TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƢỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K6A - 2015
--- ---
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: XỬ LÝ TÌNH HUỐNG HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT
ĐAI
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: LƢU THỊ THANH HUYỀN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: UBND PHƢỜNG THANH TRÌ –
QUẬN HOÀNG MAI – HÀ NỘI
Hà Nội, tháng 11 năm
2015
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT
Lời nói chung
1
1. Lý do lựa chọn đề tài
2
2. Mục tiêu của đề tài
2
4.1. Phương án 1
8
4.2. Phương án 2
8
4.3. Phương án 3
9
4.4. Lựa chọn phương án giải quyết
9
5. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện phương án giải quyết tình huống
5.1. Lập kế hoạch giải quyết tình huống
10
5.2. Căn cứ pháp lý giải quyết tình huống
12
5.3. Cách thức hòa giải
12
5.4. Diễn biến tổ chức thực hiện hòa giải
khít, bền chặt, chi phối, đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi đa dạng của mỗi người dân sao
cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi người
dân. Chính quyền phường là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện những thắc mắc, bức
xúc của nhân dân, đồng thời cũng là nơi trực tiếp thu nhận, lắng nghe các ý kiến
đề xuất, kiến nghị của nhân dân để giải quyết hoặc phản ánh lên các cơ quan cấp
trên và đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết những vướng mắc của nhân
dân.
Phường Thanh Trì là một trong 9 xã của huyện Thanh Trì được chuyển lên
thành phường vào quận mới - quận Hoàng Mai theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP
ngày 06/11/2003 của Chính phủ. Vì vậy trong mối quan hệ cộng đồng vẫn còn
mang tính làng xã, tình cảm vẫn gắn bó, sống “Tối lửa tắt đèn” có nhau.
Từ xa xưa ông cha ta đã có câu “Tấc đất, Tấc vàng”. Ngày nay với dân số
ngày càng tăng lên, diện tích đất tính trên đầu người ngày càng thấp, nhất là ở
những Thành phố, chúng ta càng thấm thía : “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
1
trường sống”.
Trong những năm trở lại đây, do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, tốc
độ đô thị hoá nhanh, đất đai trở lên có giá thì mâu thuẫn, tranh chấp về đất đai,
nhà ở có nhiều lúc, nhiều nơi trở lên bức xúc. Đã có không ít từ quyền lợi về đất
đai đã trở thành mâu thuẫn, phát sinh thành các tranh chấp dân sự, rất cần phải
hoà giải.
Hòa giải là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả
thuận, tự nguyện giải quyết với nhau nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân
dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Hòa giải là biện pháp
quan trọng và tích cực nhằm giải quyết các tranh chấp về dân sự nói chung và về
tranh chấp đất đai nói riêng. Hòa giải phát huy truyền thống đoàn kết sẵn có của
dân tộc ta, nâng cao sự hiểu biết về pháp luật của nhân dân, hòa giải còn giúp các
- Phần thứ hai: Nội dung
1. Mô tả tình huống
2. Mục tiêu xử lý tình huống
3. Phân tích nguyên nhân và giải quyết hậu quả
4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết
5. Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn
- Phần thứ ba: Kết luận và kiến nghị
3
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
1. Mô tả tình huống
Cụ Hoàng Văn Tân và vợ là cụ Nguyễn Thị Lan là chủ sử dụng hợp pháp
02 thửa đất, cụ thể:
Thửa đất thứ nhất tại khu dân cư Tân thành - phường Thanh Trì thuộc tờ
bản đồ số 14; thửa số 30; diện tích 120m2;
Thửa đất thứ hai tại Khu dân cư Bãi - phường Thanh Trì thuộc tờ bản đồ số
8; thửa số 29; diện tích 665m2.
Cụ Tân và cụ Lan sinh được 06 người con gồm 2 trai và 4 gái cụ thể là các
các ông bà sau :
Ông Hoàng Văn Hà
Con trai Trưởng
Bà Hoàng Thị Minh
Con gái Thứ hai
Bà Hoàng Thị Thuỷ
chuộc lại diện tích 257m2 đất mà cụ Tân đặt cho ông Hùng năm 1990.
