I. Phần mở đầu
I. 1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con người, chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy Đảng và nhà nước đã khẳng
định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng
đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Dạy học là một nghề sáng tạo. Người giáo viên khi đứng trên bục giảng
luôn gặp những vấn đề và tình huống thật phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có
cách xử lý, giải quyết sáng tạo. Trong khi sử dụng đồ dùng dạy học nhiều câu
hỏi về nội dung kiến thức và phương pháp dạy học được đặt ra từ thực tế trên
lớp, đòi hỏi mỗi giáo viên phải tìm lời giải đáp nhằm phục vụ cho yêu cầu nâng
cao chất lượng giảng dạy.
Xu hướng chung của sự đổi mới phương pháp giảng dạy ở tiểu học là làm
sao để giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ
chức, định hướng cho học sinh hoạt động để học sinh huy động vốn hiểu biết và
kinh nghiệm của bản thân vào sự chiếm lĩnh tri thức mới.
Xuất phát từ yêu cầu đó mà vấn đề sử dụng đồ dùng dạy học ( ĐDDH) trong
các giờ học phục vụ đổi mới phương pháp dạy học được nhiều giáo viên quan
tâm. Bởi học sinh tiểu học mới từ mẫu giáo chuyển lên, nên việc thu nhận kiến
thức thông qua hình thức “ Học mà chơi – chơi mà học” rất phù hợp. Mặt khác
xuất phát từ nhận thức của học sinh tiểu học là: “Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng – từ tư duy trừu đến thực tiễn khách quan”.
Là một Hiệu phó phụ trách chuyên môn của nhà trường, tôi thấy được việc
sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết học là cần thiết đối với sự tiếp thu của
học sinh.Vậy làm thế nào để việc sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả nhất
trong các giờ lên lớp phục vụ đổi mới phương pháp dạy học ? Đó là câu hỏi mà
người làm công tác quản lý như tôi luôn trăn trở và thực sự lưu tâm chú trọng.
Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn viết đề tài: “ Một số biện pháp quản lí, chỉ đạo
việc sử dụng ĐDDH của giáo viên khi lên lớp ở trường tiểu học Lê Hồng
Phong”.
I. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
a. Phương pháp nghiên cứu lý luận :
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn::
* Phương pháp quan sát:
*Phương pháp điều tra:
*Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
*Phương pháp thử nghiệm:
II. Phần nội dung
II.1. Cơ sở lý luận:
Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, khả năng tư duy trừu tượng kém. Phần lớn
các em tư duy phải dựa trên mô hình, vật thật, tranh ảnh. Do vậy trong giờ học
việc sử dụng đồ dùng là không thể thiếu được. Đồ dùng dạy học không chỉ là mô
hình, tranh ảnh, vật thật, mà có thể là những trang phiếu học tập, được sử dụng
dưới nhiều hình thức như: trao đổi nhóm, hoặc mỗi học sinh một phiếu trong các
giờ học: kiểm tra, ôn tập ... ở tất cả các môn học. Là phương tiện chuyển tải
thông tin và nó còn là nội dung của quá trình truyền thu tri thức giáo dục tư
cách, rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh. Nó điều khiển mọi hoạt động
nhận thức của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Nó tác
động to lớn trong việc phát huy trí sáng tạo, kích thích hứng thú trong việc dạy
2
và học của thầy và trò. Đặc biệt sử dụng đồ dùng dạy học hợp lý bao giờ cũng
cho những kết quả đúng về tính khoa học sư phạm và tính mĩ thuật .
Có nhà giáo dục trẻ cho rằng: “Trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học
đơn điệu nhàm chán”. Học sinh tiểu học cảm thấy mệt mỏi và chán học khi chỉ
nhìn thấy mãi một hình ảnh của giáo viên. Lúc đó học sinh mong muốn được
nhìn thấy một cái gì khác ngoài giáo viên để tạo ra một cảm giác thoải mái khi
có cái mới để thu nhận kiến thức, thường cái mới đó là đồ dùng dạy học –
Trong đó nếu nội dung đồ dùng dạy học phù hợp với nhận thức của học sinh thì
sẽ nâng cao hiệu quả giờ dạy của giáo viên lên rất nhiều.
tượng một cách trực quan để có nhận thức sâu hơn nội dung bài học, hình thành
tốt kĩ năng, kĩ xảo.
