TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ
LÊ HỒNG PHONG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K3A-2015
----------
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Xử lý tình huống “Xử phạt vi phạm hành chính đối
với vụ việc buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”
Họ và tên: VŨ THU THỦY
Chức vụ: Chuyên viên
Đơn vị: Đội QLTT số 33
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
1
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập với thế giới hiện nay, Việt Nam đã và đang thể
hiện được vị trí của mình trên đấu trường quốc tế cũng như thiết lập được nhiều
mối quan hệ với các quốc gia khác trên toàn cầu. Việc gia nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO vào năm 2007 của Việt Nam là một bước ngoặt lớn thể hiện
sự chuyển mình của đất nước, sự đổi mới trong tư duy của những nhà lãnh đạo
và mở ra hướng đi mới, cuộc chơi mới, đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho
các doanh nghiệp trong nước. Qua 8 năm là thành viên WTO, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng mừng, và là dự bứt phá ngoạn mục của cả chính
quyền và người dân. Việt Nam đã thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài nhờ môi
trường ổn định, minh bạch. Kim ngạch xuất khẩu tăng; nền kinh tế vĩ mô được
ổn định, tạo điều kiện để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; công nghiệp – dịch vụ phát triển mạnh mẽ; sự ra đời của các trung tâm
Thuốc lá là một trong số những mặt hàng độc hại gây ra các bệnh về
đường hô hấp như ung thư vòm họng, viêm phế quản, hen suyễn, nguy cơ ung
thư phổi rất cao, gây xơ vữa động mạch và nhiều căn bệnh nguy hiểm khác. Mặt
hàng này hiện đã và đang được buôn lậu ngày càng nhiều vào thị trường Việt
Nam. Hiện nay thuốc lá nhập lậu vào thị trường Việt Nam đang gia tăng nhanh
chóng. Theo số liệu khảo sát năm 2012 của Trung tâm Thuế và Đầu tư Quốc tế
và tổ chức Oxford Economics, Việt Nam là thị trường tiêu thụ thuốc lá lậu lớn
thứ 2 trong số 11 quốc gia Châu Á được khảo sát. Riêng năm 2013, khoảng 17
tỷ điếu thuốc lá nhập lậu vào thị trường Việt Nam; 2 tháng đầu năm 2014, thuốc
lá lậu tăng 43% so với cùng kỳ năm 2013. Thuốc lá nhập lậu đã tác động xấu
đến nhiều mặt kinh tế và xã hội của đất nước: Lấy đi 20% thị phần thuốc lá điếu
nội địa. Năm 2012 thuốc lá lậu làm thất thu ngân sách nhà nước 6.500 tỷ đồng,
tương đương 309 triệu USD; Làm mất sản lượng nguyên liệu: 18.000 tấn/năm
(tương đương diện tích trồng là 10.000 hecta); Mất việc làm của nông dân: 5
triệu công lao động/năm, mất việc làm của công nhân: 600.000 công lao
động/năm; và hàng trăm nghìn lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ
liên quan. Đối phó với vấn đề này, nhiều năm nay các lực lượng chức năng đã
3
quyết liệt thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành tập trung kiểm tra, xử
lý buôn lậu, buôn bán, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu trên các tuyến biên
giới và trong nội địa. Tình hình buôn lậu, buôn bán vận chuyển thuốc lá điếu
vẫn diễn biến phức tạp với những phương thức, thủ đoạn hoạt động tinh vi và đa
dạng hơn. Đối tượng đầu nậu, người vận chuyển hình thành những đường dây
liên huyện, liên tỉnh, xuyên quốc gia, móc nối giữa trong nước với nước ngoài.
Tại khu vực biên giới và trên đường vận chuyển vào nội địa, đối tượng đầu nậu
tổ chức đường dây rất tinh vi, điều hành chặt chẽ, sử dụng các thủ đoạn thuê
người vận chuyển, đa số là dân thường, với phương thức chủ yếu là vận chuyển
trên đồng ruộng, sông rạch. Trong thị trường nội địa, thuốc lá lậu tuy không còn
điểm cuối năm 2014.
