Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
--- --1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giới ngày càng hội nhập mạnh mẽ,
thúc đẩy sự phát triển thương mại và đầu tư quốc tế, pháp luật về phá sản doanh
nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự an toàn của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của
mỗi quốc gia.
Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế, chính sách pháp
luật về doanh nghiệp có những điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của môi
trường kinh tế trong và ngoài nước. Trong đó, pháp luật về phá sản doanh nghiệp
dần dần được xây dựng và hoàn thiện theo định hướng thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Có thể khẳng định rằng, khung pháp lý cơ bản về phá sản doanh nghiệp
đã hình thành tương đối đồng bộ, góp phần kiểm soát, quản trị ảnh hưởng tích cực
cũng như tiêu cực của loại quan hệ pháp luật này trong đời sống kinh tế cũng như
đời sống xã hội.
Tuy nhiên, sự khủng hoảng tài chính toàn cầu, khu vực và những khó khăn
trong quá trình điều hành kinh tế vĩ mô của nước ta trong thời gian gần đây đã đòi
hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, đặc biệt
là các vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt
Nam phù hợp với tình hình mới.
Góp phần vào việc tìm hiểu, một phần mang tầm quan trọng như đã nêu trên,
trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp người viết sẽ tìm hiểu về “Một số vấn đề pháp
lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản
về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp. Tổng kết, phân tích, đánh giá
thực trạng việc áp dụng pháp luật phá sản năm 2004, để từ đó tìm hiểu những điểm
mới của luật phá sản năm 2014.
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nói trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể
phá sản năm 2014.
2
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NỢ TRONG PHÁP LUẬT
VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về phá sản doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Hiện tượng phá sản phát sinh từ rất sớm. Về phương diện ngôn ngữ, hiện có
nhiều thuật ngữ dùng để thể hiện khái niệm về phá sản. Trong tiếng La tinh phá sản
được biểu đạt bằng hai từ: Ruin (sự khánh tận) và Banca Rotta (hình ảnh quầy hàng
của thương nhân bị thu mất khi phá sản), trong tiếng Anh có các từ như Insolvency,
Bankruptcy, trong tiếng Pháp là Baqueroute. Còn trong từ điển tiếng Việt, phá sản
là "lâm vào tình trạng khánh kiệt tài sản, bị phá sản, do kinh doanh thua lỗ" 1. Mặc
dù có sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ để chỉ khái niệm phá sản nhưng
tựu chung lại thì bản chất của vấn đề đều nói về tình trạng không trả được nợ, mất
khả năng thanh toán nợ đến hạn của con nợ.
Khái niệm về phá sản là vấn đề cực kỳ quan trọng và bất kỳ luật phá sản
nước nào cũng phải quan tâm hàng đầu để giải quyết. Khi bàn về vấn đề này, một số
người viết đã cho rằng định nghĩa phá sản có lẽ là khó nhất đối với các nhà lập
pháp. Vì tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà
sự can thiệp của nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của
nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của chủ nợ hay con nợ nhiều hơn 2. Để hiểu và
nhìn nhận đúng hơn về khái niệm phá sản, chúng ta phải xem xét khái niệm này ở
nhiều bình diện và góc độ khác nhau.
Dưới góc độ kinh tế, phá sản theo nghĩa rộng đề cập đến thất bại kinh tế
tình trạng phá sản, còn doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì có
khả năng doanh nghiệp sẽ không phá sản. Và thuật ngữ lâm vào tình trạng phá sản
dưới góc độ tài chính sẽ được hiểu trong hai trường hợp sau đây:
Thứ nhất, khi chủ thể kinh doanh không trả được nợ đến hạn, không thực hiện
được nghĩa vụ tài sản – trả tiền. Đây chỉ là sự phá sản thực tế, là một biểu hiện bên
ngoài về tình hình tài chính không lành mạnh của doanh nghiệp. Con nợ có thể có
những khó khăn tạm thời do thiếu tiền mặt như chưa bán được hàng, chưa thu được
tiền hàng hoặc không đủ các tài sản có khả năng thanh toán nhanh, hoặc do doanh
nghiệp đầu tư quá lớn vào máy móc thiết bị, bất động sản... Khi cân đối giữa tổng
tài sản của con nợ với các khoản nợ thì giá trị trong tổng tài sản lớn hơn giá trị các
khoản nợ. Do vậy, nếu có thời gian hoặc nếu áp dụng các biện pháp tài chính cần
thiết thì con nợ có thể vượt qua khó khăn tài chính đó và khôi phục lại được khả
năng thanh toán của mình3.
