Quan niệm tính đảng trong văn học việt nam giai đoạn 1945 1975 - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 giữ một vai trò quan trọng trong
lịch sử văn học dân tộc.Trong đó bộ phận văn học cách mạng là nhân tố chủ
yếu quyết định sự phát triển của nền văn học giai đoạn này.
Từ năm 1945 đến năm 1975, trên đất nƣớc ta diễn ra nhiều sự kiện lớn
lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mƣơi
năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con ngƣời mới ở miền Bắc…
Những sự kiện đó đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất,
tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật. Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đã mở ra trên đất nƣớc ta một thời kì lịch sử mới: thời kì độc lập tự
do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cùng với sự kiện lich sử ấy, một nền văn
học mới ra đời phát triển chặt chẽ, toàn diện dƣới sự lãnh đạo của Đảng nên
nó có những đặc điểm, qui luật và thành tựu riêng. Đó là một nền văn học
phát triển thống nhất về tƣ tƣởng, tổ chức, phƣơng pháp sáng tác, thống nhất
về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn- chiến sĩ. Trong đó tính Đảng là một
yêu cầu đầu tiên của tác phẩm văn học. Đối với nhà văn thì việc xác định lập
trƣờng tƣ tƣởng là quan trọng nhất. Đảng nhấn mạnh lập trƣờng dân tộc, dân
chủ nhân dân, lập trƣờng kháng chiến và yêu cầu văn nghệ sĩ sáng tác phục vụ
cuộc chiến đấu, và cao hơn nữa yêu nƣớc phải gắn với yêu chủ nghĩa xã hội,
tác phẩm phải đạt tới tính Đảng và phải đƣợc sáng tác theo phƣơng pháp hiện
thực xã hội chủ nghĩa.
Sau năm 1975 đến nay, từ những biến đổi to lớn của đời sống xã hội, nền
văn học đã bƣớc sang một giai đoạn mới trên một đất nƣớc hòa bình thống
nhất. Nó mang những đặc điểm mới và phát triển theo những qui luật mới, đã
đƣa đến sự thay đổi các thang chuẩn quan trọng trong việc nhìn nhận các giá

1


trị cuộc sống và văn học nghệ thuật. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân, sự quan tâm

này, nền văn học này đã “lạm dụng nguyên lý phản ánh, cốt ghi chép cho
nhiều ngƣời thật, việc thật” và giá trị đích thực của văn học chủ yếu là ở
phƣơng diện tƣ liệu, đời sống [56;32].
Mặc dù có rất nhiều cuộc thảo luận, xuất hiện rất nhiều ý kiến về nhiều
vấn đề liên quan nhƣng chúng ta ít thấy những ngƣời nghiên cứu bàn về tính
Đảng trong văn học.Bốn mƣơi năm đã trôi qua, đất nƣớc đã có nhiều thay đổi,
phát triển theo xu hƣớng hội nhập về mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị , văn
hóa…Đó là khoảng thời gian đủ để một thế hệ trƣởng thành, một thế hệ mới
nhìn nhận, đánh giá nền văn học chiến tranh, và cũng đủ để các thế hệ trƣởng
thành trong chiến tranh nhìn nhận, đánh giá lại nền văn học cách mạng một
thời. Tính chính trị của văn học vẫn là một vấn đề quan trọng, cốt lõi của lý
luận văn nghệ. Chính thể ở Việt Nam vẫn là chính thể do Đảng cộng sản cầm
quyền, nền chính trị của đất nƣớc vẫn phát triển theo định hƣớng xã hội chủ
nghĩa. Vì vậy không thể không bàn đến vấn đề tính Đảng. Những cuộc đấu
tranh và phê bình trong văn học, văn nghệ gần đây đã chứng tỏ nguyên tắc
tính Đảng chƣa phải đã hoàn toàn bị bỏ qua.Chính vì vậy trong phạm vi đề tài
này chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề “ quan niệm tính
Đảng trong văn học Việt Nam giai đọan 1945-1975’’, mà đối tƣợng nghiên
cứu của chúng tôi là văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn này.
2. Lịch sử vấn đề
Những năm 1945-1975, khái niệm tính Đảng trong văn học cách mạng
là một vấn đề quen thuộc với nhiều bạn đọc, bài báo của Lê nin “Tổ chức của
Đảng và văn học có tính Đảng”, 1905 đã đƣợc dich ra tiếng Việt và phổ biến
rộng rãi, bên cạnh những sách, tài liệu lý luận, các loại sách dịch thuật, nghiên
cứu nhƣ: Tính nhân dân, tính giai cấp và tính Đảng của nghệ thuật do Viện
Hàn lâm khoa học Liên Xô biên soạn, năm 1961; C.Mác - Ph. Ăngghen - V.I.
Lênin, Về Văn học và nghệ thuật, Nhà xuất bản Sự thật, năm 1977; C.Mác -

