So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản - Pdf 34

So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

Đề tài: So sánh địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ) của chủ nợ có bảo
đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm trong từng
giai đoạn của thủ tục phá sản. Qua đó cho biết luật phá sản 2004 bảo vệ
quyền lợi chủ thể nào triệt để hơn? Vì sao?

Phá sản là một hiện tượng tất yếu tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nó hiện
hữu như một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải trong chính nền
kinh tế đó, bất kể đó là nền kinh tế thị trường của các nước phát triển trên thế giới hay
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bởi vậy, Việt Nam
cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm xây dựng chế định pháp luật
phá sản với mục tiêu hạn chế thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước rủi ro kinh
doanh, từ đó góp phần ổn định trật tự đời sống kinh tế của xã hội. Để làm được điều
này, đầu tiên, pháp luật phá sản hướng đến là bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ nợ - những người sẽ chịu tác động trực tiếp từ việc phá sản một doanh
nghiệp, hợp tác xã là con nợ cuả họ. Trong thủ tục phá sản, các chủ nợ đều bình đẳng
với nhau về quyền lợi. Tuy nhiên ko phải chủ nợ nào cũng có quyền lợi giống nhau.
Việc phân loại chủ nợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì mỗi giai đoạn của thủ tục
giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã các chủ nợ khác nhau sẽ có quyền lợi
khác nhau. Trong phạm vi bài nghiên cứu này, nhóm sẽ đi vào tìm hiểu và so sánh các
quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong quá trình tiến hành
thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của luật phá sản năm
2004 và những nghị định hướng dẫn thi hành.
Theo quy định tại luật phá sản 2004, khái niệm chủ nợ được phân thành ba
loại: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm.
Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã hoặc người thứ ba (khoản 1 điều 6 LPS 2004). Đồng thời, theo quy
định tại khoản 3 điều 40 LPS 2004 thì chủ nợ có bảo đảm còn là người chủ tài sản cho
doanh nghiệp, hợp tác xã thuê mượn tài sản mà tài sản đã được chuyển nhượng cho

họ mà không có một khoản bảo đảm nào. Khi doanh nghiệp hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản thì họ là những người bị thiệt hại nhiều nhất, không có lương, nguy cơ
thất nghiệp đe dọa. . Như vậy, khái niệm về các loại chủ nợ không chỉ bó hẹp trong
phạm vi quy định tại điều 6 LPS 2004 mà nó còn bao gồm nhiều đối tượng được quy
định trong những điều luật khác. Từ việc phân loại các chủ nợ theo những nhóm khác
nhau và nghiên cứu xuyên suốt quá trình tiến hành thủ tục đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản, ta có thể thấy những điểm giống và khác nhau giữa
các loại chủ nợ này về địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ) qua từng giai đoạn một cách
cụ thể.
I.Giai đoạn nộp đơn và mở thủ tục phá sản:
Giai đoạn này có thể chia làm ba giai đoạn nhỏ:
1. Nộp đơn đến trước thụ lý :
Trong giai đoạn này, điểm nổi bật cho sự giống và khác nhau về quyền và
nghĩa vụ của các loại chủ nợ xuất phát từ quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm
một phần có quyền và nghĩa vụ giống nhau. Theo điều 13 LPS 2004 thì “khi nhận
thấy doanh nghiệp hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không bảo
đảm hoặc có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã đó”. Pháp luật phá sản trao quyền nộp đơn này chỉ cho chủ
nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mà không cho phép chủ nợ có
bảo đảm thực hiện nó. Quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng quyền đòi nợ
của các chủ nợ có bảo đảm luôn được ưu tiên bằng tài sản có bảo đảm của doanh
nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba. Vì vậy, nếu quy định cho các chủ nợ có

2


So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hợp tác xã lâm vào

đầu tiên là “quyền yêu cầu Toà án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng” đang
có hiệu lực và được thực hiện hoặc chưa được thực hiện ( điều 45 LPS 2004). Đây là
quyền xuyên suốt trong cả quá trình tiến hành thủ tục phá sản. Quyền lợi của các bên
được xử lý theo điều 47. Tuy nhiên, để có được quyền này, chủ nợ phải làm văn bản
yêu cầu Tòa án ra quyết định (khỏan 1 điều 46 LPS) kèm theo đó là các giấy tờ tài
liệu làm căn cứ cho việc khảng định đình chỉ hợp đồng là có lợi hơn về mặt tài chính
cho doanh nghiệp, hợp tác xã (theo quy định tại nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP). Các
chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản còn có quyền đòi nợ
bất kỳ chủ thể nào trong nghĩa vụ liên đới và quyền được thực hiện nghĩa vụ trong

