nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi thuế GTGT - Pdf 34

Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một trong những loại thuế gián thu có phương pháp thu
thuế khoa học và tiên tiến nhất hiện nay, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Ở Việt
Nam, trong tương lai, thuế GTGT sẽ trở thành sắc thuế chủ yếu, chiếm tỷ trọng cao trong hệ
thống chính sách thuế (30% tổng thu ngân sách) nhằm bù đắp được nguồn thu thuế nhập khẩu
khi cắt giảm thuế theo cam kết quốc tế và góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của
nước ta phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước và với thông lệ quốc tế. Để việc thực
thi thuế GTGT có hiệu quả thì vấn đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi thuế
GTGT là rất cần thiết. Qua việc xem xét đánh giá sự tác động của các yếu tố đó sẽ giúp cho việc
hoàn thiện thuế GTGT, đảm bảo sự thống nhất với các luật thuế khác.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.KHÁI QUÁT VỀ THUẾ GTGT
1.Khái niệm, vai trò thuế GTGT
1.1.Khái niệm.
Thuế GTGT là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu
thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ.
Điều 1, Luật thuế GTGT quy định: “Thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm
của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dung”.
1.2 Vai trò thuế GTGT
Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với
nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý cuả nhà nước, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng.
- Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ
chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn
thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
- Ðối với hàng xuất khẩu có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất
khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế. Đối
với hàng nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng
nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.

nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh)
và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu)”.
Như vậy, tổ chức, cá nhân phải nộp thuế GTGT khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:
- Có hoạt động sản xuất, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thông thường (được hiểu là có
đăng kí kinh doanh và đăng kí nộp thuế GTGT) hoặc có hành vi nhập khẩu hàng hóa thuộc diện
chịu thuế GTGT.
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ thu được giá trị
tăng thêm từ hàng hóa, dịch vụ đó.
- Tổ chức, cá nhân không sản xuất kinh doanh hoặc nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ quy định
tại Điều 5 Luật thuế GTGT 2008.
2.3. Căn cứ tính thuế GTGT.
Có 2 căn cứ để chúng ta có thể tính thuế GTGT cho một hàng hóa dịch vụ đó là giá tính
thuế GTGT và thuế suất.

15

LUẬT TÀI CHÍNH – BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ


Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

Về giá tính thuế GTGT, các loại thuế tiêu dùng thường phải xác định giá tính thuế đối với
tiêu dùng chịu thuế. Pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam quy định giá tính thuế GTGT là giá chưa
có thuế GTGT, đồng thời quy định chi tiết giá tính thuế đối với các hoạt động kinh doanh phổ
biến và một số hoạt động kinh doanh đặc thù.
Về thuế suất, khi ban hành về thuế suất, có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Cho dù có sự lựa chon khác nhau nhưng khi ban hành thuế suất thuế GTGT thường dựa trên
những tiêu chí cơ bản. Pháp luật thuế GTGT của Việt Nam hiện nay áp dụng ba mức thuế suất:
0%, 5%, 10%. Mức thuế suất 10% áp dụng cho hàng hóa dịch vụ thông thường. Thuế suất 5% áp
dụng đối với hàng hóa dịch vụ ưu đãi, khuyến khích phát triển, đầu tư. Thuế suất 0% được áp