3



Đặng Thai Mai, Vai trò lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn học ba mươi
năm nay, Phạm Bình, Phan Cự Đệ, Mười năm năm văn học cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Đảng; Hoàng Nhƣ Mai, Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng
tháng Tám; Vũ Đức Phúc, Thơ và cách mạng: nghiên cứu tập thơ “Từ ấy”
của Tố Hữu…Tuy nhiên, nội dung các công trình nghiên cứu trên hoặc là
đánh giá mang tính tổng quát, cung cấp một kiến thức chung nhất hoặc đề cập
tới một khía cạnh nhƣ tính Đảng trong môt khoảng thời gian nào đó của văn
học giai đọan 1945-1975 hay trong sáng tác của một tác giả cụ thể, hoặc là
một số bài viết cách đây nhiều chục năm,nay nhìn lại cũng thấy rõ những hạn
chế trong nhận thức và quan niệm đƣơng thời.Hầu hết các tác phẩm này chƣa
đi sâu thành chuyên đề có tính lý luận cụ thể về tính Đảng trong văn học cách
mạng giai đoạn 1945-1975.
Trong những năm gần đây việc nhìn lại và đánh giá giai đoạn văn học
này trở thành một vấn đề mang tính chất thời sự, xuất hiện nhiều bài viết,
nhiều quan điểm mới mẻ : Phƣơng Lựu “ Thử tự giải đáp đôi điều về đường
lối văn nghệ của Đảng”[37]; Trƣơng Đăng Dung “ Những đặc điểm của hệ
thống lý luận văn học mác xít thế kỉ XX”- tạp chí văn học số 7, 2001; Lã
Nguyên “ Diện mạo văn học Việt Nam 1945-1975 nhìn từ góc độ thi pháp thể
loại”- Tạp chí văn nghệ quân đội số 9, 1995…Tác giả Nguyễn Bá Thành: “
Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà
Nội, 2006; và cuốn “Tư duy thơ Việt Nam hiện đại”, nhà xuất bản Đại học
quốc gia Hà Nội, 2012…cũng bàn nhiều đến khái niệm tính Đảng, tính chính
trị trong văn học cách mạng 1945-1975.
Một số công trình nghiên cứu đã đi sâu bàn về những đặc điểm về nội
dung, hình thức, thuộc tính… của văn học giai đoạn này liên quan đến đề tài
của chúng tôi: Luận án tiến sĩ Ngữ văn của Vũ Hồng Loan, Văn học Việt Nam
tiếp nhận văn học Xô Viết [32], Trần Thị Minh Giới, Quan niệm văn học là vũ