3


So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

trường hợp bảo lãnh quy định tại điều 39 LPS. Họ còn có quyền “được thực hiện việc
bù trừ nghĩa vụ đối với những giao dịch được xác lập trước khi có quyết định mở thủ
tục phá sản” theo các nguyên tắc quy định tại điều 48 LPS. Đây là một quy định mới
trong LPS phù hợp với quy định về bù trừ nghĩa vụ trong BLDS 2005 ( điều 380 và
Điều 381) và thông lệ trong pháp luật phá sản của nhiều nước. Quy định này cũng tạo
điều kiện nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ. Giữa con nợ và các chủ nợ có những
khoản nợ lẫn nhau nên việc bù trừ là hoàn toàn có thể. Trong thủ tục phá sản, chủ nợ
được bù trừ có lợi thế hơn chủ nợ khác. Tuy nhiên, quy định này còn mâu thuẫn với
quy định về các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản (Điểm b K1 Đ31): “kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá
sản, nghiêm cấm con nợ thanh toán nợ không có bảo đảm”. Vì thực chất phần chênh
lệch mà con nợ thanh toán cho chủ nợ này chính là một khoản nợ không có bảo đảm.
Trong khi các chủ nợ không có quyền bù trừ nghĩa vụ, phải chờ mở thủ tục phá sản thì
các chủ nợ có quyền này đã thu hồi xong khoản nợ, quyền lợi của họ không bị ảnh
hưởng gì từ việc mở thủ tục phá sản đối với con nợ. Quy định này phải chăng đã tạo

trên được giải quyết theo cách thức được quy định tại điều 35, 57, 58 luật phá sản.
Tuy nhiên, chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần không có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu như chủ nợ không có bảo đảm (điều 44
LPS: “Trong quá trình Toà án tiến hành thủ tục phá sản, chủ nợ không có bảo đảm,
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố các giao dịch của
doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này là vô hiệu”).
3. Giai đoạn từ khi ra quyết định đến khi mở thủ tục phá sản:
Pháp luật phá sản đã quy định cho các chủ nợ có nhiều điểm giống nhau về
quyền và nghĩa vụ hơn những giai đoạn trước. Cả ba loại chủ nợ đều có quyền được
thông báo về quyết định mở thủ tục phá sản ( điều 29). Đây là quyền được thông tin
nhằm giúp các chủ nợ có thể tham gia vào quá trình giải quyết phá sản để bảo vệ
quyền lợi của mình. Sau khi danh sách chủ nợ do tổ quản lý và thanh lý tài sản công
bố, nếu không đồng ý, chủ nợ có quyền khiếu nại với Tòa án về danh sách chủ nợ theo
quy định tại điều 52 LPS. LPS 2004 còn quy định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài
sản để quản lý có đại diện của chủ nợ (điều 9 LPS) Điều này cho thấy LPS luôn bảo
vệ quyền lợi của chủ nợ, tạo sự an tâm cho các chủ nợ khi tham gia vào quá trình giải
quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhằm đảm bảo cho khối tài sản của con nợ được sử
dụng một cách hợp lý đúng pháp luật, ngoài ra còn hạn chế hành vi tẩu tán tài sản của
con nợ nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, các doanh nghiệp hợp tác xã cũng như
bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội. Dù là chủ nợ có bảo đảm hay là chủ nợ có bảo
đảm một phần hay chủ nợ không có bảo đảm thì các chủ nợ đều có quyền khiếu nại
báo cáo kết quả thực hiện phương án phân chia tài sản của tổ quản lý thanh lý tài sản
theo điều 30 nghị định 67/2006/NĐ-CP. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày báo cáo
kết quả thực hiện phương án phân chia tài sản được niêm yết, chỉ khi không có chủ nợ
nào khiếu nại thì thẩm phán mới được ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản
và ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, các chủ nợ còn
chung quyền nhận giấy triệu tập tham gia hội nghị chủ nợ theo khoản 3 điều 61
LPS.Đi kèm với giấy triệu tập tham gia hội nghị chủ nợ thì các chủ nợ được quyền
nhận chương trình và nội dung hội nghị cũng như các giấy tờ, tài liệu khác có liên
quan. Tất cả các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ đều có quyền tham gia hội nghị

không bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp hợp tác xã mới có quyền được thông báo về quyết định
thành lập tổ quản lý thanh lý tài sản theo quy định tại điều 16 nghị định 67/2006/NĐCP. Những chủ nợ không có bảo đảm hay có bảo đảm một phần không nộp đơn yêu
cầu và chủ nợ có bảo đảm không có quyền này. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản
3 điều 67 LPS thì chỉ chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần đã
nộp đơn còn có khả năng làm phát sinh việc đình chỉ thủ tục phá sản khi họ rút lại đơn
yêu cầu. Tuy nhiên, tất cả họ rút đơn mới được phát việc đình chỉ thủ tục phá sản, còn
nếu chỉ một hay một số người rút đơn thì Tòa án vẫn tiến hành thủ tục phá sản. Điểm
khác thứ hai được suy luận từ điều 27 và điều 31 LPS. Theo quy định của hai điều luật
này thì các chủ nợ có quyền được thanh toán nợ không phải bằng cách xử lý tài sản
bảo đảm đối với chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm. Điều này được
hiểu, ở giai đoạn này pháp luật không cấm chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm
một phần được thanh toán nợ có bảo đảm không bằng tài sản bảo đảm (tức là bằng
tiền hay bằng tài sản khác không dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ đó). Đối với doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp chứng khoán, doanh nghiệp tài chính khác thì không
được thanh toán cho chủ nợ đồng thời là con nợ của doanh nghiệp đó theo quy định
tại điểm d khoản 3 điều 12 nghị định 114/2008/NĐ-CP. Điểm khác thứ ba trong giai
đoạn này về quyền và nghĩa vụ của các chủ nợ thể hiện trong việc tiến hành hội nghị
chủ nợ. Sự có mặt của chủ nợ không bảo đảm là một trong những điều kiện cho việc
tiến hành hội nghị chủ nợ hợp lệ (điều 65 LPS: “Hội nghị chủ nợ chỉ hợp lệ khi có
đầy đủ các điều kiện sau đây: 1. Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho
từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia”). Trong hội nghị chủ
nợ, thì chỉ có chủ nợ không có bảo đảm mới có quyền hoãn hội nghị chủ nợ theo điều

6


So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

66 LPS: “1. Hội nghị chủ nợ có thể được hoãn một lần nếu có một trong các trường

có bảo đảm không có ý nghĩa, có chăng thì sức ảnh hưởng của họ dường như khá mờ
nhạt.
Hội nghị chủ nợ là chế định cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản cơ hội có thể được áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc bị áp
dụng thủ tục thanh lý. Ngoài ra, một điểm khác nho nhỏ nữa giữa chủ nợ có bảo đảm,
chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm là sau khi tiến hành hội

7


So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

nghị chủ nợ lần thứ nhất thì theo khoản 1 điều 61 LPS “Các Hội nghị chủ nợ tiếp theo
có thể được Thẩm phán triệu tập vào bất kỳ ngày làm việc nào trong quá trình tiến
hành thủ tục phá sản theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc của các chủ
nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm”. Như vậy, trừ chủ
nợ có bảo đảm, còn lại chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần đều
có quyền yêu cầu triệu tập hội nghị chủ nợ những lần tiếp theo khi họ có đủ đại diện
cho ít nhất 1/3 tổng số nợ không bảo đảm.
Nhìn một cách tổng quan, trong giai đoạn từ khi nộp đơn đến lúc mở thủ tục
phá sản về cơ bản có thể thấy, các chủ nợ đều có những quyền tương tự nhau, nhưng
nổi bật là các quyền của chủ nợ không có bảo đảm. Những quyền này có tính quyết
định và chi phối hầu hết tiến trình của thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp
hợp tác xã. Luật đã có tính chất nghiêng về bảo vệ triệt để hơn quyền lợi của loại chủ
nợ này bằng cách quy định cho họ có những quyền tiên quyết cho những các vấn đề
của thủ tục phá sản chung.
II. Thủ tục phục hồi:
Trong thủ tục phục hồi, các loại chủ nợ đều có quyền xây dựng phương án
phục hồi theo điều 68 LPS: “Trong thời hạn nói trên, bất kỳ chủ nợ hoặc người nào
nhận nghĩa vụ phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã đều có