Thứ hai, là trường hợp cân đối giữa tổng giá trị tài sản và tổng giá trị các
khoản nợ, con nợ có số nợ phải trả vượt quá tổng giá trị tài sản. Trong trường hợp
này thì tình trạng mất khả năng thanh toán có tính chất tuyệt đối, không còn khả
năng cứu vãn. Nếu có cho thêm thời gian hoặc áp dụng các biện pháp tài chính cần
3
Dương Đăng Huệ - Nguyễn Thanh Tịnh, Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường
pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr15.
4
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
thiết như tìm nguồn tín dụng mới, tìm người bảo lãnh nợ mới thì cũng không khắc
phục được tình trạng này và tiếp tục rơi vào tình trạng nợ nần mới4.
Dương Đăng Huệ - Nguyễn Thanh Tịnh, Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường
pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr20.
5
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
Cách phân chia này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Ở nhiều nước trên thế giới không có sự phân chia này mà bất kể doanh nghiệp hay
cá nhân khi lâm vào tình trạng phá sản đều bị xử lý theo luật phá sản. Ở Trung
Quốc luật phá sản chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước. Nước ta luật phá sản
được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hợp tác xã,
còn đối với các cá nhân nếu lâm vào tình trạng phá sản thì được xử lý theo thủ tục
tụng dân sự.
Căn cứ vào đối tượng yêu cầu tuyên bố phá sản, phá sản có thể chia ra phá
sản tự nguyện và phá sản bắt buộc.
Phá sản tự nguyện là phá sản do chính con nợ yêu cầu khi thấy mình lâm vào
tình trạng phá sản. Tuy nhiên không phải bất kỳ con nợ nào nộp đơn xin phá sản thì
đương nhiên phá sản mà phụ thuộc vào sự xem xét của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Quy định như vậy nhằm tránh việc con nợ lợi dụng thủ tục phá sản để chiếm
đoạt tài sản của chủ nợ. Ở Việt Nam việc phân định phá sản tự nguyện và phá sản
bắt buộc được phân biệt trong các trường hợp khác nhau giữa quyền hoặc nghĩa vụ
nộp đơn. Nếu gọi là tự nguyện tất nhiên điều này phải xuất phát từ ý chí của con nợ,
việc luật không bắt buộc họ mà chỉ khuyến khích, điều này được nhìn nhận ở Luật
Phá sản năm 2014 với quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán (Điều 28). Chủ doanh nghiệp hoặc đại
diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn ba tháng kể từ khi nhận
thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nếu không nộp đơn yêu
nguyện đang dần trở nên phổ biến.
Căn cứ vào tính chất của sự phá sản thì phá sản được chia thành phá sản
trung thực và phá sản gian dối.
Phá sản trung thực là sự phá sản do những nguyên nhân có thực gây ra. Những
nguyên nhân này có thể là do chủ quan cũng có thể là do khách quan mang lại.
Nguyên nhân chủ quan có thể là:
Sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của người kinh
doanh;
Do những rủi ro từ những biến động trên thương trường như sự biến động tỷ
giá hối đoái, lãi suất, vấn đề lạm phát... gây ra sự biến động giá cả hàng hóa. Người
kinh doanh không có khả năng thích ứng với những biến động trên thương trường
đó, không nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng sẽ
dẫn tới thua lỗ;
Sự liều lĩnh, mạo hiểm của người kinh doanh khi chưa cân nhắc và tính toán
kỹ kế hoạch kinh doanh.
Nguyên nhân khách quan có thể là:
Những rủi ro từ thiên tai, địch họa, chiến tranh và các cuộc khủng hoảng tài
chính;
Những rủi ro xuất phát từ sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước. Đặc
biệt là chính sách pháp luật về kinh tế của một quốc gia quyết định quan trọng đến
quá trình kinh doanh. Những chính sách phù hợp với các quy luật của nền kinh tế
7
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
thị trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh phát triển và ngược lại nó
sẽ là những rào cản cho các nhà kinh doanh.