luật thuế giá trị gia tăng mới hiệu quả. Ngược lại, nếu pháp luật còn thiếu các quy định cần thiết,
còn nhiều bất cập với thực tế thì không thể có hiệu quả cao được mà nó còn làm phát sinh nhiều
vướng mắc trong quá trình áp dụng, làm giảm hiệu quả thực thi của hệ thống pháp luật đó.
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế GTGT còn thể hiện ở sự đồng bộ, thống nhất
với các hệ thống pháp luật thuế khác vì thuế GTGT có mối quan hệ rất chặt chẽ với các luật thuế
khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu.(ví dụ: một loại hàng hóa được
nhập khẩu vào Việt Nam thì việc đánh thuế đối với hàng hóa đó sẽ được thực hiện theo thứ tự
sau: nếu nó thuộc diện chịu thuế nhập khẩu thì trước tiên sẽ đánh thuế nhập khẩu. Tiếp theo, nếu
hàng hóa đó thuộc diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt thì tiếp tục đánh thuế tiêu thụ đặc biệt và cuối
cùng mới đánh thuế giá trị gia tăng.). Do đó, khi ban hành hay sửa đổi bổ sung thuế GTGT thì
phải đảm bảo tính đồng bộ với các luật thuế khác thì việc thực thi mới đạt hiệu quả.
Để thấy thấy rõ hơn sự tác động của yếu tố này tới việc thực thi pháp luật thuế GTGT, có
thể thông qua xem xét một quy định cụ thể trong Luât thuế gia trị gia tăng dưới sau: theo Điều 4
Luật thuế GTGT quy định: “Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập
khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu)”.
Với quy định này, người nộp thuế GTGT rất rộng, bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân có
hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt
hình thức sở hữu, ngành nghề, hình thức tổ chức, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu
hàng hóa chịu thuế GTGT, không phân biệt cá nhân, tổ chức kinh doanh trong nước hay cá nhân,
tổ chức kinh doanh nước ngoài. Việc quy định này hoàn toàn phù hợp với lí thuyết, song về thực
tiễn cũng cần bàn thêm. Số lượng hộ kinh doanh cá thể ở nước ta chiếm một tỉ trọng khá lớn
nhưng phần lớn hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa có hiệu quả, trong khi đó luật thuế GTGT
lại không xác định ngưỡng chịu thuế như Luật thuế GTGT của một số nước khác nên chi phí
quản lý hành chính thuế rất lớn so với số thuế thu được từ các đối tượng này. Như vậy, có thể
thấy việc thực thi pháp luật thuế gia trị gia tăng trong trường hợp này là không hiệu quả.
2.Chính sách thuế
2.1.Đối tượng chịu thuế
Như chúng ta đã biết, thuế GTGT là một loại thuế gián thu điển hình mang tính trung lập

thì được lập hóa đơn mua hàng Nông - lâm - thủy sản nhưng không được khấu trừ thuế GTGT
đầu vào. Khi xuất bán cho các nhà máy chế biến thủy sản, doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế
GTGT 5% vào ngân sách nhà nước. Từ đặc điểm này, một số doanh nghiệp đã mua bán hóa đơn
GTGT khống để làm chứng từ đầu vào khấu trừ thuế GTGT, chiếm đoạt 5% tiền thuế.
Ngoài ra, khi bàn về đối tượng chịu thuế, không chịu thuế của luật thuế GTGT thì Điều 5
và Điều 8 của luật đã quy định rõ ràng những đối tượng nào không phải chịu thuế, đối tượng chịu
thuế suất 0%, 5%, 10%. Trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa và hội nhập như hiện nay thì không
những chỉ có những đối tượng như vậy mà còn xuất hiện nhiều đối tượng mới, vậy những trường
hợp này thì sẽ xử lý như thế nào? Điều này tạo ra sự thiếu công bằng trong việc áp thuế và không
bao quát hết các hàng hóa, dịch vụ.
2.2.Về thuế suất
Trong thời gian qua, việc xây dựng hệ thống chính sách thuế thường chú trọng nhiều đến
mục tiêu tài chính (do áp lực của việc thoã mãn nhu cầu chi ngân sách nhà nước) và mục tiêu
15

LUẬT TÀI CHÍNH – BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ


Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

kinh tế (do yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực cũng
như thế giới). Mục tiêu xã hội lại được thực hiện bằng cách lồng ghép trong chính sách thuế làm
mất đi tính trung lập. Tính công bằng thực hiện tương đối ổn định giữa các thành phần kinh tế
trong nước nhưng lại thường không ổn định khi thực hiện giữa các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài (do hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài giảm). Vì vậy chính sách thuế thường
xuyên thay đổi về thuế suất, hệ thống thuế suất khá phức tạp.
Từ khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, số lượng mức thuế suất giảm đi rất nhiều so với
11 mức thuế suất trước kia của thuế doanh thu, mặt khác lại còn thường xuyên được xem xét sửa
đổi (giảm từ 4 mức thuế suất xuống còn 3 mức thuế suất như hiện nay), bởi vậy đã thu được
nhiều thành công đáng kể. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng xuất hiện nhiều hạn chế cần