Năm 1991 UBND huyện Thanh Trì cáp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho cụ Tân thửa đất số 29, tờ bản đồ số 8, diện tích 665m2 mang tên cụ Hoàng
Văn Tân.
Năm 1992 cụ Tân chết không để lại di chúc. Toàn bộ thửa đất số 29, tờ bản
đồ số 8, diện tích 665m2 do vợ chồng bà Minh sử dụng và quản lý.
Năm 1999 Nhà nước lấy đất làm đường thượng hạ lưu đê Hữu Hồng và có
thu hồi toàn bộ diện tích đất của gia đình ông Hà và ông Năm để làm đường. Ông
Hà và ông Năm được Nhà nước bố trí khu đất tái định cư Đầm Ấu mỗi người là
40m2 đất.
Năm 2000 ông Năm làm nhà trên đất tái định cư, còn ông Hà bán phần đất
Nhà nước bố trí tái định cư cùng vợ là bà Nguyễn Thị Trang và con trai là Hoàng
Văn Dũng về khu đất ở khu dân cư Bãi do bà Minh đang quản lý để làm nhà ở với
diện tích là 80m2 trên tổng số diện tích 665m2.
Tháng 8 năm 2014 ông Hà ốm nặng và chết.
Ngày 14/9/2014 các con cụ Tân và cụ Lan gồm :
Bà Hoàng Thị Minh
Con gái Thứ hai
Bà Hoàng Thị Thuỷ
Con gái Thứ ba
Bà Hoàng Thị Thảo
Con gái Thứ tư
Ông Hoàng Văn Năm
- Xử lý dứt điểm đơn đề nghị của người dân theo đúng thẩm quyền;
- Giải quyết đơn đảm bảo đúng pháp luật, hợp lý, hợp tình, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người dân;
- Củng cố lòng tin của người dân với chính quyền địa phương.
3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
3.1. Nguyên nhân:
Đây là vụ tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất giữa con trai, các con
gái cụ Tân, cụ Lan với con dâu cả và cháu nội của cụ Tân, cụ Lan. Vụ việc mâu
thuẫn trên do các nguyên nhân sau :
3.1.1. Nguyên nhân khách quan:
- Do tốc độ đô thị hóa nhanh nên đất đai ngày càng có giá trị cao;
- Do sự hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế;
3.1.2. Nguyên nhân chủ quan:
- Quan hệ giữa bà Trang - con dâu trưởng của cụ Tân với con trai, các con
gái cụ Tân, cụ Lan là không tốt vì vậy khi xảy ra mâu thuẫn tất cả con trai, con gái
cụ Tân đứng về một phía, phía bên kia là mẹ con bà Trang. Đã nhiều lần anh
Dũng - con trai bà Trang và ông Hà có những hành vi xử sự không nên, không
6
phải với các cô, các chú của mình, nhất là với vợ chồng bà Minh. Do đó biên bản
họp gia đình các con cụ Tân không cho mẹ con bà Trang tham gia.
- Ông Năm, bà Minh, bà Thuỷ, bà Thảo, bà Giang - con trai, con gái cụ Tân
cho rằng phần đất cụ Tân, cụ Lan ở khu dân cư Tân Thành (120m2 đất) đã chia
cho 02 người con trai là ông Hà và ông Năm mỗi người 60m2 đất, vì vậy phần đất
665m2 đất ở Khu dân cư Bãi, ngoài phần trả 257m2 đất cho bà Minh - người đã
chuộc của ông Hùng năm 1991 thì phải được chia đều bằng nhau, trong đó bà
Minh cũng được một phần. Bà Trang đã làm nhà trên diện tích 80m2 đất là đã sử
dụng hơn phần được hưởng nên bà Trang phải phá gian buồng có diện tích 20m2
trả lại cho các ông Năm, bà Minh, bà Thuỷ, bà Thảo, bà Giang.
giải thành
- Ưu điểm:
Các bên vẫn giữ được tình đoàn kết, củng cố mối quan hệ trong gia đình,
đùm bọc, giúp đỡ nhau, xây dựng xã hội bình yên, góp phần giữ gìn an ninh trật
tự, an toàn xã hội, góp phần hạn chế đơn thư, khiếu kiện trong nhân dân, giúp cho
chính quyền giảm bớt việc giải quyết đơn thư, khiếu kiện đông người và hình
thành trong mỗi cá nhân ý thức chấp hành pháp luật.