Phá sản gian dối là sự phá sản do con nợ sắp đặt trước bằng những thủ đoạn
gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ. Ví dụ như để chiếm đoạt tài sản,
6
Nguyễn Thành Đức, Luật vỡ nợ Liên bang Nga, kỷ yếu đề tài NCKH cấp Bộ: Một số định hướng hoàn
thiện pháp luật phá sản DN, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr52.
8
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
Phá sản tuyệt đối: Là tình trạng con nợ thực sự mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn một cách tuyệt đối khi cân đối giữa tài sản của con nợ trong số nợ thì tổng
số nợ lớn hơn tổng tài sản của con nợ trong thời điểm không thanh toán được nợ
đến hạn.
Việc phân biệt này có vai trò rất quan trọng đối với tòa án trong quá trình
giải quyết phá sản. Đối với phá sản thực tế, tòa án có thể áp dụng thủ tục phục hồi
giúp con nợ có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác phá sản
thực tế sẽ giúp con nợ an tâm để áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết khắc
phục tình trạng khó khăn tạm thời này, tránh được sự quấy rầy của các chủ nợ.
Đồng thời, nó còn có ý nghĩa khuyến khích con nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản. Còn đối với phá sản tuyệt đối tòa án có căn cứ lựa chọn thủ tục áp
ụng cho phù hợp. Nếu xét thấy con nợ không còn khả năng phục hồi tòa án có thể
tuyên bố phá sản ngay. Áp dụng thủ tục này sẽ đỡ tốn kém về thời gian, công sức,
tiền bạc cho chủ nợ, tòa án và các chủ thể có liên quan.
1.1.3. Lịch sử hình thành pháp luật phá sản
Trước năm 1986 đất nước ta thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung,
bao cấp, chủ thể kinh tế chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã và do nhà
nước thành lập, tài sản thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể. Các doanh nghiệp,
hợp tác xã không có quyền hoặc ít có quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh,
mọi hoạt động trong quá trình kinh doanh từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đều
theo kế hoạch của nhà nước và cũng không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
hữu, tăng trách nhiệm và tính chủ động cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, thực hiện
tự chủ, tự hạch toán và tự chịu trách nhiệm do đó đã tạo ra sự năng động của nền
kinh tế, dần dần đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội. Tuy nhiên giai
đoạn 1986 - 1992 là giai đoạn kinh tế thị trường sơ khai, nhiều vấn đề chúng ta vừa
làm, vừa thử nghiệm rút kinh nghiệm do đó một số vấn đề về thể chế, chính sách,
pháp luật chưa được đầy đủ, hoàn thiện.
Xuất phát từ lý luận cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu của hệ
thống pháp luật; tính chất của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết định
tính chất của các quan hệ pháp luật, mức độ và phương pháp điều chỉnh pháp luật.
Ta thấy sự khác biệt của pháp luật kinh tế thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới
cũng như thấy được tính tất yếu khách quan của hiện tượng phá sản và pháp luật
phá sản trong nền kinh tế thị trường.
Từ năm 1986 đến trước khi Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 ra đời,
pháp luật nước ta chưa có quy định về phá sản (như đã trình bày ở trên) do vậy việc
xử lý những doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản gặp rất nhiều khó khăn, mặc
dù nhà nước có ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như: Quyết định 315 HĐBT ngày 01/9/1990, Quyết định 330-HĐBT ngày 23/10/1991 của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng; Nghị định 388-HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
về việc giải thể các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh. Theo đó việc
tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của trọng tài kinh tế nhà
nước. Tuy vậy khi thực hiện việc giải thể đã nảy sinh những hiện tượng tiêu cực
như: doanh nghiệp tìm mọi cách xoá nợ để lẩn tránh trách nhiệm, gây tổn hại
10
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước và các chủ thể khác tham gia thủ tục giải thể
doanh nghiệp (tất nhiên là có chủ thể được lợi). Mặt khác trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh chưa có các quy định của pháp luật về phá sản điều chỉnh nên
nhiều doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản bị xử lý theo nhiều cách khác
quan hệ vay nợ này thì chủ nợ là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà có tài sản cho tổ
chức, cá nhân khác vay đều được gọi là chủ nợ. Các khoản nợ ở đây có thể là nợ
tiêu dùng, nợ kinh doanh.