Giá tính thuế của hàng hóa,
15

-

Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
x

Thuế suất thuế GTGT của hàng
LUẬT TÀI CHÍNH – BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ


Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

đầu ra

dịch vụ bán ra

hóa, dịch vụ đó

* Phương pháp tính thuế trực tiếp:
Số thuế GTGT
phải nộp
Trong đó:

=

GTGT của hàng hóa,
dịch vụ


lớn hơn giá vốn (thường phổ biến) thì phần chênh lệch đã bị đánh trùng thuế.
Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng bên
cạnh phương pháp khấu trừ là để phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam: Hiện nay có trên
hơn 1,5 triệu hộ kinh doanh với quy mô nhỏ, trình độ quản lý kinh doanh và hạch toán thấp, chưa
có đủ điều kiện thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, số thuế GTGT nộp của đối tượng
này chỉ chiếm gần 20% tổng số thu về thuế GTGT. Và đây cũng là biện pháp khuyến khích các
doanh nghiệp thực hiện đầy đủ hóa đơn chứng từ. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn không tránh
khỏi những hạn chế vốn có của nó.
2.4.Chế độ hóa đơn chứng từ
Xuất phát từ bản chất của thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ mà có hai hình thức tính thuế GTGT nhưng dù tính theo trực tiếp hay khấu trừ thì
đều phải dựa vào các hóa đơn mua bán hàng hóa. Hóa đơn, chứng từ là các bằng chứng phản ánh
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh các cơ sở sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ
này mà các cơ quan thuế thông báo mức thuế cơ sở sản xuất kinh doanh phải nộp cũng như được
15

LUẬT TÀI CHÍNH – BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ


Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

khấu trừ hàng tháng. Muốn thực hiện thu thuế GTGT được rõ rang,minh bạch thì buộc việc mua
bán hàng hóa phải có hóa đơn,chứng từ hợp lệ. Quản lý hóa đơn, chứng từ không chỉ là trách
nhiệm của các cơ quan thuế để làm cơ sở tính thuế mà còn là trách nhiệm của cả phía người nộp
thuế vì muốn được khấu trừ và hoàn thuế thì họ phải có đầy đủ hóa đơn chứng từ hợp lệ theo quy
định của pháp luật. Như vậy, có thể thấy chế độ quản lí hóa đơn, chứng từ có vai trò rất quan
trọng trong việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng. Nếu quản lí hóa đơn, chứng từ tốt thì sẽ
giúp cơ quan thuế cũng như đối tượng nộp thuế dễ dàng hơn khi tính và thu thuế từ đó đảm bảo
hiệu quả thực thi pháp luật thuế GTGT.
Thực trạng công tác quản lý, sử dụng hóa đơn của ngành thuế trong vài năm gần đây đang


của của Luật thuế GTGT cũng cố gắng sao cho các cơ sở kinh doanh được tối đa hóa các quyền
để khấu trừ và hoàn thuế. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong các quy định này: Đó là cơ sở
xuất khẩu nhưng có số thuế đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được
khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì vẫn không được hoàn thuế theo tháng, điều này sẽ làm cho
vốn của các doanh nghiệp bị lưu lại khá lâu gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh tiếp theo
của họ.
- Các cơ sở kinh doanh không có hoạt động xuất khẩu hoặc có nhưng giá trị thấp, thì dù
số thuế đầu vào trong tháng phát sinh cao đến mấy vẫn không được hoàn theo tháng mà phải chờ
đủ 3 tháng. Đây là hạn chế rất lớn của quy định về hoàn thuế.
- Trong quá trình thực hiện hoàn thuế GTGT đối với các nhà thầu chính của dự án ODA,
cơ quan thuế rất khó xác định chính xác số thuế GTGT đầu vào của nhà thầu chính, vì họ chỉ
được hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ mua vào để thực hiện hợp đồng ký với chủ
dự án, nhưng trên thực tế có nhiều hàng hóa nhà thầu chính mua vào phục vụ cho nhiều dự án
ngoài hợp đồng đã ký cho dự án ODA.
3.Cơ chế quản lý và thực hiện công tác quản lý của các cơ quan thuế
Đã nhiều năm kể từ khi cải cách thuế Việt Nam được tiến hành, bên cạnh những thành tựu
đạt được thì các hạn chế vẫn tồn tại khá nhiều.
3.1.Trình độ va ý thức pháp luật của cán bộ thuế
Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế
GTGT. Thuế GTGT là một loại thuế phức tạp. Việc triển khai tính, hạch toán, kiểm tra trong
thuế GTGT thực sự là một công việc không đơn giản. Nếu trước đây, kế toán doanh nghiệp và
cán bộ thuế chỉ cần lấy doanh thu nhân với thuế suất là ra ngay kết quả cần tìm, thì nay nhiều khi
cả doanh nghiệp, cả cơ quan thuế phải ngồi lại để tính và xác định đâu là thuế đầu vào, thuế đầu
ra, thuế được khẩu trừ, thuế không được khấu trừ…khối lượng công việc này thật sự khổng lồ và
đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao. Vì vậy, muốn áp dụng thuế GTGT thì trình độ của cán bộ
quản lí, thu thuế phải được nâng cao về chế độ chứng từ, hóa đơn, sổ kế toán, thành thạo về chế
độ quản lí, tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT. Thực tiễn kinh nghiệm áp dụng thuế
GTGT của một số quốc gia đã cho thấy trình độ quản lí, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thuế
đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thành công hay không khi áp dụng một loại thuế

