Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
BÀI TẬP SỐ 15
1. Phân tích và bình luận cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.
2. Công ty X đong trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là công ty lien doanh
100% vốn đầu tư nước ngoài.Ngày 02/03/1998, công ty ký hợp đồng cung ứng lao
động với công ty vệ sỹ H thuê 5 nhân viên bảo vệ, mức lương 2 triệu/người/tháng.
Tiền này sẽ được chuyểng cho công ty H để công ty H tự thanh toán với nhân viên và
đóng góp bảo hiểm xã hội cho họ. Sauk hi hết hợp đồng cung ứng lao động với công
ty H (ngày 02/01/2001), Công ty X đề nghị ký hợp đồng lao động trực tiếp với 5 nhân
viên bảo vệ và họ đã đồng ý.
Ngày 02/01/2001, Công ty X ký hợp đồng lao đông với 5 nhân viên bảo vệ. Các
điều khoản trong hợp đồng về quyền và nghĩa vụ của nhân viên bảo vệ được giữ
nguyên (bao gồm tiền lương 2 triệu/tháng và việc đóng BHXH do người lao động tự
lo). Về thời hạn của hợp đồng lao động, 2 bên thỏa thuận sẽ theo yêu cầu thực tế của
công ty X.
Ngày 03/04/2009, 5 nhân viên bảo vệ nói trên đồng loạt có đơn yêu cầu công ty
nâng lương cho họ lên 3 triệu/tháng và thanh toán cho họ tiền bảo hiểm xã hội từ
ngày họ vào làm việc cho công ty X (ngày 02/3/2001) đến ngày làm đơn (03/4/2009)
với mức tiền bảo hiểm xã hội là 17% tiền lương hàng tháng.
Hỏi:
a/ Việc công ty ký HĐLĐ với 5 nhân viên bảo vệ với nội như trên là đúng hay
sai? Tại sao? (1,5 điểm)
b/ Những yêu cầu của 5 nhân viên bảo vệ là đúng hay sai? Công ty phải giải
quyết những yêu cầu đó như thế nào theo quy định của pháp luật? (2 điểm)
c/ Nếu công ty muốn chấm dứt HĐLĐ với 5 nhân viên bảo vệ vào ngày
01/5/2009 thì có được không? Tại sao? (1,5 điểm)
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
đó, tranh chấp lao động còn gây tác động xấu tới dư luận xã hội, ảnh huwongrlowns
tới sự phát triển kinh tế và môi trường đầu tư ở Việt Nam. Những năm qua tranh chấp
lao động ngày càng gia tăng về số lượng người tham gia và số lượng tranh chấp. Đặc
biệt là xảy ra tại các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp
có vốn nước ngoài gây chú ý lớn với dư luận xã hội, tạo ra bức xúc lớn với nền kinh
tế. Vấn đề này đang là sựu quan tâm của Chính phủ Việt Nam, các nhà làm luật Việt
Nam, người sử dụng lao động, người lao động và của cả nền kinh tế Việt Nam.
Do vây, trong phạm vi bài tập lớn của mình, em xin chọn đề tài “tranh chấp lao
động tập thể về lợi ích và tình huống liên quan”. Trong phạm vi kiến thức của bản
thân, bài tập của em se không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót mong nhận được
sự góp ý của thầy cô để bài viết của en được hoàn thiện hơn.
NỘI DUNG
I. Phân tích cơ chế tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc tranh chấp lao động về lợi ích diễn
ra ngày càng phổ biến ở Việt Nam. Đó đã không phải là vấn đề hi hữu trong quá trình
lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Nếu tranh chấp lao động cá
nhân là tranh chấp về quyền thì tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp về quyền và
lợi ích. Vì vậy, tranh chấp lao động tập thể có những đặc điểm để phân biệt với các
loại tranh chấp khác.
Theo khoản 3 Điều 157: “ Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp
về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điêù kiện lao động mới so với quy định
của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký
các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại; xóa bỏ tình trạng bất bình mâu thuẫn, giữa
người lao động và người sử dụng lao động, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm
bảo sự ổn định trong sản xuất.