Các bên không phải khởi kiện ra toà án nhân dân vừa mất thời gian, vừa tốn
kém tiền bạc. Quá trình thực hiện do các bên tự định đoạt theo nội dung đã thoả
thuận, thống nhất.
- Hạn chế:
Có thể mất nhiều thời gian của cán bộ từ tổ dân phố đến phường vì phải đi
lại nhiều lần, gặp gỡ từng người để tuyên truyền, phân tích, giải thích hướng cho
các bên thống nhất được với nhau, tự thỏa thuận với nhau cách phân chia thừa kế,
về khối tài sản là đất của mỗi người được hưởng. Do đó có thể người này được
nhiều, người kia được ít hơn, không bằng nhau.
4.2. Phương án 2: Tổ chức hòa giải không thành nhiều lần - Tức là cứ có
đơn thì tổ chức hòa giải theo nhiệm vụ được phân công và để mặc cho các bên
tranh chấp tranh cãi nhau bảo vệ quyền lợi của mình, không hòa giải được.
- Ưu điểm:
Lợi thế cho cán bộ phường là chỉ tổ chức hòa giải đúng thời gian, trình tự
8
theo quy định mà không phải mất thời gian, công sức để gặp gỡ, tìm hiểu, phân
tích, hướng dẫn những người có quyền và lợi ích liên quan cũng như hướng cho
các bên thống nhất được với nhau.
- Hạn chế:
Kết quả là không hòa giải được, không thống nhất được cách giải quyết hợp
tình, hợp lý với nhau từ đó đơn thư của người dân sẽ kéo dài vì chưa đạt được kết
nước.
5. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện phƣơng án giải quyết tình huống
5.1. Lập kế hoạch giải quyết tình huống
NỘI DUNG CÔNG VIỆC
TT
1.
THỜI GIAN
THỰC
HIỆN
CHỦ THỂ
THỰC HIỆN
Chuẩn bị hòa giải
1.1. - Xem nội dung đơn và thông báo cho 03 ngày, kể
Cán bộ Tư pháp
các bên tranh chấp biết, đồng thời xác từ ngày nhận
phường (Là Tổ
định thời gian tổ chức hòa giải
trưởng tổ tiếp
- Thu thập các giấy tờ, tài liệu có liên
đạo khu dân cư,
quan do các bên cung cấp;
tổ dân phố
1.3. Dự kiến:
- Thời gian, địa điểm tổ chức hòa giải;
1/2 ngày
Cán bộ Tư pháp
1/2 ngày
Cán bộ Tư pháp
- Thành phần tham dự hòa giải.
1.4. Viết và gửi giấy mời
10
2.
Tổ chức hòa giải
07 - 10 ngày
nguyện thỏa thuận giải quyết các mâu
(Chủ trì hòa giải)
thuẫn về quyền lợi của các bên
2.4 Ý kiến của các bên tranh chấp
30 - 45 phút
Các bên có tranh
chấp
2.5 Ý kiến của các đồng chí tham gia buổi 15 - 30 phút
hòa giải
Các thành phần
tham gia hòa giải
2.6 Ý kiến của đồng chí Chủ tịch UBND
15 phút
phường - Chủ trì buổi hòa giải
Chủ tịch UBND
phường
2.7 Biên bản hòa giải được lập xong, lấy
5 phút
Ghi chỳ: Trng hp mt trong cỏc bờn tranh chp vng mt, cỏn b hũa
gii lp biờn bn v s vng mt. ng thi xỏc nh thi gian t chc li vic
ho gii. Biờn bn phi ghi rừ vic vng mt cú hoc khụng cú lý do v phi cú
ch ký ca cỏc thnh viờn trong bui ho gii.
