TỶ LỆ HIỆN MẮC MỘT SỐ BỆNH MẠN TÍNH VÀ GÁNH NẶNG CHI PHÍ HỘ GIA ĐÌNH CHO CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN MẮC MỘT SỐ BỆNH MẠN TÍNH TẠI XÃ LÂU THƯỢNG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y H À NỘI
………***……….

VŨ XUÂN PHƯỚC

TỶ LỆ HIỆN MẮC MỘT SỐ BỆNH MẠN TÍNH VÀ GÁNH
NẶNG CHI PHÍ HỘ GIA ĐÌNH CHO CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU
TRỊ BỆNH NHÂN MẮC MỘT SỐ BỆNH MẠN TÍNH TẠI XÃ
LÂU THƯỢNG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khóa 2005 - 2011

HÀ NỘI – 6/2011


2

BỘ
Ộ GIÁO DỤC
D
VÀ ĐÀO
Đ
TẠO
O

BỘ Y TẾ

ĂM SÓC
C VÀ ĐIỀ
ỀU
TR
RỊ BỆNH
H NHÂN
N MẮC M
MỘT SỐ BỆNH MẠN
M
TÍN
NH TẠI XÃ
X
LÂU
L
THƯỢNG, HUYỆN
N VÕ NHA
AI, TỈNH
H THÁI NGUYÊ
ÊN
Chuyyên ngành: Kinh tế y tế

KH
HÓA LU
UẬN TỐT
T NGHIỆ
ỆP BÁC SĨ Y KH
HOA
Khóóa 2005 - 2011
2
Giáo viiên hướngg dẫn: TS. Hoàng Văăn Minh

Sinh viên làm khóa luận
Vũ Xuân Phước


4

MỤC LỤC
Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN .......................................................... 4
1.1. Khái quát bệnh mạn tính. .................................................................... 4
1.2. Gánh nặng bệnh tật do bệnh mạn tính............................................... 4
1.3. Gánh nặng về kinh tế do bệnh mạn tính. ........................................... 6
1.4. Sự gia tăng bệnh mạn tính và các yếu tố nguy cơ. ............................ 9
1.5. Tình hình sử dụng dịch vụ y tế.......................................................... 10
1.6. Giải pháp cho gánh nặng gây ra bởi bệnh mạn tính....................... 11

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................ 13
2.1. Đối tượng nghiên cứu. ........................................................................ 13
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu..................................................... 13
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu. ................................................................... 13
2.2.2. Thời gian nghiên cứu. .................................................................. 13
2.3. Phương pháp nghiên cứu. .................................................................. 14
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu. ..................................................................... 14
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu. ................................................................... 14
2.3.3. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin. ...................................... 14
2.3.3.1. Công cụ. .................................................................................. 14
2.3.3.2. Kỹ thuật thu thập thông tin. .................................................... 15
2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu. ............................................................. 15

KẾT LUẬN ……………………………………………...……… 47
KIẾN NGHỊ .................................................................................. 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………... 52
PHỤ LỤC …………………………………………………...….. 56


6

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

20

Bảng 3.2 Tài sản của các hộ gia đình điều tra

21

Bảng 3.3 Tỷ lệ chi phí thảm họa (chi phí trực tiếp cho y tế của hộ
gia đình bằng hoặc lớn hơn 40% khả năng chi trả của hộ
gia đình)

34

Bảng 3.4 Tỷ lệ Nghèo hóa do chi phí y tế (gia đình không nghèo
nếu không phải chi phí cho y tế => trở thành nghèo vì
phải chi phí cho y tế)