5



Quá trình khảo sát, nghiên cứu cũng nhằm đánh giá một cách toàn diện,
khách quan về các giá trị và thành tựu cũng nhƣ hạn chế của văn học giai
đoạn này do điều kiện lịch sử, ý thức của thời đại và những nguyên nhân chủ
quan khác.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Từ đặc điểm của đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của luận văn, tôi
thực hiện đề tài theo các phƣơng pháp sau đây:
- Phƣơng pháp lịch sử - xã hội
- Phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học văn học
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và các phƣơng pháp khác nhƣ:,
phƣơng pháp nghiên cứu hệ thống, phƣơng pháp nghiên cứu văn hóa học,
phƣơng pháp liên ngành.
5. Cấu trúc Luận văn
Luận văn gồm 109 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tham
khảo, phần chính của luận văn đƣợc cấu tạo thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Quan niệm tính Đảng và sự lãnh đạo của Đảng đối với văn
học cách mạng Việt Nam 1945-1975.
Chƣơng 2: Tính Đảng trong lý luận và phê bình văn học cách mạng giai
đoạn 1945-1975.
Chƣơng 3:Quán triệt quan niệm Tính Đảng tới thực tiễn sáng tác trong
văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1975.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. QUAN NIỆM TÍNH ĐẢNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA
ĐẢNG ĐỐI VỚI VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1945-1975

Trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của
xã hội. Ăng-ghen gọi qui luật đấu tranh giai cấp là qui luật vận động vĩ đại
của lịch sử. Học thuyết của Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp là chìa khóa
để nhận thức và phản ánh một cách trung thực, khách quan bản chất của các
quá trình lịch sử. Cuộc đấu tranh giai cấp biểu hiện dƣới nhiều hình thức và
nhiều mức độ khác nhau. Biểu hiện hoàn chỉnh nhất, toàn diện và rõ rệt nhất
là cuộc đấu tranh giữa các chính Đảng.Nhƣ vậy tính Đảng là biểu hiện tập
trung của tính giai cấp. Tính Đảng là bạn đồng hành và là kết quả của cuộc
đấu tranh giai cấp phát triển cao độ. Tính Đảng là biểu hiện tự giác cao nhất
về nhận thức những quan điểm, lợi ích của một giai cấp nhất định, ở đây là
giai cấp vô sản. Trong nghiên cứu khoa học, tính Đảng đƣợc thể hiện ở cuộc
đấu tranh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để hiểu biết chân lý, phục vụ những
lợi ích của giai cấp vô sản một cách có ý thức. Tính Đảng cộng sản thể hiện ở
việc công khai bảo vệ lợi ích của quần chúng nhân dân và giai cấp tiêu biểu
nhất là giai cấp vô sản.
Vì vậy tính Đảng là một biểu hiện đặc thù của tính giai cấp trong hoàn
cảnh xã hội có đối kháng giai cấp và đấu tranh giai cấp. Và một khi cuộc đấu
tranh giai cấp phát triển lên đỉnh cao thì phải có Đảng lãnh đạo. Tính Đảng đã
ra đời. Lê nin là ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm tính Đảng. Lê nin cho rằng:
“ Tính Đảng là kết quả và biểu hiện chính trị của sự đối lập giai cấp phát triển
cao. Tính Đảng là điều kiện của sự phát triển chính trị, càng giác ngộ càng có
ý thức thì nói chung tính Đảng càng cao”[31]. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng
định rằng: Tính Đảng là biểu hiện cao nhất, tập chung nhất, có ý thức sâu sắc
nhất của tính giai cấp. Tính đảng xuất phát từ tính giai cấp, mà tính giai cấp

9


chính là bản chất, qui luật của mọi xã hội, mọi dân tộc từ khi loài ngƣời bị
phân hóa thành những kẻ áp bức bóc lột và những ngƣời bị áp bức bóc lột.


