Tiểu luận tình huống giải quyết vụ việc tranh chấp hợp đồng dân sự tại xã y, huyện z, thành phố hà nội thông qua hòa giải ở cơ sở - Pdf 34

TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƢỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K.4A-2015

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG DÂN SỰ TẠI XÃ Y, HUYỆN Z THÀNH PHỐ HÀ NỘI
THÔNG QUA HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

Họ tên học viên

:

Nguyễn Xuân Trƣờng

Chức vụ

:

Chuyên viên

Đơn vị công tác

:

Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật
- Sở Tƣ pháp Hà Nội

Hà Nội, tháng 11 năm 2015


MỤC LỤC

chóng trở thành phức tạp, thậm chí là nguyên nhân xuất hiện những “điểm nóng”
về khiếu kiện.
Những năm qua, công tác hòa giải ở cơ sở được thành phố Hà Nội đặc biệt
quan tâm. UBND thành phố Hà Nội đã giao cho Sở Tư pháp (cụ thể là phòng
Phổ biến, giáo dục pháp luật) thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn tổ chức và hoạt
1


động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật, đồng thời hướng dẫn nghiệp
vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, hàng năm Sở
Tư pháp đều có kế hoạch kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở tại một số quận,
huyện, thị xã, qua đó đánh giá nhữngkết quả đạt được cũng như khó khăn, vướng
mắc trong việc triển khai công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương, tránh được
tình trạng điều hành, chỉ đạo trên giấy mà phải hướng đến chiều sâu và đi vào
thực tế.
Tháng 7/2015, phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã tham mưu
cho lãnh đạo Sở Tư pháp thành lập đoàn kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở tại
8/30 quận huyện, thị xã trên địa bàn Thành phố. Bản thân em là một chuyên viên
công tác tại phòng PBGDPL, được cử làm thành viên tham gia Đoàn kiểm tra.
Thông qua quá trình kiểm tra, em đã được nghe những chia sẻ thẳng thắn của các
cô, chú các bác hòa giải viên về các vấn đề trong hòa giải tại cơ sở, đồng thời
cũng tìm hiểu nắm được một số vụ việc tiêu biểu được hòa giải thành. Em đã lựa
chọn một vụ việc xây dựng thêm một số tình tiết, kết hợp những kiến thức về
quản lý nhà nướcđược trang bị qua khóa học Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà
nước chương trình chuyên viên tại lớp Chuyên viên K4A.2015 trường Đào tạo
cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội để viết thành tiểu luận cuối khóa học:
“Giải quyết vụ việc tranh chấp hợp đồng dân sự tại xã Y, huyện Z, thành
phố Hà Nội thông qua hòa giải ở cơ sở”.Đây là cơ hội tốt để bản thân em vận
dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, trên cơ sở đó tìm tòi, phân tích,
suy nghĩ đưa ra các giải pháp thiết thực phù hợp, đồng thời đúc rút kinh nghiệm

PHẦN 2. NỘI DUNG
2.1 Mô tả tình huống
Dựa trên phân công nhiệm vụ của UBND thành phố, vào tháng 7/2015,
phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã tham mưu cho lãnh đạo Sở Tư
pháp thành lập đoàn kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở tại 8/30 quận huyện, thị
xã trên địa bàn Thành phố. Bản thân em là một chuyên viên công tác tại phòng
PBGDPL, được cử làm thành viên tham gia Đoàn kiểm tra.Trong quá trình kiểm
tra tại huyện Z, Đoàn kiểm tra đã xuống xã Y kiểm tra thực tế công tác hòa giải ở
cơ sở tại địa phương. Khi kiểm tra tại xã Y, bên cạnh các thành công đạt được
như trong 6 tháng đầu năm như tỉ lệ hòa giải thành đạt trên 80%, thì các hòa giải
viên trong xã cũng đang gặp một số vụ việc tương đối phức tạp, ví dụ điển hình
là vụ việc tranh chấp hợp đồng dân sự về quyền tài sản, vụ việc như sau:
Ngày 26/6/2015, ông Nguyễn Văn C là tổ trưởng tổ hòa giải thôn X, xã Y
huyện Z, thành phố Hà Nội có nhận được đơn yêu cầu hòa giải vụ việc tranh
chấp hợp đồng dân sự của bà Nguyễn Thị A. Thông qua nội dung lá đơn và tìm
hiểu tình hình thực tế, ông C có thể tóm tắt vụ việc như sau:
Bà Nguyễn Thị A, 58 tuổi, ngụ tại số 01, đội 1, thôn X, xã Y, huyện Z
thành phố Hà Nội. Gia đình bà A có diện tích đất rộng hơn 300m2, thổ cư 100%,
được ông cha để lại. Vào tháng 10/2011, bà A có tiến hành xây dựng thêm 06
phòng trọ cùng 01 nhà cấp 4 trên phần đất của gia đình, trong đó căn nhà cấp 4
dược xây dựng trên phần đất 60m2 đã được bà tách riêng sổ và do bà đứng tên.
Sau khi hoàn thành công trình trên, 06 phòng trọ bà cho công nhân trong khu
công nghiệp gần nhà thuê còn căn nhà cấp 4 được bà sử dụng kinh doanh tạp
hóa; căn nhà cấp 4 này đã được UBND huyện cấp biển số nhà 01A .(sau đây gọi
tắt là nhà 01A).