5.2. Cn c phỏp lý gii quyt tỡnh hung
- Lut t chc HND v UBND ngy 26 thỏng 11 nm 2003;
- B lut dõn s nm 2005;
- Lut t ai nm 2013;
- Lut hũa gii c s nm 2013;
- Ngh nh s 43/2014/N-CP ngy 15/5/2014 ca Chớnh ph quy nh chi
tit thi hnh mt s iu ca Lut t ai;
- Phỏp lnh s 10/2009/UBTVQHQH12 ngy 27/02/2009 v ỏn phớ, l phớ
tũa ỏn;
- Ngh quyt s 01/2012/NQ-HTP ngy 13/6/2012 ca Hi ng thm
phỏn Tũa ỏn nhõn dõn ti cao v hng dn ỏp dng mt s quy nh ca Phỏp
lnh v ỏn phớ, l phớ tũa ỏn;
- Ngh nh s 15/2014/N-CP ngy 27/02/2014 quy nh chi tit mt s
iu v bin phỏp thi hnh Lut hũa gii c s;
- Ch th s 03/CT-BTP ngy 27/6/2011 ca B T phỏp v tng cng
cụng tỏc hũa gii c s.
5.3. Cỏch thc hũa gii
Bằng lời nói kết hợp lập biên bản ghi nhận các ý kiến của các bên. Tuỳ tình
hình diễn biến, có thể cử cán bộ UBND Ph-ờng có uy tín, có trình độ tiến hành
gặp gỡ từng bên để h-ớng dẫn, thuyết phục từng bên , cuối cùng để các bên gặp gỡ
trao đổi, thoả thuận giải quyết với nhau. Sau khi tìm hiểu sự việc, nguyên nhân
phát sinh mâu thuẫn, tham khảo các ý kiến của những ng-ời có liên quan, lắng
nghe ý kiến các bên, cán bộ ph-ờng phân tích, thuyết phục các bên đạt đ-ợc thoả
thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của
nhân dân và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó.
12
13
- Ngày 17/11/2014 UBND phường tổ chức buổi hòa giải tranh chấp về thừa
kế giữa các con, cháu cụ Tân, cụ Lan.
Cũng như lần 1, lần 2 mẹ con bà Trang cũng không đến theo giấy mời của
UBND phường. Do đó UBND phường lập biên bản không hòa giải được. Đồng
thời sao gửi biên bản “hoà giải không thành” và hướng dẫn các bà Minh, bà Thuỷ,
bà Thảo, bà Giang, ông Năm có thể làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân quận
Hoàng Mai giải quyết dứt điểm vụ việc trên.
- Ngày 29/11/2014 mẹ con bà Trang lại có đơn gửi UBND phường yêu cầu
giải quyết việc tranh chấp trên.
Ngày 06/12/2014 UBND phường đã tổ chức buổi hoà giải. Về thành phần
của phường và các tổ chức đoàn thể như các lần trước. Về phía các đương sự đã
có mặt đầy đủ.
Sau khi đồng chí cán bộ Tư pháp phường giới thiệu thành phần tham dự
buổi hoà giải, nêu tóm tắt nội dung tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp
và mục đích, ý nghĩa của buổi hòa giải;
Đồng chí Chủ tịch UBND phường - Chủ trì buổi hòa giải đã vừa giải thích,
vừa tuyên truyền một số quy định của pháp luật về thừa kế, về quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất, đồng thời hướng dẫn, tạo điều kiện cho các bên tranh chấp
tự nguyện thoả thuận giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi của các bên;
Nghe các ý kiến của các bên;
Nghe các ý kiến phát biểu của các thành viên tham gia hòa giải. Mong
muốn các bên tự thoả thận giải quyết với nhau thông qua hoà giải, vừa giữ được
tình đoàn kết, vừa giải quyết được quyền lợi của các bên;
Về phía ông Năm, bà Minh, bà Thuỷ, bà Thảo, bà Giang vẫn giữ nguyên
quan điểm như trong biên bản mà chính các ông bà này tự họp, tự phân chia với
nhau không có sự tham gia của mẹ con bà Trang;
Về phía mẹ con bà Trang cũng giữ quan điểm là nhà mà vợ chồng bà đã xây
đất;
- Bà Thuỷ, bà Thảo, bà Giang mỗi người được 50m 2 đất;
- Ông Năm được 100m2 đất (Trong đó 50m2 đất là để xây nhà ở, 50m2 đất
để xây nhà thờ chung)
15
- Để lại 56m2 đất làm ngõ đi chung giữa các gia đình.