3
II.2. Thực trạng
a. Thuận lợi - khó khăn :
* Thuận lợi:
Sự đầu tư cho giáo dục của các cấp lãnh đạo địa phương rất kịp thời. Nhất là
hội cha mẹ học sinh của trường đã thể hiện rõ sự quan tâm tới chất lượng giáo
dục của nhà trường.
Việc sử dụng thiết bị và đồ dùng dạy học được nhà trường kết hợp ứng dụng
công nghệ thông tin, các phần mềm hỗ trợ đã bước đầu phát huy vai trò nâng
cao chất lượng dạy và học. Mặc dù số lượng thiết bị, đồ dùng dạy học được
trang cấp chưa đủ so với nhu cầu thực tế, song nhà trường đã chủ động luân
chuyển, bố trí chéo giờ dạy để tăng số lượt giáo viên sử dụng thiết bị, tổng số
lượt giáo viên sử dụng thiết bị và đồ dùng dạy học của các lớp học tăng lên.
Những kết quả bước đầu đáng ghi nhận đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học trong thời gian qua.
Nhìn chung các em đều được sự quan tâm của cha mẹ học sinh. Đồ dùng học
sinh được trang bị đầy đủ .
Đặc biệt đội ngũ giáo viên của trường có phong trào tự làm đồ dùng dạy học
sôi nổi và đạt hiệu quả cao trong các đợt hội giảng, hội thi giáo viên, hội thi triển
lãm đồ dùng dạy học ở trường và dự thi ở cấp huyện, tỉnh hàng năm.
Bên cạnh đó trường có nhiều thầy cô giáo biết đánh máy vi tính và sử dụng
phim âm bản, máy chiếu, phần mềm vi tính ...
* Khó khăn:
Các đồng chí cao tuổi công tác lâu năm có bề dày kinh nghiệm, nhưng trình
độ vi tính có hạn nên việc tiếp cận đổi mới việc sử dụng các phương tiện dạy
học hiện đại như dùng máy chiếu hắt, phương tiện nghe nhìn ... còn hạn chế.
dùng dạy học. Giáo viên rất mừng và phấn khởi do vậy khi thực hiện đề tài đã
được các đồng nghiệp hỗ trợ và đồng tình thực hiện.
* Hạn chế:
Giáo viên ngại sử dụng đồ dùng dạy học khi phải kết hợp phiếu học tập.
(máy chiếu, máy vi tính, đầu Video)
Thiết kế phiếu học tập nhiều khi còn sao chép nội dung sách giáo khoa chưa
sáng tạo.
Chính vì vậy cần phải khắc phục những hạn chế trên để nâng cao chất lượng
giảng dạy ở tất cả các bộ môn và sử dụng thành thạo đồ dùng dạy học.
Sáng kiến chưa khai thác hết được một số dẫn chứng minh họa cho việc sử
dụng ĐDDH của giáo viên ở các môn học khác vì thời gian nghiên cứu có hạn.
c. Mặt mạnh – mặt yếu:
* Mặt mạnh: Tạo được phong trào thi đua làm và sử ĐDDH thường xuyên
trong nhà trường.
Thông qua kết quả sử dụng §DDH đạt hiệu quả cao góp phần tạo điều kiện
cá nhân mỗi đồng chí giáo viên hoàn thành tốt bài dạy, hơn thế giáo viên tự tin
hơn khi lên lớp có ĐDDH.
Hoạt động giữa giáo viên và học sinh diễn ra đồng bộ tạo không khí tiết học
nhẹ nhàng, sinh động.