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành các thủ tục, trình tự;
2.2. Hệ thống các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.
Theo Điều 169 BLLĐ thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
1. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động;
2. Hội đồng trọng tài lao động.
Cụ thể như sau:
Hội đồng hòa giải lao động cơ sở: là cơ quan được thành lập với chức năng duy nhất
là hòa giải tranh chấp lao động ở cơ sở sử dụng lao động. Hội đồng lao động cơ sở
thành lập ở các dươn vị có tổ chức công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn
lâm thời.Thành phần của hội đồng hòa giải gồm đại diện ngang nhau của người lao
động và người sử dung lao đông, số lượng thành viên của hội đồng hòa giải là số
chẵn chứ không phải số lẻ như hội đồng trọng tài lao động. Nhiệm kỳ của hội đồng
trọng tài là hai năm, hai bên luân phiên nhau làm thư ký và chủ tịch, và hoạt động
theo nguyên tắc thỏa thuận, nhất trí.
Hội đồng hòa giải cơ sở có trách nhiệm giải quyết tranh chấp lao động:
+ Một là: tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao đông;
+ Hai la: tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ hai bên tranh chấp, những người có lien
quan, thu thập, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc hòa giải;
+ Ba là: đưa ra phương án hòa giải để hai bên cùng xem xét, thương lượng;
đến 7 người, để đảm bảo nguyên tắc biểu quyết theo đa số và hội đồng trọng tài có
nhiệm kỳ 3 năm.
Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động có nhiệm vụ:
+ Một là: tìm hiểu vụ việc và gặp gỡ các bên có liên quan đến tranh chấp lao
động.
+ Hai là: yêu cầu các bên tranh chấp đến hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp do
hội đồng trọng tài triệu tập.
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
+ Ba là: đưa ra phương án hòa giải, thương lượng để hai bên tranh chấp
thương lượng.
+ Bốn là: lập biên bản hòa giải thành hoặc khong thành, trong biên bản có chữ
ký của hai bên. Hội đồng trọng tài có nhiệm vụ hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ
cho hội đồng hòa giải cơ sở và hòa giải viên lao động tại địa phương.
2.3. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.
Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được giải quyết
như sau:
+ Một là: nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.
Mỗi bên hoặc cả hai bên khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp phải có đơn theo mẫu
số 6 ban hành kèm theo thong tư 22/2007/TT – BLĐTBXH gửi hội đồng hòa giải đối
với nơi có hội đồng hòa giải, gửi cơ quan lao động cấp huyện trong trường hợp tranh
chấp xảy ra ở nơi chưa có hội đồng hòa giải hoặc ban chấp hành công đoàn cơ sở,
hoặc đại diện tập thể lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động quyết định lựa
chọn hòa giải viên lao động giải quyết, thư ký hội đồng hòa giải hoặc cán bộ lao động
cơ quan cấp huyện được phân công khi nhận đơn phải ghi vào sổ theo dõi, trong đó
họp;
- Đọc đơn của nguyên đơn;
- Bên bị đơn trình bày;
- Hội đồng hòa giải hoặc hòa giải viên chất vấn các bên, nêu các chứng cứ và
yêu cầu nhân chứng (nếu có);
- Người bàn chữa của một trong hai bên trình bày.
Hội đồng hòa giải hoăc hòa giải viên lao động căn cứ vào pháp luật lao động.
các căn cứ có được, phân tích đánh giá vụ việc, nêu những điều đúng sai để hai bên tự
hòa giải với nhau hoặc đưa ra phương án hòa giải để hai bên xem xét và thương
lượng. Trường hợp bên nguyên đơn chấp nhận rút đơn, hoặc cả hai bên tự thương
lượng được hoặc chấp nhân phương án hòa giải của hội đồng hòa giải hoặc của hòa
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
giải viên lao động lập văn bản hòa giải thành theo mẫu số 7 ban hành kèm theo thong
tư 22/2007/TT – BLĐTBXH, có chữ ký của hai bên tranh chấp, chủ tịch hội đồng hòa
giải, thư ký, hoặc hòa giải viên lao đọng. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành biên bản đã
hòa giải thành.
+ Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hòa giải thì hội đồng hòa
giải hoặc hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành, trong đó ghi rõ ý
kiến của hai bên, biên bản có chữ ký hai bên, chữ ký của hội đồng hòa giải, hòa giải
viên lao động.