cách đồng bộ nên vẫn xảy ra hiện tượng trốn lậu thất thoát thuế.
Công tác quản lý mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong thời kỳ mới nhưng vẫn còn
nhiều bất cập trên tất cả các lĩnh vực từ thể chế đến cách thức quản lý. Quản lý thuế hầu hết dựa
trên kinh nghiệm chưa khoa học, hợp lý.
Bộ máy tổ chức ngành thuế cũng chưa hoàn thiện: Hiện nay bộ máy quản lý thuế của
nước ta được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương tới cấp huyện. Hệ thống này được phân chia
vừa theo sắc thuế vừa theo đối tượng nộp thuế. Một cán bộ thuế phải đảm nhiệm nhiều chức
năng từ thông báo thuế, thu thuế, kiểm tra thuế do đó không có điều kiện chuyên sâu vào một
nghiệp vụ nhất định. Khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, quy trình quản lý thuế phải thay đổi,
cơ quan thuế phải tổ chức thu thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế,… trình độ của một số cán bộ còn
thấp do đó không đáp ứng yêu cầu của công việc.

15

LUẬT TÀI CHÍNH – BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ


Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

Sự thống nhất hoạt động giữa các cơ quan chức năng còn chưa cao, một số còn chưa nhiệt
tình trong việc cung cấp các thông tin để cơ quan thuế tổng hợp nhằm đưa ra những giải pháp bổ
sung kịp thời cho các sắc thuế.
Sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan chức năng như cơ quan thuế, cơ quan hải quan,
cơ quan công an… cũng có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả thực thi pháp luật thuế GTGT. Bởi vì,
giữa các cơ quan trên có sự phối hợp chặt chẽ thì việc áp dụng pháp luật mới diễn ra một cách
thuận lợi, lien tục, đúng trình tự thủ tục và đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện
đúng và đầy đủ.
Ví dụ như phải có sự đồng bộ giữa cơ quan ngành thuế quy định thuế GTGT đầu vào(đối
với hàng nhập khẩu) chỉ được khấu trừ khi có hóa đơn của cơ quan hải quan. Hải quan và cơ
quan thuế là cơ quan hành chính thu nên phối hợp đồng bộ tránh mất thời gian, chi phí đi lại cho

pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế GTGT nói riêng có vai trò rất quan trọng,khi đã biết
được tác động của những yếu tố này chúng ta sẽ có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật thuế GTGT. Có thể kể đến một số giải pháp cơ bản sau:
1.Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT
Pháp luật hiện hành về thuế GTGT đã từng bước được sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu
cầu đặt ra và đã có những đóng góp quan trọng trong việc động viên nguồn tài chính vào ngân
sách Nhà nước. Tuy nhiên, Pháp luật thuế GTGT hiện hành còn bộc lộ một số điểm bất cập chưa
phù hợp với thực tiễn làm ảnh hưởng xấu tới quá trình thực thi pháp luật thuế GTGT nên cần
phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện
* Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật thì chúng ta cần phải làm tốt công tác áp
dụng pháp luật.
Nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ của lực lượng cán bộ thuế như tổ chức các lớp, khóa
đào tạo nâng cao nghiệp vụ; khuyến khích và tạo điều kiện để họ tự nâng cao trình độ nghiệp vụ
của mình. Cần xử lí nghiêm minh những hành vi cố ý vi phạm pháp luật của cán bộ thuế.
Tăng cường công tác quản lí hóa đơn, chứng từ như: đẩy mạnh việc đối chiếu, xác mjinh
hóa đơn GTGT, đảm bảo độ chính xác cao và thời gian đối chiếu. Thường xuyên kiểm tra việc
sử dụng, quản lí hóa đơn và thực hiện nghiêm chế độ quản lí, sử dụng hóa đơn bán hàng.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lí nghiêm minh những trường hợp vi phạm
pháp luật thuế GTGT như tập trung vào thanh tra, kiểm t ra những đối tượng thuộc các ngành,
lĩnh vực, các địa bàn có dấu hiệu vi phạm, phải thường xuyên tổ chức các đoàn thanh tra chủ
động tiến hành kiểm tra quyến toán thuế trực tiếp tại các doanh nghiệp. Đối với các hành vi vi
phạm thì phải xử lí nghiêm minh theo quy định của pháp luật để làm gương cho các đối tượng
khác, ngăn ngừa những hành vi vi phạm có thể xảy ra.
Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng khác để phát hiện kịp thời và xử lí
nghiêm minh những trường hợp vi phạm. Theo đó, các cơ quan phải thường xuyên trao đổi bàn
bạc với nhau về công tác nghiệp vụ, biện pháp phối hợp và hướng xử lí đối với các trường vi
phạm.
Tăng cường hoạt động tuyên truyền phổ biến, giải thích pháp luật thuế GTGT cho các đối
tượng nộp thuế và người dân. Chỉ khi họ hiểu rõ được những quy định của pháp luật thuế GTGT
thì họ mới thực hiện tốt được. Việc tăng cường tuyên truyền giải thích pháp luật thuế GTGT có

thuế vào ngân sách nhà nước. Khuyến khích và phát triển các dịch vụ tư vấn thuế...
- Kiện toàn lại hệ thống quản lý thu thuế theo hướng cải cách hành chính, nâng cao quyền
hạn và trách nhiệm của bộ máy quản lý thuế: Ban hành bổ sung một số nội dung về quản lý thuế
trong các văn bản pháp luật như các biện pháp nghiệp vụ và quy trình quản lý thu thuế chỉ do cơ
quan thuế ban hành và áp dụng nội bộ.
- Đội ngũ cán bộ thuế là nhân tố rất quan trọng trong ngành thuế, bởi vậy cần có sự sắp
xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý thu theo hướng tập trung vào các khâu công việc chính, đào tạo lại
và tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về quản lý thuế theo phương pháp hiện đại, trình
độ ứng dụng thành thạo công nghệ tin học…Đặc biệt đối với công tác cán bộ phải xem trọng
việc tuyển chọn đội ngũ làm công tác tổ chức nhân sự, bởi quyết định của đội ngũ này sẽ ảnh
15

LUẬT TÀI CHÍNH – BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ


Nguyễn Yến Mai – MSSV 352207

hưởng đến chất lượng cán bộ thuế. Đó phải là những người thực sự chí công, vô tư và có năng
lực đánh giá nhân sự.
- Sự phát triển của hệ thống thuế không thể tách rời quá trình hiện đại hóa, áp dụng công
nghệ thông tin vào các quy trình quản lý. Đầu tư hệ thống máy tính sẽ giúp cho tốc độ sử lý công
việc của ngành thuế nhanh hơn, chi phí quản lý cũng sẽ giảm đi rất nhiều.
C.KẾT LUẬN
Thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết một phần vào thu nhập của
người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, thuế mang tính trung lập cao, diện điều chỉnh rộng, trong thời
gian tới nó sẽ trở thành sắc thuế chủ yếu, chiếm tỷ trọng cao trong hệ thống chính sách thuế và sẽ
bù đắp được nguồn thu thuế nhập khẩu khi cắt giảm thuế theo cam kết quốc tế. Thuế giá trị gia
tăng được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu...góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày
càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status