Khi thực hiện các giải pháp của đề tài đã giúp giáo viên hiểu và thực hiện
nghiêm túc, đúng yêu cầu, phát huy tối đa hiệu quả của việc sử dụng ĐDDH. Do
vậy đồ dùng dạy học được sử dụng nhiều và tương đối có hiệu quả qua các đợt
hội giảng , hội thi giáo viên giỏi hoặc các giờ kiểm tra và ĐDDH được chuẩn bị
5
tương đối kỹ cả về nội dung và hình thức (có sự trao đổi giữa các cá nhân trong
tổ, khối ).
Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn cho học sinh tự khám phá
kiến thức mới thông qua việc nghiên cứu bài và trực quan sinh động trên ĐD
mái (học mà chơi – chơi mà học); đặc biệt tạo ra một không khí đoàn kết thông
hiểu lẫn nhau. Nếu biết kết hợp khéo léo các bước hướng dẫn học sinh sử dụng
đồ dùng dạy học với nội dung bài giảng thì bao giờ học sinh cũng tiếp thu nhanh
hơn, hiểu bài giảng nhanh hơn, vì vậy khi sử dụng phải lựa chọn các loại đồ
dùng trực quan phù hợp với mục đích yêu cầu bài học, đi theo một trình tự nhất
định. Ngoài ra, GV phải biết kết hợp với nhiều phương pháp khác như: miêu tả,
6
tường thuật, phân tích để giúp tất cả các HS có cơ hội quan sát. Nhiều giáo viên
khẳng định, học sinh nào học kỹ lý thuyết thì khi thực hành sẽ tiếp thu kiến thức
nhanh hơn và ngược lại, những em nào biết quan sát, thích tìm hiểu trong các
giờ thực hành thì những “lỗ hổng” về lý thuyết sẽ được bổ sung kịp thời.
Song bên cạnh đó nguyên nhân của của sự hạn chế, mặt yếu đó là:
* Công tác chỉ đạo còn chưa linh hoạt: Các chuyên đề của tổ khối được tổ
chức còn mang tính hình thức: dự giờ dạy chuyên đề góp ý xây dựng chưa thực
sự tâm huyết, nội dung sinh hoạt của tổ khối về các hoạt động chuyên môn
chưa phong phú.
* Giáo viên: Biết rằng sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ học là một nghệ
thuật, là cần thiết. Song nhiều giáo viên đã không thực hiện được, hoặc thực
hiện không thành công mang tính hình thức, sức ì của một thời “dạy chay” vẫn
tồn tại trong không ít giáo viên. Nhiều khi giáo viên cò tâm lý lo sợ sẽ không
thành công, sợ mất nhiều thời gian chuẩn bị dẫn đến việc ngại sử dụng hoặc chỉ
sử dụng thiết bị dạy học đối phó khi cần.
Chất lượng thiết bị dạy học còn kém cũng dẫn đến tình hình sử dụng thiết bị
dạy không thành công. Chính vì vậy hiệu quả giờ dạy không cao. Đặc biệt với
trình độ nhận biết của học sinh hiện nay những tiết học có sử dụng công nghệ
thông tin sẽ tạo ra sự thích thú lôi cuốn học sinh vào tiết học nhẹ nhàng; nhưng
với một số giáo viên còn hạn chế về công nghệ thông tin, chưa thành thạo kĩ
năng để tạo ra các bài học để sử dụng trên máy chiếu thì việc sử dụng đồ dùng
tranh động, ảnh chụp thật, vật thật, đồ dùng thí nghiệm …)
- Các phương tiện nghe nhìn: máy chiếu, đầu video, băng hình, máy tính.
Sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ dạy đòi hỏi giáo viên cần phải đầu tư
nhiều thời gian nghiên cứu bài, phải biết kết hợp khéo léo trong giờ dạy và phân
bố thời gian hợp lý (nhất là giờ dạy có sử dụng máy chiếu kết hợp với phiếu học
tập hoặc mô hình hay tranh ảnh ...).