khi bàn về những tác phẩm và từng nghệ sĩ riêng lẻ , và tình hình khách quan
lúc đó, Mác Ăng ghen thấy chƣa thật cần thiết đề xuất nguyên tắc tính Đảng
một cách công khai và thẳng thắn. Trong thƣ gửi cho Mina Caoxki, Ăngghen
viết: “ Trong hoàn cảnh hiện thời, tiểu thuyết viết ra chủ yếu là cho độc giả
thuộc các giới tƣ sản, nghĩa là những giới không phải trực tiếp là giới của
chúng ta” và nhƣ thế theo ý ông “cần làm lay chuyển đƣợc tính lạc quan của
giới tƣ sản, bắt ngƣời ta phải nghi ngờ sự trƣờng cửu của trật tự hiện có”, cho
dù “ tác giả không trực tiếp đề ra giải pháp, và cũng có khi tác giả không biểu
lộ rõ rệt ý định của mình”. Cho nên Mác- Ăngghen chƣa đặt vấn đề tƣ tƣởng
trong mối tƣơng quan tới vấn đề tổ chức một cách trực tiếp nhƣ Lê nin sau
này.Tuy nhiên “tính khuynh hƣớng xã hội chủ nghĩa” có tính chất tiếp cận,
mở đƣờng nhƣng chƣa phải là tính Đảng cộng sản.
Sau khi Mác, Ăng ghen qua đời, VI Lê nin đã kiên trì kế thừa có phát
triển quan niệm của Mác, Ăng ghen hoàn chỉnh hơn và sâu sắc hơn. Ở đây
tuyệt nhiên không hề có sự khác nhau về mặt thiên tài mà là bắt nguồn sâu xa
từ những nhu cầu của thời đại. Mác, Ăng ghen sống trong thời kì cách mạng
vô sản mới phát triển, nói chung còn sử dụng “vũ khí phê phán” là chủ yếu.
Thời đại Lê nin là thời đại bão táp cách mạng, hai loại “vũ khí phê phán” và
“sự phê phán bằng vũ khí” phải tiến hành song song. Và muốn cho sự “phê
phán bằng vũ khí” giành đƣợc thắng lợi, thì hơn lúc nào hết cần phải mài sắc
“vũ khí phê phán”. Từ “tính khuynh hƣớng xã hội chủ nghĩa” phát triển thành
“tính Đảng cộng sản”- lý do sâu xa là ở đó. Đặt vấn đề tƣ tƣởng trong mối
liên hệ gắn bó hữu cơ với vấn đề tổ chức, Lê nin viết: “ Giai cấp vô sản xã hội
chủ nghĩa phải đề ra nguyên tắc văn học có tính Đảng, và phải phát triển
nguyên tắc đó, thực hiện nguyên tắc đó đến một hình thức thật hết sức đầy đủ
và trọn vẹn”[30, 99]. Lê nin còn giải quyết các mối quan hệ giữa tính Đảng
với tính giai cấp và tính nhân dân.Lê nin đã đặt vấn đề tổng quát với toàn bộ

13

14


khuynh hƣớng sâu sắc, tập trung và có ý thức, chủ yếu là khuynh hƣớng tƣ
tƣởng chính trị. Tính Đảng vô sản trong văn học thể hiện ở khuynh hƣớng
cách mạng triệt để. Nó xuất phát từ hệ tƣ tƣởng Mác- Lê nin từ thế giới quan
khoa học và nhân sinh quan cộng sản. Nó phục vụ đƣờng lối chính sách của
Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.
Tính Đảng gắn bó chặt chẽ với các nguyên lý tính giai cấp, tính nhân
dân, tính dân tộc, đồng thời nó còn liên quan chặt chẽ đến các vấn đề nội
dung, tƣ tƣởng , phƣơng pháp sáng tác…Tính Đảng trƣớc hết biểu hiện ở tính
khuynh hƣớng.Văn học cách mạng dƣới sự lãnh đạo của Đảng là văn học có
khuynh hƣớng rõ ràng, khuynh hƣớng đó là triệt để phục vụ các nhiệm vụ
chiến lƣợc, sách lƣợc trong từng giai đoạn cách mạng. Đảng đã vận dụng
quan điểm của Ăng ghen về tính khuynh hƣớng và quan điểm của Lê nin về
tính Đảng trong việc hƣớng văn học đi theo đƣờng lối của Đảng. Tính Đảng
đã quán triệt sâu sắc thế giới quan trong sáng tác của nhà văn, yêu cầu nhà
văn phản ánh hiện thực đời sống, dùng sáng tác của mình làm vũ khí chiến
đấu. Vậy nên tính Đảng là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất của tính giai cấp,
tính nhân dân, tính dân tộc trong văn học cách mạng 1945-1975.
1.1.3. Tính Đảng và các thuộc tính của văn học (tính dân tộc, tính
nhân dân, tính giai cấp).
Tính Đảng cộng sản là đòi hỏi cao nhất, song cũng chỉ là một tính qui
định của nền văn học vô sản. Do đó thật sự muốn xác định thực chất của tính
Đảng, không thể không đặt nó trong mối tƣơng quan với các khái niệm hữu
quan và bản chất xã hội của văn học nhƣ tính nhân dân, tính dân tộc, tính giai
cấp…
Tính Đảng với tính nhân dân: Trong lịch sử phát triển của một dân tộc,
nhân dân bao giờ cũng là ngƣời chủ nhân chân chính của đất nƣớc. Nói đến
nhân dân là nói đến những lực lƣợng xã hội đông đảo trong xã hội quần chúng