+ Trường hợp hai bên đã triệu tập đến lần hai mà vẫn vắng mặt không có lý do
chính đáng thì hội đồng hòa giải hoặc hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải
không thành, trong đó cũng phải ghi rõ thành phần tham gia ý kiến của mỗi bên.
+ Trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định
năng phán quyết, hội đồng trọng tài từ một tổ chức có quyền ra phán quyết, giờ chỉ có
thể hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Do đó, có thể thấy trọng tài lao
động và hội đồng hòa giải trở nên gần như tương đồng với nhau. Mà pháp luật quy
định, trọng tài lao động giải quyết sau hội đồng hòa giải, thì trọng tài lao động sẽ phải
hòa giải bước nữa không khác gì nhiều như hội đồng hòa giải. Như vậy, không nên
quy định hòa giải và trọng tài là hai bước kế tiếp nhau trong việc giải quyết tranh
chấp lao động tập thể về lợi ích. Khi sảy ra tranh chấp, các bên vẫn phải tiến hành hòa
giải, nhưng các bên có quyền lựa chọn giải quyết tại hội đồng hòa giải hoặc giải
quyết tại trọng tài lao động, như vậy quyết định của hội đồng trọng tài sẽ là quyết
định cuối cùng buộc các bên phải thực hiện.
Thứ ba: trong thực tế sảy ra tranh chấp, biện pháp hòa giải thương lượng chỉ là
biện pháp tình thế, các bên tranh chấp rất ít khi ngồi lại với nhau cùng hòa giải,
thương lượng. khi sảy ra tranh chấp đại diện của Sở lao động thương binh xã hội sẽ
nghe ý kiến của người lao động, họ chọn ra những ý kiến được coi là chính đáng, để
yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện, còn những yêu cầu mà họ cho là không
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
phù hợp thì không thể yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện được. Biện pháp này
được coi là tình thế và chỉ đạt được kết quả ngắn hạn đó là chấm dứt được vụ tranh
chấp, còn hậu quả về sau thì khó có thể lường trước được.
Ngoài ra, còn một số những vấn đề bất cập trong việc giải quyết tranh chấp lao
động tập thể về lợi ích như: thời hạn hòa giải tranh chấp là 3 ngày kể từ ngày nhận
được đơn yêu cầu hòa giải. Thời hạn 3 ngày để giải quyết tranh chấp là quá ngắn,
trong thời gian đó, hòa giải viên, hội đồng hòa giải phải xác minh vụ việc, thu thập
chứng cứ, tài liệu có liên quan tới vụ tranh chấp, thì thời gian này không đủ để hội
bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương”. Theo đó công ty X phải đóng 15% so với tổng
tiền lương của 5 nhân viên đó. Theo mức lương đã thỏa thuận 2 triệu/tháng thì công
ty X phải đóng là 2.000.000 x 15% = 300.000 đồng tiền BHXH.
Cùng với đó theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 18 Luật bảo hiểm xã hội
đã quy định về việc đóng bảo hiểm của người sử dụng lao động như sau: “ người sử
dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và
hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo khoản 1 Điều 91
của Luật bảo hiểm xã hội để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH”.
Như vậy, căn cứ theo Luật lao động và Luật bảo hiểm thì người sử dụng lao
động có nghĩa vụ phải đóng BHXH bắt buộc cho người lao động, vì vậy công ty X để
người lao động tự lo tiền bảo hiểm là hoàn toàn sai.
b/ Những yêu cầu của 5 nhân viên bảo vệ là đúng hay sai? Công ty phải giải
quyết những yêu cầu đó như thế nào theo quy định của pháp luật.
Những yêu cầu của 5 nhân viên về việc yêu cầu công ty nâng lương cho họ lên 3
triệu/tháng và thanh toán tiền BHXH cho họ từ ngày họ vào làm việc cho công ty X
(ngày 02/3/2001) đến ngày làm đơn (03/4/2009) với mức tiền BHXH là 17% tiền
lương hang tháng là sai.
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
Theo thông tư số 14/2003 của BLĐTBXH theo khoản 4 mục 5 chế độ nâng bậc
lương, theo khoản 2 Điều 6 NĐ 114/2002 NĐ – CP được quy định cụ thể như sau: “
Người lao động có đủ các điều kiện sau đây thì được xét nâng bậc lương hàng năm”.