Việc sử dụng đồ dùng học tập trong các giờ dạy dưới các hình thức: kiểm
tra, thảo luận nhóm hay cá nhân, dạy bài mới… đều là khâu phục vụ đổi mới
phương pháp dạy học. Việc sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào để có hiệu
quả nâng cao chất lượng giờ lên lớp là điều đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư
nhiều công sức vào khai thác nội dung bài dạy. Đồ dùng dạy học phải gọn, dễ sử
dụng, với học sinh Tiểu học cần phải có màu sắc hài hoà, phù hợp với nội dung
bài dạy thể hiện sự phát huy trí lực của học sinh. Nội dung bài có liên hệ thực
tế,tạo cho các em niềm vui thích với các giờ học có đồ dùng dạy học. Làm được
điều này, đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư suy nghĩ nhiều đến nội dung bài
dạy, kết hợp với sự hoạt động đều tay của tổ chuyên môn để việc sử dụng đồ
dùng dạy học trong các giờ lên lớp phục vụ đổi mới phương pháp học tập ngày
càng có hiệu quả.
Nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo con người cho hiện nay và mai sau là:
“Làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ
năng thực hành giỏi”. Muốn thực hiện được yêu cầu trên thì hệ thống thiết bị
dạy học trong nhà trường phổ thông phải được trang bị theo hướng hiện đại và
đồng bộ.
Người giáo viên trong giai đoạn hiện nay phải nhận thấy rõ tầm quan trọng
của việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các giờ lên lớp phục vụ việc đổi mới
phương pháp dạy học là cần thiết.
8
qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp trường ( 2lần/ tháng).
- Trao đổi với giáo viên cốt cán và nhân viên thiết bị về cách giới thiệu các
ĐDDH sẵn có và tự làm để sử dụng có hiệu quả trong các môn học. Nhân viên
thiết bị phải có những bài giới thiệu thu hút được sự thích thú, hưng phấn để
giúp người giáo viên tự tin khi mượn và sử dụng ĐDDH để giảng dạy.
b. 2. Chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức trao đổi, hướng dẫn, bồi dưỡng
kỹ năng vận dụng lý luận vào thực tiễn giảng dạy của giáo viên.
9
Thống nhất chỉ đạo thay đổi cách trao đổi, rút kinh nghiệm và đánh giá giờ
dạy của giáo viên, chú trọng đánh giá phương pháp, kĩ năng sử dụng, khai thác
hiệu quả thiết bị dạy học. Cụ thể theo tiêu chí như sau:
* Sử dụng thiết bị dạy học phải phù hợp với mục tiêu bài học:
Đồ dùng dạy học có nhiều loại như tranh vẽ của họa sĩ và học sinh, mẫu vật
thực, máy chiếu đa năng, máy tính...Vì thế khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn
đồ dùng trực quan phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học, đi theo một trình tự
nhất định thì mới đạt được hiệu quả bài dạy.
Giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh
những câu hỏi thách đố để các em rơi vào thế bí điều đó chỉ làm mất thời gian
tiết dạy. Giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như miêu tả,
tường thuật, phân tích, hướng dẫn nhằm huy động tối đa kỹ năng làm việc của
học sinh: tai nghe, mắt thấy, biết phân tích suy luận vấn đề.
Ví dụ: Môn: Tự nhiên xã hội , lớp 3; Bài: Hệ tuần hoàn.
Đồ dùng dạy học: Máy chiếu, phiếu, mô hình hệ tuần hoàn.
- Sau hoạt động 1 học sinh: tự rút ra kết luận: máu là 1 chất lỏng có màu đỏ.