4


Đến đầu năm 2015, bà A bị ngã gãy chân do tai nạn giao thông, sau một

giải với sự có mặt của cả anh B và bà A. Ông C đã giải thích cho bà A rằng theo
luật pháp hiện hành (cụ thể là Bộ luật dân sự 2005) quy định:“Quyền sở hữu đối
với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được
chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác” và “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản
được giao cho bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ
khi nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác”(theo Điều 439, 440 BLDS), tức
là tuy đã làm hợp đồng chuyển quyền sử dụng có công chứng nhưng khi bà A
chưa giao nhà cho anh A thì bà A vẫn là người có quyền sở hữu của căn nhà và
bà A phải chịu rủi ra cho việc cây đổ gây sập một phần căn nhà. Ông C đề nghị
đánh giá thiệt hại căn nhà sập, từ đó bà A sẽ sửa chữa căn nhà hoặc bồi thường
khoản tiền để anh B sửa chữa nhà sập. Bà A vẫn không chấp nhận cách giải thích
này vì theo bà sau khi ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng cho anh B và đã công
chứng theo đúng quy định cuả pháp luật thì giờ đây ngôi nhà thuộc sở hữu của
anh B và anh phải tự chịu chi phí sửa chữa; Bà A có viện dẫn theo khoản 5 –
Luật nhà ở 2005 (do vụ việc xảy ra trước ngày 01/7/2015 ngày bắt đầu có hiệu
lực của Luật nhà ở 2014 nên phải sử dụng các quy định trong Luật nhà ở 2005 để
giải quyết tranh chấp).
Sau khi hòa giải không thành, ông C đã thuyết phục 2 bên cho thêm thời
gian 03 ngày để ông tra cứu lại các văn bản pháp luật cũng như tìm phương án
giải quyết tốt nhất, đảm bảo quyền lợi của cả hai bên.
2.2 Xác định mục tiêu xử lý tình huống
 Giải quyết triệt để hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất giữa bà A và anh B theo đúng pháp luật hiện hành, hướng dẫn các bên
liên quan tiến hành các thủ tục đảm bảo quyền lợi ích của cả hai;
6


 Đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan, đồng thời cũng giải quyết
một cách thuyết phục giữ vững tình làng nghĩa xóm;

cố nghiêm trọng như sập nhà, chưa kịp thời tham mưu cho lãnh đạo UBND
hỗ trợ khắc phục hậu quả do mưa bão gây ra.
2.3.2 Hậu quả khi vụ việc không được hòa giải thành công
 Thứ nhất khi không thể hòa giải thành công vụ việc, bà A người bán căn nhà
chưa nhận dược khoản tiền còn lại trong hợp đồng, anh B người mua nhà thì
băn khăn, bức xúc không tập chung lao động, sản xuất; cả hai bên đều phải
tham gia tìm cách tháo gỡ đi đến thương lượng lại hoặc gửi đơn ra tòa, mất
nhiều thời gian và tốn kém tiền bạc;
 Thứ hai khi không giải quyết thành công vụ việc, làm mất uy tín của chính
quyền địa phương, làm mất lòng tin của nhân dân đối với công tác hòa giải
tại cơ sở; khó khăn trong việc triển khai công tác hòa giả ở cơ sở trong thời
gian sắp tới;
 Thứ ba khi hòa giải không thành, phải đưa vụ việc ra tòa án giải quyết sẽ làm
mất đoàn kết trong nhân dân, đặc biệt là giữa những người hàng xóm, đã có
thời gian đùm bọc, giúp đỡ nhau.
2.4 Xây dựng, phân tích và lựa chọn phƣơng án giải quyết
Để giải quyết triệt để tình huống trên, hòa giải viên cần phải tham khảo rất
kỹ lưỡng các văn bản pháp luật, các bộ luật để đưa ra một phương án giải quyết
đúng đắn, tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành mà vẫn đảm bảo giải
quyết thoả đáng cho bà A và anh B. Để xác định được các mấu chốt vấn đề cần
phải có một kiến thức pháp luật đủ sâu, đủ rộng, ngoài ra còn nắm được khả
năng phán quyết khi đưa vụ án ra tòa nhằm dễ dàng thuyết phục 2 bên khi hòa
8