75 LPS. Đây là những quy định đảm bảo quyền thông tin của chủ nợ nhằm cho phép
chủ nợ nắm bắt được diễn biến của tiến trình tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã là con nợ của họ. Tồn tại song song bên những điểm giống là
những điểm khác về quyền và nghĩa vụ do đặc điểm của từng loại chủ nợ được pháp
luật quy định khá rõ ràng. Đầu tiên, theo quy định tại điều 68 LPS về điều kiện áp
dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh:“Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua
Nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh
toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh” thì chủ nợ không có bảo đảm có quyền làm phát
sinh thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp hợp tác xã thông qua hội nghị chủ nợ.
Quyền này không có ở chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần vì họ
không có quyền quyết định trong hội chủ nợ (theo cách quy định về phương thức
thông qua nghị quyết của hội nghị chủ nợ). Tương tự như vậy thì cũng chỉ có chủ nợ
không có bảo đảm mới có quyền thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
(điều 71 LPS “được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt
đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán
thành”), quyền chấp nhận thỏa thuận thay đổi phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh (điều 75 LPS: “quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần
ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên đồng ý”), quyền đình chỉ thủ tục phục hồi
(điều 76 LPS: “Được quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện
cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đình
chỉ”).
Có thể nói, trong giai đoạn tiến hành thủ tục phục hồi thì chủ nợ không có bảo
đảm được pháp luật quy định cho những quyền khác biệt và dường như chiếm ưu thế
hơn so với những chủ nợ khác. Những quyết định của họ có khả năng chi phối đến cả
quá trình phục hồi, nắm vai trò then chốt trong việc có tiến hành phục hồi nữa hay
không. Vai trò tham gia của chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần chỉ
dừng lại ở những vai trò chung chung, mờ nhạt về ý nghĩa, tiếng nói của họ không có
giá trị bao nhiêu.

nguyên tắc thanh toán khi thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản. Theo quy định của luật phá sản 2004 thì chỉ có chủ nợ không có bảo
đảm mới có quyền làm phát sinh thủ tục thanh lý trong hai trường hợp cụ thể:
Trường hợp 1: “Không đủ số chủ nợ quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này tham
gia Hội nghị chủ nợ sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp quy định tại các điều 15, 16, 17 và
18 của Luật này”.
Trường hợp 2: “2. Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã”
Như vậy, cũng xuất phát từ quy định về sự có mặt của chủ nợ không bảo đảm
và nguyên tắc thông qua nghị quyết của hội nghị chủ nợ mà các chủ nợ không có bảo
đảm có khả năng chi phối việc có quyết định đưa đến thủ tục thanh lý đối với doan
nghiệp, hợp tác xã hay không.
Khi đưa đến thủ tục thanh lý thì một vấn đền quan trọng đặt ra là nguyên tắc
thanh toán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Có hai nguyên tắc được xây dựng
trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Nguyên tắc đầu tiên là
nguyên tắc ưu tiên bằng tài sản bảo đảm. Ở đây, chỉ dành cho chủ nợ có bảo đảm và
chủ nợ có bảo đảm một phần đối với phần nợ có bảo đảm. Được quy định tại điều 35
LPS: “Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh

10


So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố
được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên
thanh toán bằng tài sản đó”. Theo nguyên tắc này, chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có
bảo đảm một phần được ưu tiên thanh toán trước bằng tài sản bảo đảm mà chủ nợ
không có bảo đảm không được hưởng nguyên tắc này. Việc thanh toán các khoản nợ

nợ thông thường khác, kể cả chủ nợ là nhà nước. Khi xem nợ thuế là một khoản nợ
như những khoản nợ khác, pháp luật phá sản đã bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ
nợ có điều kiện pháp lý như nhau dù cho chủ nợ đó là Nhà nước hay chủ thể bình
thường. Việc ưu tiên thanh toán trước cho chủ nợ có bảo đảm là quy định hợp lý vì
khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hay của