34



24

Hình 3.4

Tỷ lệ mắc bệnh phổi

25

Hình 3.5

Tỷ lệ mắc bệnh khớp

25

Hình 3.6

Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch

26

Hình 3.7

Tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp

26

Hình 3.8

Tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ


Chi phí điều trị nội trú 12 tháng qua

31

Hình 3.14

Chi phí điều trị ngoại trú 4 tuần qua

32

Hình 3.15

Chi phí tự điều trị trong 4 tuần qua

33


8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT

Bảo hiểm Y tế

CBCNV

Cán bộ, công nhân viên



Việt Nam đồng

WHO

Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong gần hai thập kỷ vừa qua, đổi mới ngành Y tế đã chiếm vị trí ưu
tiên cao trong chương trình phát triển và định hướng chiến lược của mỗi quốc
gia. Tại nhiều nước đang phát triển, chính phủ đang phải đối mặt với sức ép
ngày càng tăng nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng tài chính cho hệ thống
cung cấp dịch vụ y tế, đặc biệt là trong việc đổi mới nhằm nâng cao điều kiện
sống cho người nghèo.
Tuy nhiên, những thay đổi và xu hướng thực tiễn của ngành y tế trong
vòng hai thập kỷ qua thường mâu thuẫn với những mục tiêu đề ra. Nhìn
chung, tổng chi phí cho chăm sóc sức khỏe đã tăng nhanh hơn so với tốc độ
tăng trưởng kinh tế [3]. Cùng với sự phát triển của xã hội, trong lĩnh vực y tế
bệnh mạn tính đang trở thành vấn đề nổi cộm và ảnh hưởng ngày càng lớn tới
cuộc sống của người dân và toàn xã hội.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh mạn tính là bệnh có thời gian ủ bệnh
và quá trình diễn biến bệnh kéo dài [30], thời gian bị bệnh là từ 3 tháng trở
lên. Bệnh mạn tính không thể ngăn ngừa bằng vắc xin, không thể chữa khỏi
hoàn toàn và cũng không tự biến mất. Bệnh mạn tính phần lớn không do vi
khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gọi là bệnh mạn tính không lây nhiễm.
Xu hướng hiện nay trên thế giới là bệnh mạn tính không lây nhiễm ngày càng
tăng.

Hiện nay trên thế giới, các nghiên cứu về bệnh mạn tính đa phần tập
chung vào tìm hiểu, phân tích gánh nặng của từng bệnh riêng lẻ như: ung thư,
tăng huyết áp, COPD…các nghiên cứu tập trung vào một số bệnh mạn tính là
không nhiều. Việc đi sâu nghiên cứu gánh nặng của một số bệnh sẽ cho một
cái nhìn bao quát hơn về tình hình bệnh tật của người dân và gánh nặng chi
phí chung mà họ phải chi trả .
Ở Việt Nam, mặc dù số lượng các nghiên cứu về bệnh mạn tính đã tăng
đáng kể trong thời gian gần đây, nhưng hiện vẫn còn rất thiếu các nghiên cứu


3

về chi phí chăm sóc và điều trị của người dân bị mắc các bệnh này. Những
thông tin này là rất cần thiết cho việc lập kế hoạch và triển khai các giải pháp
can thiệp hiệu quả để giảm gánh nặng bệnh tật gây ra bởi các bệnh mạn tính.
Vì các lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Tỷ lệ hiện mắc
một số bệnh mạn tính và gánh nặng chi phí hộ gia đình cho chăm sóc và
điều trị bệnh nhân mắc một số bệnh mạn tính tại xã Lâu thượng, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên” với các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ hiện mắc một số bệnh mạn tính tự khai báo tại xã Lâu
thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên năm 2010.
2. Xác định mức chi phí y tế và gánh nặng chi phí của hộ gia đình cho
chăm sóc và điều trị bệnh nhân mắc một số bệnh mạn tính tại địa
bàn nghiên cứu.
3. Phân tích một số yếu tố liên quan tới gánh nặng chi phí của hộ gia
đình cho chăm sóc và điều trị bệnh nhân mắc một số bệnh mạn tính
tại địa bàn nghiên cứu.