5. Kết cấu tiểu luận
Phần I: Lời nói đầu
1. Tính tất yếu của đề tài nghiên cứu
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Kết cấu tiểu luận
Phần II: Nội dung
1. Mô tả tình huống
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống
3. Nguyên nhân, hậu quả
4. Phương án giải quyết
5. Xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện
Phần III: Kết luận và kiến nghị
5
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Mô tả tình huống
Ngày 24 tháng 12 năm 2014, Đội QLTT số 33 Quận Bắc Từ Liêm, Hà
Nội nhận được Báo cáo đề xuất phối hợp thực hiện của Đội CSPCTP về Môi
trường – Công an Quận Bắc Từ Liêm về một vụ việc về kinh doanh thuốc lá lậu
của đối tượng Lê Thị Liên, cửa hàng số 46 Phạm Văn Đồng, kho tại số 9 ngõ
85/69 Tân Xuân, Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Qua điều tra, trinh sát, cán
bộ trinh sát phát hiện quy luật hoạt động như sau:
- Thời gian nhập xuất hàng thường từ 8h30 sáng, 13h30 chiều và 17h45 tối;
- Phương tiện vận chuyển bằng xe máy nhưng thường xuyên thay đổi biển số xe;
- Nơi cất giữ, tập kết là kho tại tầng 2 của số 46 Phạm Văn Đồng và kho tại số 9
không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc hàng hóa bao gồm các nhãn:
- Mazlboro (trắng): 80 bao (20 điếu/bao);
- Hero:
70 bao (20 điếu/bao);
- 555 (Gold):
180 bao (20 điếu/bao);
- ESSE (đen):
70 bao (20 điếu/bao);
- ESSE (đỏ):
70 bao (20 điếu/bao);
- ESSE (xanh):
80 bao (20 điếu/bao);
- ZEST :
10 bao (20 điếu/bao);
Chủ kinh doanh – ông Hợp trình bày do thuốc lá điếu do Việt Nam sản
xuất bán chậm, ít người mua nên ông nhập với số lượng ít, đồng thời nhập thêm
một số thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất để kiếm thêm thu nhập. Toàn bộ số
thuốc lá ngoại trên ông mua trôi nổi trên thị trường, không có hóa đơn chứng từ
kinh doanh của cửa hàng ông. Ông Hợp thừa nhận hành vi kinh doanh không có
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, kinh doanh thuốc lá mà không có giấy
phép kinh doanh bán lẻ thuốc lá, kinh doanh thuốc lá điếu do nước ngoài sản
xuất là hàng nhập lậu. Trị giá các mặt hàng thuốc lá điếu ngoại tạm giữ là
10.905.000 đồng (Mười triệu chín trăm linh năm nghìn đồng).
8
Căn cứ kết quả kiểm tra và buổi làm việc ngày 26/12/2014, Tổ công tác
thuộc Đội QLTT số 33 kết luận:
Cửa hàng kinh doanh thuốc lá do ông Lê Mạnh Hợp làm chủ kinh doanh tại địa
chỉ số : 46 đường Phạm Văn Đồng. Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm, Hà Nội đã có các
hành vi vi phạm pháp luật sau:
- Kinh doanh thuốc lá điếu do Việt Nam sản xuất không có giấy chứng nhận
dăng ký kinh doanh vi phạm: Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP
ngày 05/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp;
- Kinh doanh bán lẻ thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất không có giấy phép
kinh doanh bán lẻ vi phạm: Khoản 3, Điều 26, Nghị định 67/2013/NĐ-CP ngày
27/6/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật phòng chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá;
- Kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng 560 bao vi phạm:
số thứ tự 19, mục A, Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính
phủ.
Dựa trên kết luận trên, Tổ công tác đã lập Biên bản vi phạm hành chính số
0037168/BB-VPHC ngày 26/12/2014 về các hành vi vi phạm nói trên.
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống:
Nhằm giải quyết các vấn đề do tình huống đề ra, đồng thời góp phần tăng
cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, tính đúng đắn trong sử dụng các văn bản quy
phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, và
đảm bảo trật tự an toàn xã hội, việc giải quyết một số vấn đề đặt ra dưới đây sẽ
điều kiện. Tổ chức, cá nhân mua bán, chế biến, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá;
sản xuất, mua bán, nhập khẩu thuốc lá phải có giấy phép do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp”. Như vậy, muốn kinh doanh thuốc lá, người kinh doanh
phải có giấy phép mua bán sản phẩm thuốc lá do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp. Cụ thể trong tình huống này, hành vi bán lẻ thuốc lá điếu mà không
có giấy phép bán lẻ do Phòng Kinh tế - UBND Quận Bắc Từ Liêm cấp là hoàn
toàn trái pháp luật. Với hành vi trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng
10
Điểm a, Khoản 4, Điều 7 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.
c, Với hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng
560 bao thì áp dụng chế tài nào để xử lý?
Đối với hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điế
nhập lậu với số lượng 560 bao, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng Điểm
g, Khoản 1, Điều 25 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.
d, Liệu rằng các chế định, văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng trong
kết luận của Tổ công tác Đội QLTT số 33 và trong biên bản vi phạm hành
chính đã hoàn toàn phù hợp với các hành vi vi phạm và đúng quy định của
pháp luật?
- Đối với hành vi vi phạm pháp luật không có giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng ở đây là hoàn toàn phù hợp về
nội dung và tính chất của hành vi vi phạm.