- Hoạt động 2: Để thấy hệ tuần hoàn gồm những cơ quan nào? Nhiệm vụ của
chúng ra sao? ( ĐDDH: Phiếu bài tập, máy chiếu, mô hình hệ tuần hoàn, các
tranh ảnh, áp pic tuyên truyền về căn bệnh HIV, AIDS)
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tiếp phần 2 của sách giáo khoa và làm
Muốn tiết dạy hiệu quả, thầy truyền đạt được hết kiến thức cần thiết, trò
tiếp thu tốt, lĩnh hội được yêu cầu bài thì việc chuẩn bị đồ dùng dạy học là rất
quan trọng, để gây được hứng thú và niềm say mê học vẽ cho học sinh thì :
+ Giáo viên cần chuẩn bị: Tranh ảnh, tư liệu, phiếu học tập…
+ Học sinh: Đồ dùng học tập
Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh rất hiếu động, tò mò, dễ thích
ứng nhưng cũng rất dễ chán nản. Vì vậy đồ dùng phải có tính sư phạm phù hợp
với nội dung bài dạy. Tranh ảnh phải rõ ràng, chuẩn mực có tính gợi mở đảm
bảo tính thẩm mĩ, tính khoa học và tính giáo dục cao. Tránh tình trạng đồ dùng
đơn điệu, không trọng tâm, cẩu thả tuỳ tiện, thiếu thẩm mĩ điều đó sẽ dẫn tới
không phát hiện được óc thẩm mĩ và tư duy sáng tạo của học sinh.
Đồ dùng phải rõ cho toàn bộ học sinh bao quát được, quan sát dễ dàng nếu
không sẽ ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy .
Ví dụ: dạy bài 90 – Tiết Ôn tập Tiếng Việt; lớp 1
Đây là tiết đạt giải xuất sắc cấp trường của cô giáo Nguyễn Thị Phương lớp 1D.
Đồ dùng dạy học: Máy chiếu, tranh vẽ của bài, bảng phụ, thẻ từ, nam châm
dính, bút dạ đỏ.
Phần: Ôn các tiếng có vần vừa học:
Phần này giáo viên sử dụng những băng giấy có in chữ vi tính và nam châm
dính.
Giáo viên: Tìm tiếng có vần vừa học: ăp (vần ắp) – tiếp (vần iếp) - âp
ấp)
(vần
Giáo viên: Có những vần nào vừa được ôn? ( ăp, âp, iêp,…)- ( học sinh dùng
thẻ từ tìm vần và gắn)
Giáo viên: Vừa rồi cô đã được nghe các con đọc bài nhiều rồi con nào đọc
cũng tốt. -- > Bây giờ cô hướng dẫn các con viết bài
Máy chiếu: các từ: đón tiếp, ấp trứng.
chiều sâu của tiết học có chất lựợng.
Ví dụ: dạy bài 90 – Tiết Ôn tập Tiếng Việt; lớp 1; tiết 2 - Chuyện kể:
Ngỗng và tép (là phần cuối của bài).
Đồ dùng dạy học: Giáo viên vẽ 4 bức tranh của bài và 1 bức gồm 4 tranh.
Lần 1: Máy chiếu chiếu từng tranh: giáo viên kể nội dung từng tranh
Lần 2: Giáo viên kể một mạch nội dung truyện, máy chiếu chiếu liền 4
tranh.
Sau đó học sinh thảo luận nhóm dựa vào sách giáo khoa và lên kể lại nội
dung từng tranh trên máy chiếu.
12
Nhận xét: Tranh vẽ đẹp, rõ nét, thể hiện rõ nội dung của truyện
(Các nhân vật: vợ chồng bác chủ nhà - ông khách, vợ chồng ngỗng - tép)
giáo viên sử dụng tranh và máy chiếu linh hoạt, thành thục, học sinh học sôi
nổi, hứng thú.