nhân dân là ngƣời tham dự vào sự kiện lịch sử xã hội đó.Những tác phẩm

16


thực sự có giá trị không bao giờ né tránh những vấn đề cơ bản nhất, bản chất
nhất, quan trọng nhất của thời đại họ đang sống. Một tác phẩm có tính nhân
dân phải nói lên đƣợc tƣ tƣởng tiến bộ nhất trong từng thời kì lịch sử, cách
đánh giá của ngƣời dân trƣớc hiện tƣợng xã hội. Văn học Việt Nam giai đoạn
1945-1975, là một nền văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và
kháng chiến, hƣớng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân
dân, thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tƣơng lai tất thắng của cuộc
kháng chiến. Tính nhân dân trong văn học cách mạng 1945-1975 là sự liên hệ
với nhân dân, là sự phản ánh cuộc sống của nhân dân, là sự biểu hiện tƣ
tƣởng, tình cảm, nguyện vọng và lợi ích của ngƣời lao động trong sản xuất,
chiến đấu. Việc biểu hiện đó theo quan điểm của giai cấp vô sản dƣới sự
lãnh đạo của Đảng. Chính vì vậy tính nhân dân và tính Đảng cộng sản có
quan hệ mật thiết trong nền văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn này. Do
đó không phải tính giai cấp nào cũng gắn liền với tính nhân dân, mặc dù tính
nhân dân của bất kỳ loại văn học nào cũng mang nội dung giai cấp cụ thể.
Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, tính nhân dân cao nhất đƣợc biểu hiện
tập trung ở giai cấp tiên phong. Các giai cấp khác sẽ đƣợc đánh giá về tính
nhân dân tùy theo vai trò của mình trong hàng ngũ nhân dân. Nhƣ thế cũng có
nghĩa là những tiêu chuẩn tƣ tƣởng - thẩm mỹ cao nhất của tính nhân dân
trong văn học cũng biến đổi tùy theo sự thay đổi vị trí của các giai cấp tiên
phong trong lịch sử.
Tính đảng cộng sản và tính nhân dân thống nhất với nhau trong văn học
cách mạng 1945-1975. Vì tính đảng đƣợc coi là tính giai cấp tiến bộ nhất,
giác ngộ nhất trong nhân dân lao động. Hơn nữa đảng cộng sản Việt Nam
"ngoài lợi ích của nhân dân ra Ðảng ta không có một lợi ích nào khác"( Hồ

sau cách mạng tháng Tám, Đảng ta chủ trƣơng nâng cao tính dân tộc trong
văn học nghệ thuật. “Đề cƣơng văn hóa Việt Nam”(1943) do Trƣờng Chinh
soạn thảo đã nhấn mạng ba phƣơng châm lớn của văn hóa văn nghệ là: dân