Biên bản hoà giải đã thành, các bên đã tự thoả thuận, thống nhất với nhau
và tự thực hiện.
Tuy nhiên ngày 16/4/2015 mẹ con bà Trang lại có đơn gửi UBND phường,
nội dung đơn là không nhất trí với biên bản hoà giải thành ngày 16/3/2012 mà
chính mẹ con bà Trang đã thống nhất, ký tên. Trong đơn bà Trang yêu cầu phải
chia lại, vì nếu chia như vậy, mẹ con bà Trang bị thiệt thòi.
Ngày 29/4/2015 UBND phường lại tiến hành hoà giải vụ tranh chấp trên.
Qua trao đổi, mẹ con bà Trang nêu: Bà là con dâu trưởng, anh Dũng là cháu
đích tôn trưởng phải được phần hơn và phải là người đứng ra thờ cúng tổ tiên. Do
vậy không thể đồng ý cho ông Năm làm nhà thờ được.
Về phía các ông Năm, bà Minh, bà Thuỷ, bà Thảo, bà Giang cũng thấy và
cũng đã “Xuống thang” bởi tất cả các ông bà trên đều đã có nhà đất ở riêng. Do
vậy phần đất của cụ Tân để lại được coi là “Của hồi môn”.
Sau khi phân tích, đánh giá, các bên đã tự thống nhất lại như sau :
1- Bà Minh ngoài phần 257m2 đất trước chuộc lại của ông Hùng được giữ
nguyên, còn được thêm 45m2 đất nữa. Tổng diện tích bà Minh được hưởng là
302m2 đất;
2- Bà Thuỷ được hưởng 45m2 đất;
3- Ông Năm được hưởng 70m2 đất;
4- Bà Thảo được hưởng 45m2 đất;
5- Bà Giang được hưởng 45m2 đất;
6- Mẹ con bà Trang ngoài phần nhà đất đã xây năm 2000 trên diện tích
Qua thực tế và qua nghiên cứu các văn bản pháp luật áp dụng vào thực tiễn
công tác, em nhận thức được rằng công tác hòa giải ở cơ sở có vai trò hết sức
quan trọng trong việc đảm bảo an ninh trật tự ở địa phương. Một đơn vị hành
chính phường nếu làm tốt công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở sẽ phát
huy tình đoàn kết, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật trong nhân dân, nâng
cao sự hiểu biết về pháp luật đối với người dân. Nếu công tác hòa giải ở cơ sở bị
buông lỏng, không được các cấp lãnh đạo quan tâm chỉ đạo, cán bộ không nhiệt
17
tình giải quyết sẽ trở thành điểm nóng về đơn thư vượt cấp hoặc khiếu kiện đông
người của phường, quận và thành phố. Chính vì vậy cán bộ cấp cơ sở cần có trình
độ pháp luật nói chung và sự am hiểu các chế độ chính sách về đất đai nói riêng,
năng lực thực tiễn, tinh thần trách nhiệm, làm việc nhiệt tình, đầy tâm huyết,
khách quan vô tư. Trong quá trình hoà giải, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp về
đất đai phải biết vận dụng thực tế với áp dụng văn bản, không cứng nhắc quá,
cũng không mềm mỏng quá.
3. Kiến nghị, đề xuất
UBND xã, phường, thị trấn (Gọi tắt là UBND cấp xã) là cơ quan quản lý
hành chính Nhà nước ở cơ sở, việc hoà giải của UBND cấp xã là hoạt động mang
tính xã hội, hoà giải theo thủ tục hành chính, em đưa ra một số kiến nghị, đề xuất
như sau:
- Đối với việc hoà giải tại UBND cấp xã, pháp luật không quy định trình tự,
thủ tục chặt chẽ như hậu quả của việc đương sự không tham gia hòa giải, không
có công cụ hữu hiệu nào buộc đương sự phải có mặt. Nên nhiều trường hợp do
đương sự không có mặt nên buổi hòa giải không thể tiến hành được. Do vậy đề
nghị Thành phố cần có quy định cụ thể cho phép phường được xử phạt hành chính
đối với trường hợp cố tình vắng mặt - Vì đây là hành vi không thực hiện nghĩa vụ
công dân.
- Các tranh chấp về đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã nhưng không
19