- Đối với hành vi vi phạm kinh doanh bán lẻ thuốc lá điếu do Việt Nam sản xuất
mà không có giấy phép kinh doanh bán lẻ, văn bản quy phạm pháp luật được sử
dụng ở đây là Nghị định 67/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ, cụ thể
là khoản 3 Điều 26. Khoản 3 Điều 26 Nghị định 67/2013/NĐ-CP quy định về
09/2013/QH13 quy định rõ: “Kinh doanh thuốc lá là ngành nghề kinh doanh có
điều kiện. Tổ chức, cá nhân mua bán, chế biến, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá;
sản xuất, mua bán, nhập khẩu thuốc lá phải có giấy phép do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp”. Hành vi kinh doanh bán lẻ thuốc lá điếu mà không có giấy
phép kinh doanh vi phạm rõ ràng Khoản 1, Điều 19 Luật Phòng chống tác hại
của thuốc lá số 09/2013/QH13.
Như vậy, sử dụng Khoản 1, Điều 19 Luật Phòng chống tác hại của thuốc
lá số 09/2013/QH13 làm căn cứ pháp lý để xác định hành vi vi phạm là đầy đủ,
chi tiết và phù hợp hơn Khoản 3, Điều 26, Nghị định 67/2013/NĐ-CP về nội
dung và tính chất của hành vi.
12
- Đối với hành vi vi phạm thứ 3, việc sử dụng Nghị định số 43/2009/NĐ-CP
ngày 7/5/2009 của Chính phủ là phù hợp. Tuy nhiên Biên bản vi phạm hành
chính số 0037168/BB-VPHC ngày 26/12/2014 của Đội QLTT số 33 có kết luận
hành vi vi phạm của đối tượng như sau: Kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu
nhập lậu (số lượng 560 bao) vi phạm: số thứ tự 19, mục A Nghị định số
43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ (Nghị định sửa đổi bổ sung danh
mục hàng hóa dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày
12/6/2006). số thứ tự 19, mục A Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009
của Chính phủ là hoàn toàn sai do Nghị định số 43/2009/NĐ-CP chỉ gồm 2 Điều
và không có số thứ tự 19, mục A. Cụ thể điều 1 Nghị định này nêu:
“Bổ sung số thứ tự 19 (thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm
khác nhập lậu) vào Mục A của Phụ lục I trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm
kinh doanh (ban hành kèm theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm
2006 của Chính phủ), như sau:
STT
Tên hàng hóa, dịch vụ
phạm: Điều 1, Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của
Chính phủ (Nghị định sửa đổi bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh
doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi
hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh
doanh và kinh doanh có điều kiện)”.
13
e, Hành động ập vào kho tại số 85/69 Tân Xuân, Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm,
Hà Nội là có đúng quy định của pháp luật về quy trình kiểm tra việc chấp
hành pháp luật và khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính của lực lượng quản lý thị trường?
Điều 129 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng
6 năm 2012 nêu rõ những quy định chung về việc thực hiện khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Cụ thể:
“Điều 129. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được tiến
hành khi có căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính.
2. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền
quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trong
trường hợp nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chỗ ở thì đề
nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định.
3. Khi khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có mặt
người chủ nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng
kiến. Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình
họ vắng mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền
và 02 người chứng kiến.
4. Không được khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào
ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám đang được thực hiện mà chưa
a, Nguyên nhân
Xảy ra vụ việc kể trên và các vấn đề nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ
việc là do một số các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Sự thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật của chủ kinh doanh. Chủ kinh
doanh mặc dù biết là khi kinh doanh một loại mặt hàng nào đó đều phải đăng ký
kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng lại không thực hiện hoạt
động đó. Thêm vào đó, kinh doanh mặt hàng thuốc lá là mặt hàng kinh doanh có
điều kiện,
15
- Sự thiếu hiểu biết, hiểu chưa trọn vẹn vấn đề của người kiểm soát viên thị
trường. Việc áp dụng chưa đúng và chưa chuẩn xác văn bản quy phạm pháp luật
xuất phát từ việc nghiên cứu chưa kỹ văn bản cần áp dụng, không cẩn thận trong
việc trích dẫn văn bản. Chính điều này làm giảm tính pháp lý của các ấn chỉ của
lực lượng QLTT, đặc biệt trong trường hợp này là Biên bản VPHC.