* Khai thác hết tính năng, tác dụng của đồ dùng :
Giáo viên phải biết khai thác triệt để tính năng của đồ dùng thì giờ học mới
sôi nổi hấp dẫn. Muốn như vậy giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi kèm
theo để khai thác hết kiến thức. Tức là giáo viên phải kết hợp cùng lúc 3 phương
pháp: trực quan - quan sát nhận xét - tiến tới sự liên tưởng, hình thành khả năng
nhớ lại các hình ảnh đã được quan sát, được thao tác,…
* Không lạm dụng đồ dùng dạy học :
Học sinh tiểu học thích những cái mới, cái lạ để bắt chước theo, thích ghi
nhận nhiều nhưng lại ít có khả năng chọn lọc. Vì vậy giáo viên phải thường
xuyên đổi mới đồ dùng và không nên lạm dụng đồ dùng nếu không sẽ phản tác
dụng dẫn đến nhàm chán.
Ví dụ Tiết 18 – bài 18: Vẽ tranh: Đề tài tự chọn
Đồ dùng dạy học có sẵn ( 4 bức tranh phong cảnh); 5 bức tranh sưu tầm của
học sinh lớp trước.
tháng, định kì, năm về đổi mới sử dụng đồ dùng dạy học.
Thành lập ban chỉ đạo điều hành sử dụng đồ
- Xây dựng quy chế làm việc của tổ, khối chuyên môn, cá nhân giáo viên hướng
dẫn thảo luận kỹ năng thực hành sử dụng thiết bị giáo dục.
- Tạo cơ hội, khích lệ, động viên giáo viên tham gia thi ĐDDH tự làm và thuyết
trình ĐDDH sẵn có.
- Có đánh giá khen thưởng đối với giáo viên, nhóm giáo viên và đồ dùng đạt
giải nhằm kích thích sự tích cực hoạt động, trí tuệ của giáo viên.
- Họp các các tổ chuyên môn ngay từ đầu năm học giao nhiệm vụ quản lí, kiểm
tra, báo cáo và thống kê định kì các tiết dạy có sử dụng đồ dùng dạy học đạt hiệu
quả của giáo viên trong tổ.
- Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng các chuyên đề về việc sử dụng ĐDDH
và kết nối nội dung dạy học với các góc học tập có hiệu quả cao, mang lại tính
phổ biến.
b. 4. Tổ chức kiểm tra đánh giá sau khi triển khai kế họạchvà tập huấn.
- Kiểm tra qua dự giờ thăm lớp.
- Kiểm tra thông qua việc quan sát, theo dõi.
- Kiểm tra thông qua học sinh.
- Kiểm tra thông qua phiếu trắc nghiệm tổng hợp (trong đó có lồng cả nội dung
kiểm tra việc sử dụng thiết bị dạy học).
- Theo dõi xếp loại giáo viên hàng tháng qua việc sử dụng thiết bị dạy học và
hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học.
- Kiểm tra qua kế hoạch bài dạy, lịch báo giảng, kế hoạch sử dụng thiết bị.
- Kiểm tra sổ theo dõi giáo viên mượn ĐDDH hàng ngày của nhân viên thiết bị
và kế hoạch hoạt động của thiết bị: từng tuần, tháng,…
Sau kiểm tra sẽ có những buổi sinh hoạt chuyên môn để trao đổi thảo luận và
rút kinh nghiệm để làm tốt hơn.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn, nắm chắc các văn bản, triển khai
kịp thời, có tầm nhìn, xây dựng chiến lược dài hạn. Thường xuyên bồi dưỡng
2012-2013
65%
2013- 2014
76%
2014- 2015
96%( trừ những tiết kiểm tra, …)
Ghi chú
* Đối với học sinh.
Các tiết học có sử dụng ĐDDH đã phát huy được tính chủ động sáng tạo của
học sinh, việc tiếp thu kiến thức trở nên nhẹ nhàng tự nhiên hơn, không gò ép
nhàm chán. Kích thích tinh thần hăng say học tập và yêu thích bộ môn hơn.
Thống kê kết quả khảo sát học sinh sau tiết học có sử dụng thiết bị và so sánh
với tiết dạy không sử dụng thiết bị.