Nhưng trong quan hệ phá sản thì chủ nợ được hiểu theo nghĩa riêng và ở
phạm vi hẹp hơn. Pháp luật phá sản nước ta được áp dụng đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam. Khác với một số nước
như Úc, Mỹ, Thái Lan, Singapore pháp luật phá sản được áp dụng cho tất cả các
con nợ không phân biệt họ là ai (là cá nhân hay pháp nhân, là thương nhân hay
7
Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, 1999, tr. 102.
12
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
không phải là thương nhân) và tính chất của nợ không trả được là nợ thương mại
hay nợ dân sự8. Trong luật phá sản của nhiều nước, chủ nợ được hiểu là các đối
tượng (pháp nhân hay thể nhân) có các khoản nợ không được đảm bảo trả đúng hạn,
kể cả chủ nợ có bảo đảm, nhưng chỉ đối với phần nợ vượt quá giá trị vật chất bảo
đảm đang nằm trong tay mình (tay chủ nợ) 9. Còn con nợ trong pháp luật phá sản
nước ta có thể là các doanh nghiệp, hợp tác xã và khoản nợ ở đây là nợ kinh doanh.
Do đó, chủ nợ trong thủ tục phá sản nước ta có thể được hiểu là những cá nhân, tổ
chức mà các doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ trả tiền.
Theo cách hiểu này thì chủ nợ ở đây, ngoài những chủ nợ trong quan hệ
thương mại còn có các chủ nợ đặc biệt khác như người lao động mà doanh nghiệp
nợ lương, nhà nước mà doanh nghiệp nợ thuế. Đây là cách hiểu dùng cho trường
hợp đặc biệt và nghĩa vụ trả tiền ở đây được áp dụng một cách phù hợp nhất.
1.2.1.2. Phân loại chủ nợ
cho các chủ nợ khác. Đối với các chủ nợ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của
con nợ thông qua hành vi xâm hại đến tính mạng và sức khỏe thì những đòi hỏi của
họ được ưu tiên công nhận và giải quyết (được thanh toán vào hàng thứ nhất bằng
tài sản của con nợ) và không thuộc diện chủ nợ bị hoãn thanh toán trong trường hợp
áp dụng thủ tục điều hành từ bên ngoài.10
Khác với Luật vỡ nợ (phá sản) Liên bang Nga, luật phá sản nước ta lại chia
chủ nợ thành ba loại: Chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ
không bảo đảm.
Thứ nhất: Chủ nợ có bảo đảm là là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu
cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo
đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.
Theo Luật phá sản của nhiều nước thì chủ nợ có bảo đảm được hiểu là chủ
nợ giữ vật cầm cố (hoặc tài sản thế chấp) của doanh nghiệp hoặc (của con nợ) hoặc
có các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của người đi vay (doanh nghiệp). Giá
trị tài sản thế chấp ở các nước đều được tính theo giá thị trường. Như vậy, luật phá
sản của các nước đã quy định về tài sản bảo đảm rất cụ thể, rõ ràng nhằm bảo vệ
quyền lợi của các chủ nợ.
Thứ hai: Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền
yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được
bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị
tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó. Định nghĩa trên quy định rõ từng loại chủ nợ
hơn so với luật phá sản năm 2004, trong khi luật phá sản năm 2004 chỉ nêu một
cách chung chung là chủ nợ.
Tuy nhiên, định nghĩa như trên của chúng ta lại khác xa với luật phá sản của
các nước trên thế giới. Pháp luật phá sản của họ không phân biệt giữa chủ nợ có bảo
đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm mà hầu như chỉ có chủ nợ bảo đảm và chủ nợ
không có bảo đảm.
Thứ ba: Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu
cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không
được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.
đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng
có quyền nộp đơn, trong Luật Phá sản mới vẫn giữ nguyên quy định này, đồng thời
cũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông
trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn nếu điều lệ công ty có quy
định.12
Trong hội nghị chủ nợ, người lao động cũng có quyền và nghĩa vụ như chủ nợ.
"Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền.
Trong trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền,
nghĩa vụ như chủ nợ (Khoản 2 Điều 62 Luật phá sản năm 2004 giống như khoản 2
Điều 77 Luật phá sản 2014). Về thực chất, đối với doanh nghiệp mắc nợ thì người
lao động là một chủ nợ đặc biệt và không có bảo đảm. Họ chỉ khác với các chủ nợ
là nhà kinh doanh, quan hệ nợ nần không phải là tài sản thông thường mà là giá trị
sức lao động. Với họ, tiền lương là nguồn sống chính của bản thân gia đình họ.
11
12
Khoản 2 Điều 5 Luật phá sản 2014.
Khoản 5 Điều 5 Luật phá sản 2014.
15
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
Chính vì thế, pháp luật phá sản đã đối xử rất công bằng và nhân đạo với người lao
động.
Bên cạnh đó, luật phá sản nước ta cũng coi người bảo lãnh sau khi đã trả nợ
thay cho doanh nghiệp mắc nợ cũng có quyền tham gia hội nghị chủ nợ và họ được
coi là chủ nợ không có bảo đảm. Khoản 3 Điều 77 Luật phá sản năm 2014 quy định
không khác gì khoản 3 Điều 62 Luật phá sản năm 2004 "Người bảo lãnh sau khi đã
học, tr395.
15
Trường Đại học Luật Hà Nội 2004, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Tư Pháp, tr. 454
16
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
được tự do, đó là điều không thể được" 16. Quyền chủ nợ có thể được cụ thể hóa
thành các quyền cơ bản như sau:
Quyền tự định đoạt đối với các khoản nợ của mình như: chủ nợ có thể
thương lượng với con nợ để xóa nợ, giảm nợ, hoãn nợ, giãn nợ, ...
Quyền yêu cầu con nợ thanh toán nợ cho mình đúng thời hạn, yêu cầu con
nợ chấm dứt hành vi làm hại đến lợi ích chính đáng của mình, tôn trọng các nghĩa
vụ cam kết trong hợp đồng.
Quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm bảo những lợi ích hợp
pháp của mình như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền yêu cầu tòa
án ra các quyết định cần thiết nhằm bảo toàn tài sản của con nợ...
Về lợi ích hợp pháp, từ điển tiếng Việt có giải thích: "lợi ích là cái có tác
dụng tốt đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, điều có lợi cho tập thể hay
một cá nhân..."17
Còn theo từ điển triết học "Lợi ích là khái niệm nói lên đặc điểm của cái có ý
nghĩa khách quan, cần thiết cho cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc, xã hội
nói chung"18.
Theo nghĩa pháp lý, lợi ích hợp pháp là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần
phù hợp với quy định của pháp luật. Trong quan hệ pháp luật phá sản, các chủ nợ
đều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định. Điều mà các chủ nợ mong muốn
nhất ở quan hệ này là thu hồi được khoản nợ của mình.
Từ những lý luận trên, có thể hiểu lợi ích hợp pháp của chủ nợ như sau: Lợi
ích hợp pháp của chủ nợ là tất cả những giá trị vật chất hoặc tinh thần phát sinh từ
đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ, để giúp các chủ nợ thu hồi được các món nợ
của mình, Tòa án phải ra quyết định tuyên bố con nợ bị phá sản và tiến hành thủ tục
bán toàn bộ tài sản của con nợ để phân chia cho các chủ nợ. Khác với thủ tục đòi nợ
thông thường, việc thanh toán nợ cho các chủ nợ theo thủ tục phá sản mang tính tập
thể, tất cả các khoản nợ được tòa án phân loại và thực hiện việc thanh toán theo một
thứ tự nhất định, trên cơ sở đảm bảo công bằng.