giải. Hòa giải viên thông qua phòng tư pháp huyện Y liên hệ với phòng
PBGDPL – Sở Tư pháp để có được sự hỗ trợ về cơ sở pháp lý để giải quyết vụ
việc. Sau khi nghiên cứu những cơ sở pháp lý cùng các tình tiết liên quan đến vụ
việc, hòa giải viên Nguyễn Văn C đã đưa ra các phương án giải quyết như sau:
Phương án 1:

quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng
ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.
3. Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa
lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.
=>Theo khoản 1, căn nhà 01A chưa được chuyển giao cho anh B nên
quyền sở hữu vẫn thuộc về bà A nên bà phải có trách nhiệm bảo quản.
Điều 440. Thời điểm chịu rủi ro
1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho
bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận tài sản,
nếu không có thoả thuận khác.
2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng
ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký,
bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên
mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác.
=>Theo khoản 1, Bên bán là bà A phải chịu rủi ro (cây đổ làm sập căn
nhà) đối với tài sản mua bán là căn nhà cho đến khi tài sản được giao cho bên
mua (ở trường hợp này là việc bàn giao nhà cho anh B vào ngày 28/6/2015).
10


Căn cứ vào những cơ sở pháp lý trên yêu cầu của anh B là thỏa đáng, bà A
sẽ phải sửa lại phần nhà sập hoặc hỗ trợ chi phí sửa chữa tuy nhiên mức độ thiệt
hại cần được xác minh cụ thể.
 Ưu điểm:
o Có cơ sở pháp lý để giải quyết;
o Lợi ích các bên phần nào được giải quyết thoả đáng mà vẫn đảm bảo
được mối quan hệ tốt đẹp trước đây của các bên.
 Nhược điểm:
o Cơ sở pháp lý chưa thật sự đầy đủ;
o Có lợi ích của một bên bị xâm phạm;

o Có cơ sở pháp lý để giải quyết;
o Lợi ích của bên bán được đảm bảo toàn vẹn;
 Nhược điểm:
o Cơ sở pháp lý chưa thật sự đầy đủ;
o Lợi ích của bên mua tức Anh B bị xâm phạm nghiêm trọng;
o Khó nhận được sự đồng thuận từ bên mua tức anh B;
o Gây ra tâm lý bất ổn trong một bộ phận cộng đồng dân cư, đặc biệt là
nhóm dân cư nơi khác đến thuê nhà khi họ cho ràng có sự thiên vị
trong giải quyết mâu thuẫn với người địa phương.
Phương án 3:
 Nội dung phương án:
Căn cứ vào cơ sở pháp lý của 2 phương án trên (Điều 234, 289, 439, 440
Bộ luật dân sự 2005; Khoản 5, Điều 93 Luật nhà ở 2005) đồng thời vận dụng các
12


quy định trong Pháp lênh phòng, chống lụt, bão năm 1993 được bổ sung, sửa đổi
một số điều năm 2000:
Điều 24
Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải chủ động và tích cực tiến hành việc khắc phục hậu quả lụt,
bão nhằm giảm nhẹ thiệt hại do lụt, bão gây ra, nhanh chống ổn định đời sống
nhân dân, phục hồi sản xuất.
Điều 25 Việc khắc phục hậu quả lụt, bão bao gồm :
1- Cứu hộ người và tài sản;
2- Kịp thời cứu trợ, giúp đỡ và ổn định đời sống cho nhân dân vùng bị lụt, bão
gây thiệt hại;
3- Thực hiện các biện pháp để nhanh chóng phục hồi sản xuất;
4- Thực hiện vệ sinh môi trường sinh thái, chống dịch bệnh;
5- Sửa chữa các công trình phòng, chống lụt, bão và các công trình hạ tầng bị hư