4

5

riêng tỷ lệ này thì thấp hơn ở khu vực miền núi (2,1%) và cao hơn tại các
thành phố lớn (4,4%). Cuộc khảo sát cũng cho thấy tỷ lệ những người giảm
dung nạp với glucose là 7,3%, cho thấy khả năng tăng mạnh trong tương lai
về tỷ lệ bệnh tiểu đường [20] [22] đòi hỏi cần phải có những biện pháp can
thiệp kịp thời và có hiệu quả hơn bao giờ hết.
Hiện nay trong số các bệnh mạn tính, căn bệnh ung thư đang là một bài
toán nan giải, một gánh nặng đối với ngành y tế, mặc dù đã có rất nhiều
nghiên cứu nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra phương thức chữa trị hữu hiệu do
đó nó vẫn là căn bệnh đáng sợ nhất với con người. Số liệu thống kê từ việc
đăng ký bệnh ung thư tại Việt Nam cho thấy, trong năm 2000, tổng số trường
hợp mắc ung thư trong cả nước là 68.810 người (36.024 nam giới, 32.786 nữ
giới). Tỷ lệ thô của bệnh ung thư là 91,5/100.000 người ở nam giới và
81,5/100.000 người ở nữ giới. Các con số này tương tự như ở các nước đang
phát triển và thấp hơn so với các nước phát triển [4].
Tăng huyết áp (THA) cũng là một trong số những bệnh mạn tính phổ
biến nhất trên thế giới. THA không chỉ có ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh
lý tim mạch mà còn có ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
“Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), THA là một trong sáu yếu tố
nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tần suất
THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức rất cao, đặc
biệt ở các nước phát triển. Tần suất THA là 28,7% ở Hoa Kỳ (2000); 22% ở
Canada (1992); 45,9% ở CuBa; 38,8% ở Anh (1998); 38,4% ở Thuỵ Điển
(1999); 26,3% ở Ai Cập (1991); 15,4% ở Cameroon (1995); 27,2% ở Trung
Quốc (2001); 20,5% ở Thái Lan (2001); 26,6% ở Singapore (1998)...” [17]
Các biến chứng của THA là rất nặng nề như tai biến mạch máu não,
nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù loà... Những biến chứng này có ảnh
hưởng lớn đến người bệnh, gây tàn phế và trở thành gánh nặng về tinh thần



7

nhân, gia đình bệnh nhân, người chủ (nơi bệnh nhân làm việc) của người bệnh
và xã hội phải gánh chịu.
- Chi phí vô hình hay chi phí phi vật thể:
Là các chi phí do đau đớn, căng thẳng, lo lắng, giảm sút chất lượng
cuộc sống của người bệnh và gia đình, mất thời gian nghỉ ngơi, vv… [2]
Các khoản chi phí trực tiếp và gián tiếp sau đó được giả định là sự mất
mát của GDP [30].
Abegunde và các cộng sự, sử dụng phương pháp mô hình tiếp cận, đã
cung cấp một ước tính về thiệt hại kinh tế vĩ mô do bệnh mạn tính vành, đột
quỵ và tiểu đường ở 23 quốc gia vào năm 2005. Các con số ước tính cho Việt
Nam khoảng 20 triệu USD (chiếm 0,033% GDP của quốc gia hàng năm). Ước
tính sẽ tăng gần gấp đôi vào năm 2015 nếu không có những biện pháp can
thiệp kịp thời. Các khoản lỗ tích lũy trong GDP do các bệnh mạn tính tại Việt
Nam từ năm 2006 và 2015 có thể sẽ tăng lên khoảng 270.000.000 USD. Các
con số cho Việt Nam thấp hơn so với các nước đang phát triển khác trong khu
vực như Indonesia (cộng dồn các khoản lỗ là 4,18 tỷ USD), Thái Lan (1,49 tỷ
USD), và Philippines (620.000.000 USD)… [18].
Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, trong các bệnh lý tim mạch,
chi phí trực tiếp để điều trị bệnh TBMMN ở nước ta là 144 tỷ VNĐ/năm,
trong đó hậu quả do THA gây ra là 85,4 tỷ VNĐ [17].
Một thực nghiệm gần đây nghiên cứu về các chi phí liên quan tới việc
hút thuốc tại Việt Nam trong năm 2005 báo cáo rằng tổng chi phí chăm sóc
sức khỏe bệnh nhân nội trú mắc các bệnh do hút thuốc lá ở Việt Nam ít nhất
cũng vào khoảng 77.500.000 USD. Nó chiếm khoảng 0,22% GDP của Việt
Nam và 4,3% tổng chi tiêu y tế. Phần lớn các chi phí có liên quan đến điều trị
COPD (68.900.000 USD/năm) tiếp theo là ung thư phổi (5.200.000
USD/năm) và bệnh tim thiếu máu cục bộ (3.300.000 USD/ năm). Chính phủ