18


tộc, khoa học, đại chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn văn nghệ
sĩ: “Phải trau dồi văn hóa Việt Nam cho thật có tinh thần thuần túy Việt
Nam’’.Chính vì vậy tính dân tộc của một tác phẩm văn học trƣớc hết biểu
hiện ở nội dung phản ánh đúng đắn và chân thực cuộc sống và chiến đấu của
nhân dân trong ba mƣơi năm trƣờng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ. Những tác phẩm văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 đều mang đậm
tính dân tộc vì đã phát huy tinh thần yêu nƣớc, đề cao niềm tự hào dân tộc,
khơi dậy lòng căm thù quân xâm lƣợc, kêu gọi đấu tranh giành độc lập, tự do
cho tổ quốc. Đất nƣớc Việt Nam là một dải đất hẹp nằm trên bán đảo Đông
Dƣơng, dân tộc Việt Nam phải chịu đựng dồn dập thiên tai và nạn ngoại xâm.
Hoàn cảnh ấy đã tạo cho con ngƣời Việt Nam tinh thần bất khuất và lòng
nhân ái bao la.Tinh thần bất khuất bộc lộ trong ý thức tự chủ, tinh thần tự lực,
tự cƣờng chống mọi sự đàn áp, tinh thần đoàn kết, quyết tâm chống giặc
ngoại xâm giành lại độc lập tự do…là những tƣ tƣởng đƣợc biểu hiện sâu sắc
trong các tác phẩm văn học giai đoạn này. Giữ gìn và phát huy bản sắc của
dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của tác phẩm văn học. Giai đoạn 1945-1975,
tính dân tộc thể hiện trong bản chất của văn học cách mạng đó là giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nƣớc.
Tính Đảng với tính giai cấp: Đảng luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ
giữa văn học và kinh tế, chính trị“Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy”, “văn hóa
nghệ thuật cũng nhƣ mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải đứng
trong kinh tế, chính trị”[44]. Do đó văn học bao giờ cũng có một bản chất xã
hội nhất định, thuộc về một giai cấp nhất định.Lênin nói: “Trong xã hội dựa

Hay nói theo Lê nin “ Tính Đảng là kết quả và là sự biểu hiện về chính trị của
những sự đối lập về giai cấp phát triển đến cao độ. Ngƣợc lại, để tiến hành
một cuộc đấu tranh giai cấp công khai và rộng rãi, nhất thiết phải phát triển
tính Đảng triệt để” ”[30]. Những luận điểm quan trọng của tính Đảng đƣợc
thể hiện trong tác phẩm nổi tiếng của V.I. Lênin về Tổ chức Đảng và văn học

20


có tính Đảng viết năm 1905. Qua những quan điểm của Lênin có thể rút ra
rằng, khi tính giai cấp đƣợc biểu hiện một cách cao nhất, tập trung nhất trong
tác phẩm văn học, chứng tỏ các tác giả đã tự giác, thẳng thắn, công khai đứng
về lập trƣờng của một giai cấp nhất định thì tính giai cấp đƣợc nâng lên thành
nguyên tắc tính Đảng trong văn học.
Trong thực tiễn văn nghệ cách mạng Việt Nam, ngay từ năm 1943, trong
Đề cƣơng văn hóa Việt Nam, Đảng Cộng sản đã khẳng định dứt khoát vai trò
lãnh đạo của mình đối với sự nghiệp văn hóa dân tộc. Văn học có tính Đảng,
trƣớc hết là văn học phục vụ cách mạng, phải trở thành “một bánh xe nhỏ và
một cái đinh ốc nhỏ” trong bộ máy dân chủ vĩ đại thống nhất do đội tiền
phong hoàn toàn giác ngộ của giai cấp công nhân điều khiển”[30,87]. Văn
học phải gắn chặt với nhiệm vụ, với công tác cách mạng. Nhiệm vụ của cách
mạng thay đổi trong từng giai đoạn, phụ thuộc vào đƣờng lối chiến lƣợc và
sách lƣợc của Đảng.
1.2. Sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với văn
học cách mạngViệt Nam 1945-1975
1.2.1. Quan niệm văn học phục vụ chính trị, phục vụ sự nghiệp cách
mạng.
Tính Đảng trong văn học đã ảnh hƣởng trực tiếp, góp phần làm nên diện
mạo riêng của nền văn học cách mạngViệt Nam 1945 - 1975. Khác với giai
đoạn trƣớc Cách mạng tháng Tám, nền văn học nghệ thuật giai đoạn này phát

dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu là đòi hỏi, yêu cầu của
thời đại, đồng thời cũng là tình cảm, ý thức tự giác của nhà văn. Hiện thực đời
sống cách mạng và kháng chiến đã đem đến nguồn cảm hứng lớn, những
phẩm chất mới cho văn học: “ Văn nghệ phụng sự kháng chiến, nhƣng chính
kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới. Sắt lửa mặt trận đang
đúc nên văn nghệ mới của chúng ta”( Nguyễn Đình Thi, Nhận Đường).