o Lợi ích của các bên được đảm bảo gần như toàn vẹn, bà A chỉ phải hỗ trợ
50% chi phí sửa chữa nhà, thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu sửa chữa căn
nhà, anh B sau khi nhận khoản tiền hỗ trợ sửa chữa căn nhà từ bà A và sự
hỗ trợ khắc phục hậu quả lụt, bão của chính quyền địa phương gần như
không tốn chi phí sửa chữa căn nhà;
o Cho thấy năng lực cũng như tinh thần làm việc tận tuỵ của những hòa giải
viên ở cơ sở, những người “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”.
 Nhược điểm:
o Tốn nhiều thời gian, công sức;
14


o Hòa giải viêc phải thực sự có tinh thần trách nhiệm, có sự kiên trì;
o Đòi hỏi trình độ am tường pháp luật của hòa giải viên phải thực sự sâu, có
kỹ năng hòa giải tốt.
Lựa chọn phương án giải quyết:
Trong 03 phương án trên, tôi lựa chọn phương án 3 vì:
 Phương án 3 đáp ứng được nhiều mục tiêu hơn cả:
o Giải quyết triệt để vụ việc theo quy định của pháp luật hiện hành;
o Đảm bảo quyền và lợi ích của hai bên liên quan, bà A chỉ phải hỗ trợ 50%
số tiền thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu sửa chữa căn nhà, anh B sau khi
nhận khoản tiền hỗ trợ sửa chữa căn nhà từ bà A và sự hỗ trợ khắc phục
hậu quả lụt, bão của chính quyền địa phương gần như không tốn chi phí để
sửa chữa căn nhà;
o Giải quyết vụ việc một cách hết sức thuyết phục, giữ vững tình làng nghĩa
xóm;
o Thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy của những hòa giải viên, khẳng
định sự đúng đắn của đảng và nhà nước về chủ trương, chính sách hòa giải
ở cơ sở, nâng cao uy tín của tổ hòa giải.
 Trong khi đó phương án 1 và 2 chỉ đáp ứng được mục tiêu giải quyết đúng


Tiến hành hòa giải

Tổ hòa giải 01 ngày

trực tiếp với sự có

thôn X;

mặt của cả hai bên
trong vụ việc (có thể
mời thêm đại diện
MTTQ tại địa
1

Chủ thể
thực hiện

phương ). Dựa trên

Bà Nguyễn
Thị A; Ông
Nguyễn
Văn B

Điều kiện
cơ sở vật
chất, kinh
phí thực
hiện


pháp luật

phương án 3. Ký kết
16

địa

hóa

giải

nhất giải quyết theo

diện

tại UBMTTQ

hòa

hiểu rõ đi đến thống

Giám sát,
kiểm tra
thực hiện


biên bản hòa giải
thành.
Tiến hành đánh giá Tổ hòa giải 1/2 ngày

thôn

thực hiện các cam kết

X;

trong biên bản hòa
giải

Ông
Nguyễn

dẫn

ông Tổ trưởng 1/2 ngày

Nguyễn Văn B liên tổ hòa giải
hệ với cán bộ phụ thôn X và
trách phòng chống đại
lụt,

0

Văn B

Hướng

4



khăn trong hòa giải
nên tiến hành tổng
kết rút kinh nghiệm,
có cách hòa giải phù
hợp khi gặp vụ việc
tương tự

18



….

….


PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tình huống được nêu ở trên là một tình huống nhỏ, tuy nhiên rất thường
xuyên xảy ra trong thực tế. Đã từng có một vài vụ việc có tình tiết gần giống như
trên đã xảy ra ở các địa phương trong cả nước và đã có rất nhiều cách giải quyết
gây tranh cãi của các cán bộ liên quan.
Tuy là tình huống nhỏ, nhưng ta thấy được những hậu quả không nhỏ nếu
như vấn đề không được giải quyết thấu đáo và thoả đáng, dẫn đến những hệ quả
không lường trước được trong đời sống xã hội.Việc giải quyết có tình có lý của
hòa giải viên được nêu trong tình huống cho thấy được sự công tâm, tận tuỵ, có
trách nhiệm với cương vị mà họ được nhà nước tin tưởng, giao phó.
Thông qua vụ việc trên, chúng ta vẫn thấy được hệ thống pháp luật của
nước CHXHCN Việt Nam vẫn còn chồng chéo, phức tạp gây ra rất nhiều khó
khăn cho không những là người dân mà còn cho cả các cán bộ quản lý. Những
tình huống phức tạp xảy ra sẽ gây lúng túng trong vấn đề giải quyết và nếu giải



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status