Trong thời gian tiến hành thủ tục phá sản, các chủ nợ không được thực hiện
bất kỳ hành vi pháp lý nào khác chống lại con nợ bị mở thủ tục phá sản mà chỉ có
quyền yêu cầu phải chia số tài sản còn lại của con nợ để thu hồi nợ. Hay nói cách
khác, trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, các chủ nợ không thể
xé lẻ đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họ đều phải được tập hợp lại thành một chủ
thể pháp lý gọi là hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ đại diện cho tất cả chủ nợ tham
gia giải quyết việc phá sản để bảo vệ lợi ích cho họ. Toàn bộ tài sản của con nợ
được đưa vào một quỹ chung để trả cho các yêu cầu thanh toán của chủ nợ theo một
thứ tự ưu tiên nhất định. Nếu tài sản của con nợ không đủ thanh toán tất cả các
khoản nợ thì các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ giữa khoản nợ mà con nợ phá
sản còn thiếu với số tài sản còn lại của chủ nợ.
Pháp luật phá sản các nước đều coi trọng vai trò của các chủ nợ trong quá
trình tiến hành thủ tục phá sản, có hiệu quả hay không thể hiện ở việc bảo vệ được
lợi ích của chủ nợ. Hơn ai hết, việc quyết định thanh lý con nợ hay cho phép con nợ
được tiến hành phục hồi cần phải dựa trên tiêu chí khả năng thu hồi nợ tối đa cho
các chủ nợ và phải có ý kiến của các chủ nợ. Pháp luật các nước đều có quy định
hội nghị chủ nợ là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí của các chủ nợ, có quyền
quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến chủ nợ cũng như việc giải quyết
phá sản. Hội nghị chủ nợ thường do tòa án hoặc người quản lý tài sản triệu tập và
18
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được
bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị
tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó. Đối với nhóm chủ nợ này thì pháp luật phá
19
20
Viện khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Thông tin khoa học xét xử số 2/2003, tr25.
Viện khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Thông tin khoa học xét xử số 2/2003, tr55.
19
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
sản quy định cho họ thẩm quyền khá rộng rãi, có quyền quyết định những vấn đề
quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ.
Nhóm 3: Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu
doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo
đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba. So với chủ
nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần thì nhóm chủ nợ này bị hạn chế
một số quyền nhất định như không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,
không có quyền biểu quyết thông qua nghị quyết hội nghị chủ nợ thông qua phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh.... Quy định này của pháp luật Việt Nam xuất
phát từ quan điểm cho rằng: đối với chủ nợ có bảo đảm thì lợi ích của họ đã được
bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp hay của người thứ ba. Vì
vậy, việc doanh nghiệp có bị tuyên bố phá sản hay không thì lợi ích của họ cũng
không bị thiệt hại.
1.3. Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản
Để ổn định nền kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân, Việt Nam cũng như đa số các nước khác đều quan tâm
chủ nợ. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật về phá sản doanh nghiệp cũng
gặp nhiều vướng mắc, một phần do quy định pháp luật, mặt khác do nhận thức
pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế. Do đó cần phải có những
phương hướng và bước đi phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
phá sản và doanh nghiệp nhằm bảo vệ tối đa và hài hòa lợi ích của các bên có liên
quan trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ.
2.1. Các nguyên tắc cơ bản đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản
Để đảm bảo tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, pháp luật về phá sản
không chỉ chú ý tới quyền lợi riêng của các chủ nợ mà còn phải xét chúng trong mối
quan hệ với lợi ích chung của xã hội và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên
quan. Bởi xã hội là một tổng thể các quan hệ phức tạp, đa dạng, đan xen và ảnh
hưởng lẫn nhau. Do đó, các quy định pháp luật phá sản phải được đặt trong tính
thống nhất và đồng bộ của cả hệ thống pháp luật, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn.
Quyền tự định đoạt của chủ nợ trong luật phá sản phải dựa trên cơ sở tôn trọng các
lợi ích mà các quy phạm pháp luật khác cho phép chủ thể có liên quan được hưởng.
Nói như vậy có nghĩa là các quy định về việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của chủ nợ trong thủ tục phá sản phải rõ ràng, hợp lý và tuân theo các nguyên tắc
nhất định.
Các nguyên tắc cơ bản đó sẽ là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt cho quá trình
xây dựng, ban hành, hoàn thiện và áp dụng luật vào thực tiễn cuộc sống. Định
hướng đúng các nguyên tắc cơ bản tạo điều kiện cho các chủ nợ thu hồi được các
21
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
khoản nợ một cách hiệu quả, nhanh chóng, trên tinh thần nhân đạo, công bằng của
pháp luật.