11


So sánh địa vị pháp lý của các loại chủ nợ trong thủ tục phá sản

người thứ ba. Sự quy định này là hợp lý vì nó bảo vệ được quyền lợi của tất cả các
chủ nợ trên cơ sở những đặc điểm bản chất của từng loại chủ nợ cụ thể.
IV. Tuyên bố phá sản:
Tuyên bố phá sản là thủ tục thuộc giai đoạn cuối cùng của thủ tục phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã. Đây là thủ tục khép lai toàn bộ quá trình tiến hành thủ tục
phá sản, chính thức đưa doanh nghiệp, hợp tác xã rút khỏi thương trường. Ở giai đoạn
này, các chủ nợ dường như đều có địa vị pháp lý như nhau. Đó là quyền được thông
báo về quyết định tuyên bố phá sản theo điều 89 LPS và có quyền khiếu nại quyết
định tuyên bố phá sản theo điều 91 LPS. Khi tham gia vào thủ tục phá sản, mục đích
của các chủ nợ là muốn thu hồi các khoản nợ một cách tối đa nhất. Tuy nhiên, trong
quá trình tiến hành thu hồi tài sản mà tổ chức quản lý, thanh lý tài sản nếu có sai sót
và không minh mà Tòa án lại ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã thì sẽ không đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ. Để đảm bảo lợi ích hợp
pháp của các chủ nợ, LPS cho phép chủ nợ được quyền khiếu nại quyết định của Tòa
án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày cuối
cùng đăng báo quyết định tuyên bố phá sản để họ có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi mà
họ đáng được hưởng.
Một quy định nữa của LPS 2004 là cho phép các chủ nợ có quyền đòi chủ sở
hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh thanh toán các

chủ nợ. Chủ nợ không có bảo đảm có thể phát huy tối đa những quyền được pháp luật
quy định đó để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình. Mặc dù chủ nợ có bảo đảm được
trao cho những quyền khá chung chung và trong những việc quyết định những vấn đề
quan trong, tiếng nói của họ dường như không có sức nặng, họ có rất ít những quyền
lợi riêng biệt nhưng quyền họ có được cuối cùng chính là nguyên tắc ưu tiên thanh
toán. Chính vì thế, về mặt thực tiễn khả năng được thanh toán nhiều và sớm. Quyền
lợi của họ ít nhiều vẫn được pháp luật bảo vệ trước tiên, tỷ lệ thành công trong việc
thu hồi nợ của họ cao hơn hẳn so với chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm
một phần.
Nhìn chung, Luật phá sản 2004 bảo vệ quyền lợi cho tất cả các loại chủ nợ,
cung cấp công cụ pháp lý cho các chủ nợ thực hiện việc đòi nợ một cách nhanh chóng,
khả thi, hiệu quả và hợp pháp. Ở mỗi giai đoạn khác nhau của thủ tục phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã, luật đã có những chế định đề cao và chú trọng quyền và nghĩa vụ
của những chủ nợ khác nhau nhằm mục đích, tạo điều kiện để các chủ thể có thể chủ
động xúc tiến phương án hành động của mình sao cho khả năng thu hồi nợ cao nhất.
Có những giai đoạn vai trò của chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần
được luật quan tâm cao nhất, nhưng cũng có những giai đoạn chủ nợ không có bảo
đảm lại đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, suy đến cùng, pháp luật phá sản vẫn
hướng đến bảo vệ quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm một cách triệt để, vì những lý do
sau đây:
Thứ nhất: khi đòi nợ, dù theo thủ tục phá sản hay không thì quyền lợi cơ bản
nhất mà các chủ nợ mong muốn đạt được là khả năng được thanh toán đủ và sớm.
Luật phá sản 2004 đã đưa ra nguyên tắc ưu tiên thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm
trước bằng tài sản bảo đảm là đã cho họ có cơ hội thu hồi nợ sớm hơn hẳn những chủ
nợ khác. Đồng thời, quy định tại điều 35 về xử lý tài sản bảo đảm đó để thanh toán
khoản nợ mà nó bảo đảm thì trong trường hợp xấu nhất là tài sản không đủ thanh toán
hết khoản nợ đó thì phần còn lại cũng được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản
của doanh nghiệp. Như vậy, họ vẫn có khả năng thu hồi được khoản nợ với tỷ lệ cao
nhất so với các chủ nợ không có bảo đảm hay bảo đảm một phần.
Thứ hai: quyền lợi về mặt chi phối đối với các quyết định trong từng bước tiến



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status