22


Gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nƣớc nên quá trình vận
động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đƣờng lịch sử
của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nƣớc. Văn học cách
mạng Việt Nam từ năm 1945- 1975 tập tung vào đề tài tổ quốc: bảo vệ đất
nƣớc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc. Toàn bộ nền văn
học, từ thơ ca, truyện, kí đến nghệ thuật sân khấu, đều tập trung khai thác
xung đột mâu thuẫn giữa ta và địch; đặt lợi ích của tổ quốc, của toàn dân tộc
lên trên hết. Nhân vật trung tâm của văn học là ngƣời chiến sĩ trên mặt trận vũ
trang và những lực lƣợng trực tiếp phục vụ chiến trƣờng nhƣ dân quân du
kích, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến…Tổ quốc trở thành niềm
cảm hứng lớn, một đề tài chủ yếu, xuyên suốt trong những bài thơ của Tố
Hữu, Chế Lan Viên, Giang Nam, Thanh Hải, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Pham
Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm…; trong những truyện ngắn của Nguyễn Thi,
Anh Đức, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng và trong tiểu thuyết của Anh
Đức, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu…
Cùng với đề tài tổ quốc, chủ nghĩa xã hội cũng là một đề tài lớn của văn
học Việt Nam giai đoạn này. Miền Bắc đƣợc giải phóng, sau mấy năm hàn
gắn vết thƣơng chiến tranh đã bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới,
con ngƣời mới. Chủ nghĩa xã hội là mơ ƣớc, là cái đích hƣớng tới của toàn
dân tộc, là khát vọng vƣơn tới những tầm cao mới của cuộc sống. Trung tâm

bồi dƣỡng cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hóa để gây dựng phong trào
văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc, phải dùng hình thức công khai hoặc bán
công khai để đoàn kết các nhà văn hóa và trí thức, nêu lên những nhiệm vụ
cần kíp của những nhà văn hóa mác xít Việt Nam nhằm mục tiêu chống lại
văn hóa phát xít .Đồng thời Đảng công bố Đề cương văn hóa. Trong bản đề
cƣơng này Đảng đã nhận định con đƣờng phát triển tất yếu của văn hóa Việt
nam là “văn hóa xã hội chủ nghĩa”. Đề cƣơng dƣới hình thức cô đọng vạch rõ
phạm vi vấn đề về văn hóa; quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị; thái độ

24


của Đảng đối với vấn đề văn hóa: “ Cách mạng văn hóa ở Việt Nam phải dựa
vào cách mạng dân tộc giải phóng mới có điều kiện phát triển”, đồng thời
Đảng cũng xác định rằng cách mạng văn hóa có tác dụng ngƣợc trở lại đối với
cách mạng xã hội: “ Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành
đƣợc cuộc cải tạo xã hội”. Đặc biệt Đảng đề ra ba nguyên tắc dân tộc hóa,
khoa học hóa, đại chúng hóa. . Năm 1944, Trƣờng Chinh đã cụ thể hóa
những nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa bằng bài viết “ Mấy nguyên
tắc lớn của cuộc vân động văn hóa Việt Nam mới lúc này”. Quan điểm văn
nghệ cách mạng phải có tính chiến đấu đƣợc các đồng chí lãnh đạo xác định
rõ ràng, nhất quán, sinh động:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
( Hồ Chủ tịch- Cảm tƣởng đọc Thiên gia thi)
“Dùng ngọn bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”
( Sóng Hồng- Là thi sĩ)
Năm 1947 trong bức thƣ gửi các nhà văn hóa và trí thức Nam Bộ, Hồ
Chủ tịch viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những thứ vũ khí sắc bén trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status