22
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
2.1.2. Nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ
Mục đích quan trọng của luật phá sản là bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ. Để
đảm bảo tốt được quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì điều kiện quan trọng là pháp
luật phá sản phải đảm bảo được tính công bằng. Xuất phát từ nguyên tắc ''mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật'' 21, nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ là một
trong những nguyên tắc cơ bản trong thủ tục phá sản. Mỗi chủ nợ tham gia quan hệ
pháp luật phá sản có quyền đòi hỏi được đối xử như nhau không phân biệt nó là
thành phần kinh tế tư nhân hay là thành phần kinh tế quốc doanh, có số nợ ít hay số
nợ nhiều, tình trạng tài sản ra sao và bất luận là nhà nước hay là những thương nhân
bình thường.
Đối với phá sản luật pháp nước ta không thừa nhận bất kỳ sự đặc quyền, đặc
lợi của bất kỳ đối tượng, tầng lớp nào. Các chủ nợ đều bình đẳng về quyền đòi nợ
và cung cấp giấy tờ tài liệu liên quan đến khoản nợ của mình. Họ đều có quyền
khiếu nại đối với các quyết định của tòa án, tổ quản lý thanh toán tài sản. Tại hội
nghị chủ nợ, các chủ nợ đều có quyền tham gia thảo luận các phương án, giải pháp
tổ chức, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ. Do đặc điểm khó thu hồi
nợ nên các chủ nợ không có bảo đảm có quyền bình đẳng trong việc biểu quyết,
thông qua phương án hòa giải, các giải pháp tổ chức kinh doanh hoặc phân chia giá
trị tài sản của doanh nghiệp mắc nợ.
Khác với thủ tục đòi nợ thông thường, việc thanh toán nợ cho các chủ nợ
theo thủ tục phá sản mang tính tập thể, tất cả các khoản nợ được thanh toán trên cơ
sở đảm bảo công bằng. Các chủ nợ không thể đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họ
đều phải được tập hợp lại thành một tập thể pháp lý gọi là hội nghị chủ nợ 22. Hội
nghị chủ nợ đại diện cho tất cả chủ nợ tham gia giải quyết việc phá sản để bảo vệ
lợi ích cho họ. Toàn bộ tài sản của con nợ được đặt vào một quỹ chung, dùng để trả
ưu tiên khác nhau.
Trong doanh nghiệp, không nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao
động, các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự, đầu tiên là các
khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật và các
quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao
động đã ký kết, sau đó là nợ thuế và các khoản nợ khác. Sau khi đã thanh toán hết
các khoản nợ và chi phí doanh nghiệp, phần còn lại thuộc về chủ doanh nghiệp tư
nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty.
2.1.3. Nguyên tắc hòa giải
Trong pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới, hòa giải được coi là
một bước bắt buộc trong thủ tục giải quyết phá sản. Hòa giải có thể được tiến hành
trước khi tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản.
Hòa giải thực chất là một quá trình thương lượng, là việc thống nhất ý chí
giữa con nợ với các chủ nợ để tìm ra phương án tối ưu nhất đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp giữa các bên.
Trước đây, theo quy định của Luật Phá sản Doanh nghiệp thì hòa giải được
tiến hành ngoài tố tụng và trong tố tụng (hòa giải tại tòa án). Khoản 2 Điều 3 Nghị
định 189-CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn đã cho phép các bên được hòa giải với
nhau trước khi đưa ra tòa án: Con nợ phải thực hiện biện pháp tài chính cần thiết
trong đó có biện pháp thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, giảm nợ,
bảo lãnh nợ, xóa nợ...Việc hòa giải tự nguyện này được ưu tiên giải quyết cho đến
24
Đề tài: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp
trước ngày tòa án mở thủ tục phá sản. Khi những thỏa thuận giữa hai bên không đạt
được hội nghị chủ nợ trở thành bước hòa giải trong tố tụng và được coi là một giai
đoạn bắt buộc trong tố tụng phá sản. Luật đã quy định một thủ tục áp dụng đối với
coi là nguyên tắc chủ đạo trong quá trình giải quyết phá sản.
25