hoặc xem như một thói quen,
tập quán đã được thiết lập giữa các bên trước đó hoặc (c) đối với các hợp đồng
thương mại quốc tế, mẫu văn bản đó phải được các bên thỏa thuận hoặc xem như một
thói quen, tập quán đã được thiết lập giữa các bên trước đó hoặc chúng phải được
thừa nhận rộng rãi theo thông lệ, tập quán quốc tế và được tuân thủ bởi các bên trong
hợp đồng đó...”28. Tương tự theo Điều 5, Luật Thụy Sĩ về Tư pháp quốc tế năm 1987,
“Trong lĩnh vực tài sản, các bên có thể chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp đã phát
sinh hoặc sẽ phát sinh liên quan đến một quan hệ nhất định ... trừ trường hợp có thỏa
thuận ngược lại, Tòa án được chọn là Tòa án duy nhất có thẩm quyền giải quyết”.
Pháp luật tư pháp của Bỉ hay của Pháp cũng quy định tương tự 29.
Sự cần thiết phải mở rộng thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam trong
trường hợp này là tất yếu, tuy nhiên chấp nhận sự thỏa thuận đó như thế nào thì cần
27

Vấn đề này đã được khá nhiều các tác giả đề cập, xem ths. Lê Thị Nam Giang, Tư Pháp Quốc Tế,
Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2007, tr. 105 hoặc Ts. Đỗ Văn Đai – Pgs.Ts Mai Hồng Quỳ, Tư
Pháp Quốc Tế Việt Nam, Nxb Đại Học Quốc Gia, Tp Hồ Chí Minh, năm 2006, tr 57.
28 Nguyên văn: “If the parties, one or more of whom is domiciled in a Member State, have agreed that a
court or the courts of a Member State are to have jurisdiction to settle any disputes which have arisen or
which may arise in connection with a particular legal relationship, that court or those courts shall have
jurisdiction. Such jurisdiction shall be exclusive unless the parties have agreed otherwise. Such an
agreement conferring jurisdiction shall be either: (a) in writing or evidenced in writing; or (b) in a form
which accords with the parties have established betxeen themselves; or (c) in international trade or
commerce, in a form which accords with a parties are ought to have been aware and which in such trade



2. Đỗ Văn Đại – Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, NXB. Đaị học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2006
3. Lê Thị Nam Giang, Tư Pháp Quốc Tế, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh,
năm 2007
4. Đoàn Năng, Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB.
Chính trị quốc gia, 2001
5. Bộ luật dân sự 2005, NXB. Lao động, 2009
6. Bộ luật tố tụng dân sự 2004, NXB. Lao động 2011
7. Bộ luật hàng hải năm 2005 (nguồn: Internet)
8. Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Bungary 1986.
9. Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Lào 1998.
10. Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Liên Bang Nga 1998.
11. Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Trung Quốc 1998.
12. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, NXB. Lao động 2010
13. Nghị định số 68/2003/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
14. Nghị quyết số 01/2003/ NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao về
hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp
dân sự, hôn nhân và gia đình.
15. Bộ Luật Brussell Convention 2002 (nguồn Interner)
/>II.

Bài viết nghiên cứu tham khảo

1. Nguyễn Bá Bình, Hiện tượng đa phán quyết đối với việc dân sự có yếu
tố nước ngoài, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử

23

E.

MỤC LỤC……………………………………………………………….25

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status