Có thời gian làm việc tại doanh nghiệp, cơ quan đủ ít nhất là một năm (12
tháng);
không được thì có thể đưa ra hội đồng trọng tài theo Điều 169 của BLLĐ. Nhưng
trong trường hợp này, công ty X và 5 nhân viên nên giải quyết bằng con đường
thương lượng hòa giải, cùng nhau tìm ra một giải pháp chung cho cả hai bên, để hai
bên giải quyết những bất đồng mâu thuẫn, trong mọi trường hợp luật luôn khuyến
khích các bên tự hòa giải, thương lượng với nhau, để tránh mất thời gian, ảnh hưởng
tới công việc,và dẫn tới đình công.
c. nếu công ty muốn chấm dứt hợp đông lao động với 5 nhân viên vào ngày
1/5/2009 thì có được không? Tại sao?
Công ty không thể chấm dứt hợp đồng lao động với 5 nhân viên bảo vệ vào ngày
1/5/2009
vì:
Nội dung mà công ty X kí với 5 nhân viên bảo vệ, có quy định về thời hạn hợp
đồng như sau: “ về thời hạn hợp đông hai bên sẽ thỏa thuận theo yêu cầu thực tế của
công ty X”. như vậy, theo nội dung hợp đồng giữa công ty X và 5 nhân viên trở thành
hợp đồng không xác định thời hạn theo điểm a, khoản 1 Điều 27 BLLĐ. Do đó, theo
điểm a khoản 1 Điều 38 thì người sử dụng lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao
động không xác định thời hạn với người lao động thì phải báo trước với người lao
động ít nhất 45 ngày. Theo tình huống trong bài thì kể từ ngày 5 nhân viên bảo vệ
làm đơn yêu cầu thanh toán bảo hiểm là ngày 3/4/2009 đến thời điểm mà công ty X
muốn chấm dứt hợp đồng lao động với 5 nhân viên là ngày 1/5/2009, khoảng thời
gian từ ngày 3/4/2009 đến ngày 1/5/2009 chỉ có 28 ngày. Mà theo điểm a khoản 3
Điều 38 BLLĐ thì khoảng thời gian đó chua đủ 45 ngày. Vì vậy, công ty X không thể
chấm dứt hợp đồng lao động với 5 nhân viên được.
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
sau: Chánh thanh tra sở, Chánh Thanh tra của Bộ lao động thương binh- Xã
hội( quyết định giải quyết cuối cùng) theo Điêu 8 mục 2 nghị định 04/2005/NĐ-CP
ngày 11/1/2005.
KẾT LUẬN
Qua vấn đề lý luận và tình huống thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động tập
thể về lợi ích có thế thấy được rằng pháp luật nước ta đã có những biện pháp nhằm
giải quyết các tranh chấp khi sảy ra tại các doanh nghiệp. Nhằm từng bước ổn định
phát triển kinh tế của các doanh nghiệp cũng như đảm bảo cuộc sống của người lao
động. Nhưng cũng phải nhìn nhận một thực trạng về pháp luật nước ta còn quá nhiều
những thủ tục làm cho việc giải quyết tranh chấp gặp nhiều khó khăn, cùng với đó là
cơ chế giải quyết còn phải trải qua nhiều giai đoạn khiến cho các bên đôi khi còn lúng
túng trong việc giải quyết. Vì vậy, pháp luật nước ta cần phải thay đổi phù hợp với
nền kinh tế của đất nước đang trong thời kỳ hội nhập đảm bảo sự bình đẳng quyền lợi
cho người lao động cũng như người sử dụng lao động.
Nguyễn Thị Thu Hà - 350240
Bài tập lớn học kỳ
Môn: Luật Lao Động
MỤC LỤC
Tran
g
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật lao động, Nxb, CAND, Hà Nội,
2009;
2. Khoa Luật – Viện Đại học Mở Hà Nội, Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb,
Giáo Dục Việt Nam, 2009.
B. Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007.
2. Lưu Bình Dương, về tranh chấp lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao động
tập thể”, tạp chí luật học, số 2/2001.
* Website :
1.
http:// www.ilo.org
2.
http:// www.luatvietnam.com.vn
3.
http:// www.vibonline.com.vn
4.
http:// www.westlaw.com
5.