Tiết học
Học sinh hiểu bài tại lớp
Học sinh hứng thú và
yêu thích môn học
Có sử dụng ĐDDH
90- 93%
trường Tiểu học là việc làm đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa các đoàn thể,
bộ phận nhà trường. Nhà trường có hoàn thành nhiệm vụ hay không, có đạt
được những kết quả như mục tiêu đã đề ra hay không đều được xuất phát từ hiệu
quả tiết dạy của giáo viên và chất lượng sử dụng ĐDDH có vai trò quyết định
đến hiệu quả hoạt động dạy học. Là một cán bộ quản lý phải luôn trăn trở nghiên
cứu thực tiễn kết hợp với lý luận khoa học về công tác quản lý thiết bị dạy học
để không ngừng tìm ra những giải pháp, biện pháp phù hợp nhất nhằm nâng cao
hiệu quả trong công tác quản lý nhà trường nói chung và công tác quản lý chỉ
đạo việc sử dụng ĐDDH của giáo viên. Bản thân tôi đã tiến hành xây dựng kế
hoạch chỉ đạo làm đồ dùng một cách cụ thể, chi tiết, giao chỉ tiêu tới từng giáo
viên và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá kết quả của giáo viên. Có
động viên khen thưởng kịp thời; tự xác định phải chịu khó nghiên cứu, học hỏi,
làm một số ĐDDH mẫu để phổ biến cho giáo viên, chỉ đạo giáo viên biết phối
kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để tạo nguồn nguyên vật liệu. Đồng thời chỉ đạo
hướng dẫn giáo viên làm ĐDDH từ nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu.
Hằng năm tổ chức tốt hội thi “Đồ dùng dạy học tự làm” nhằm phát huy tính tích
cực, khả năng sáng tạo của giáo viên.
Giáo viên sử dụng tốt ĐDDH thì sẽ có tác động rất lớn đối với các em trong
quá trình học tập, tự tìm tòi học hỏi khắc sâu kiến thức, mở rộng hiểu biết, nhớ
bài học lâu hơn. Từ thực tế quản lí, chỉ đạo tôi thấy người làm công tác quản lí
chuyên môn phải là người có tâm huyết, luôn tìm ra các biện pháp thích hợp
trong chỉ đạo dạy-học; biết phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể giáo viên và
thấy được việc sử dụng ĐDDH của giáo viên khi lên lớp là một trong những yếu
tố góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
16
Một vấn đề mà người lãnh đạo khó quản lí được đó là cái tâm của người thầy:
lòng yêu nghề, hết mình với học sinh, có trách nhiệm trong công việc,… điều đó
mới thật sự giúp người thầy hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình, đồng
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
4
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
2
5
Phương pháp nghiên cứu
2
6
Phần nội dung - cơ sở lí luận
2
7
Thực trạng
4
8
Thuận lợi – khó khăn
4
14
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
9
15
Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
9
16
Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
14
19
17
Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
18
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu
Một sô bài giảng về TBDH ở trường tiểu học Chu Mạnh Nguyên, Nguyễn
4
5
6
7
Tấn, Nguyễn Xuân Đường.
Sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học môn Đàm Hồng Quỳnh, Đỗ Kim
Tiếng Việt, môn Toán cấp 1.
Minh
Thiết bị dạy học phục vụ đổi mới phương Trần Quốc Đắc và Đàm Hồng
pháp dạy học ở tiểu học
Quỳnh.
Tự làm TBDH góp phần nâng cao hiệu quả Nhà xuất bản giáo dục
dạy học.
Thu thập những thông tin lí luận của việc sử Các văn bản chỉ đạo của
dụng đồ dùng dạy học ở tiểu học qua tài liệu Phòng, Sở, Bộ Giáo dục.
8
Triển khai dạy đủ số môn học và đổi mới Nhà xuất bản giáo dục
phương pháp dạy học ở tiểu học
9
Giáo dục Tiểu học I
Đặng Vũ Hoạt – Tiến sĩ Phó
Đức Hoà