- Sự thiếu trách nhiệm và không nắm vững quy trình nghiệp vụ của người đứng
đầu; trách nhiệm của trinh sát viên trong việc điều tra thu thập thông tin về hoạt
động của đối tượng tình nghi.
b, Hậu quả
- Gây ra thiệt hại về kinh tế cho cả cơ quan nhà nước và người vi phạm pháp
luật;
- Uy tín của cơ quan nhà nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng, giảm sút lòng tin của
người dân vào chính quyền và pháp luật của nhà nước;
- Tính nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa bị ảnh hưởng;
- Biểu hiện ra ngoài sự yếu kém trong dịch vụ công;
4. Xây dựng phương án và lựa chọn phương án giải quyết tình huống
a, Phương án 1
- Xây dựng đề xuất xử lý vi phạm hành chính đối với đối tượng nên trên. Cụ thể:
1. Phạt tiền: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) với hành vi hoạt
a, Khoản 4, Điều 7 Nghị định số 185/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.
3. Phạt tiền: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đối với hành vi
vi phạm về kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng 560 bao;
Áp dụng: Điểm g, Khoản 1, Điều 25 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày
15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương
mại.
Tổng mức phạt tiền: 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng)
17
* Hình thức phạt bổ sung:
Tịch thu toàn bộ số hàng hóa nhập lậu theo Biên bản tạm giữ số
0032271/BB-TGTV ngày 21/12/2014 của Đội QLTT số 33. Áp dụng Điểm a,
Khoản 3, Điều 25 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.
- Hoàn thiện hồ sơ chuyển Chi cục QLTT Hà Nội ra Quyết định xử phạt VPHC
theo thẩm quyền.
- Sau khi Chi cục QLTT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đối
tượng nêu trên, Tổ công tác thuộc Đội QLTT số 33 tiến hành Chuyển giao lại số
hàng hóa tịch thu cho Phòng Nghiệp vụ tổng hợp Chi cục QLTT Hà Nội để tiến
hành tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
c, So sánh các phương án
Cả 2 phương án đều có tính khả thi, áp dụng đúng các quy định của pháp
luật trong việc xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Phương án 1 đúng nhưng
chưa thật đầy đủ, phương án này mới chỉ sử dụng phạt hành chính mà không có
hình thức phạt bổ sung đối với mặt hàng cần tịch thu và tiêu hủy là thuốc lá.
Phương án 2 đầy đủ, chính xác và đáp ứng được nhiều yêu cầu về mục
tiêu xử lý hơn phương án 1 về trình tự và các hình thức xử phạt để ngăn chặn
triệt để hành vi vi phạm.
chú
2
Rà soát lại toàn bộ quá
trình kiểm tra, lập biên
bản để tìm ra sai sót
(nếu có) báo cáo giải
trình với Ban Chỉ huy
Đội QLTT 33.
3
4
5
6
7
8
Tổ công tác,
Ban Chỉ huy
Đội
Trụ sở Đội
QLTT 33
Trụ sở Đội
QLTT 33,
Trụ sở Chi
cục QLTT
Hà Nội
Trụ sở Chi
cục QLTT
Hà Nội
Trụ sở Chi
cục QLTT
Hà Nội
Địa điểm
kinh doanh
cửa hàng
thuốc lá điếu
Kho bạc
Nhà nước
Trụ sở Đội
QLTT 33
½ ngày
Chuyển Biên lai nộp tiền ½ ngày
phạt
Tiến hành lập Biên bản 1 ngày
Tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm
hành chính, cụ thể ở đây
là số thuốc lá nhập lậu
phụ trách của Phòng
nghiệp vụ Tổng hợp –
Chi cục QLTT Hà Nội
Nghiệp vụ
QLTT Hà
tổng hợp Chi Nội
cục QLTT Hà
Nội
20
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong nhiều năm qua, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều đã
nhận ra được tác hại vô cùng lớn của thuốc lá tới đời sống của người dân, đặc
biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của trẻ nhỏ, gây ra sự suy giảm
chất lượng giống nòi. Vì vậy chính phủ các nước đã và đang tích cực đấu tranh
chống lại sự phát tán của loại chất kích thích độc hại này tới đời sống của người
dân thông qua các hoạt động tuyên truyền, xử lý nghiêm minh hơn nữa các hoạt
động buôn bán trái phép thuốc lá.
Lực lượng Quản lý thị trường được Chính phủ giao cho nhiệm vụ quản lý
hoạt động thương mại đối với mặt hàng này. Trong quá trình quản lý, lực lượng
Quản lý thị trường đã thực hiện tương đối tốt chức năng nhiệm vụ của mình
trong việc đảm bảo hoạt động thương mại diễn ra đúng quy trình và đúng pháp
luật, thường xuyên rà soát, phát hiện và xử lý các vụ việc liên quan tới việc buôn
lậu thuốc lá điếu ngoại. Tuy nhiên trong quá trình thi hành pháp luật cũng gặp
không ít khó khăn xuất phát từ chủ quan nội bộ nhân lực cũng như từ những tác
nhân khách quan bên ngoài. Vì vậy để khắc phục những tồn tại cũng như phát
huy những mặt tích cực, tôi xin có một số kiến nghị sau:
22