khác kiếm tiền thay vì nằm viện hay điều trị tại nhà. Ngoài ra còn nhiều


9

khoản chi phí liên quan khác như: chi phí cho phương tiện di chuyển, đi lại,
ăn ở, sinh hoạt, chi phí cho người thân đi kèm chăm sóc (chi phí gián tiếp)…
Những chi phí trên, nếu tính về mặt kinh tế cũng là rất lớn. Trong phạm vi của
nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung đi sâu vào tìm hiểu những chi phí trực
tiếp cho y tế mà người dân phải chi trả.
1.4. Sự gia tăng bệnh mạn tính và các yếu tố nguy cơ.
Sự phát triển về đời sống xã hội đã kéo theo sự gia tăng đáng kể về
bệnh tật (trong đó có nhiều bệnh mạn tính) và các yếu tố nguy cơ. Hiện nay,
trên thế giới có hơn một tỉ người cân nặng vượt chuẩn và ít nhất 300 triệu
người bị béo phì. Ước tính có khoảng 177 triệu người bị đái tháo đường, phần
lớn là đái tháo đường típ 2 và hai phần ba số người bị đái tháo đường sống tại
các nước đang phát triển. Khoảng 75% các bệnh mạn tính là do các yếu tố
chính sau gây ra: rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, chế độ ăn ít rau và trái cây,
ít vận động thân thể và hút thuốc lá. Thống kê của Hoa Kỳ cho thấy trong số
những người từ 65 tuổi trở lên, có tới 75% số người bị ít nhất một bệnh mạn
tính và 50% bị ít nhất 2 bệnh mạn tính [34].
Đối với Việt Nam, sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã có
những bước chuyển mình mạnh mẽ, kinh tế không ngừng phát triển, đời sống
nhân dân ngày càng nâng cao, điều đó càng giúp nhân dân có điều kiện được
chăm sóc sức khỏe toàn diện hơn. Cũng như các nước trên thế giới, song hành
với sự phát triển đó là sự gia tăng của bệnh tật và các yếu tố nguy cơ được
cho là hệ quả của sự phát triển về mức sống của người dân. Gánh nặng bệnh
tật do các bệnh mạn tính ở Việt Nam cũng là đáng kể. Theo số liệu thống kê
quốc gia từ năm 1986 đến năm 2003, tỷ lệ nhập viện do bệnh mạn tính đã
tăng từ 39% lên đến 68% [3]. Một nghiên cứu trên dân số ở nông thôn Việt

tại bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và nhiều hơn
cả là tự điều trị vì không đủ tiền để tiếp cận các dịch vụ y tế cao hơn.


11

Điều tra mới nhất cho thấy, số người nghèo sử dụng dịch vụ nội trú tại
bệnh viện tuyến tỉnh là 23%, chưa bằng một nửa so với người giàu là 51%.
Còn đối với các bệnh viện lớn ở Trung ương, chỉ có 3,9% người nghèo sử
dụng các dịch vụ y tế. Đáng buồn hơn, mặc dù chỉ tiếp cận dịch vụ y tế ở mức
thấp nhưng gánh nặng chi phí y tế dồn lên đôi vai người nghèo lại nặng nề
nhất trong các nhóm dân cư. Có tới gần 60% số hộ gia đình nghèo mắc nợ do
chi phí khám chữa bệnh và 67% phải vay mượn tiền để chi trả điều trị nội trú
[35]. Chi phí dịch vụ y tế cao đã đẩy nhiều hộ gia đình nghèo rơi vào cảnh
kiệt quệ.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phượng, đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại
Việt Nam cho biết, mỗi năm cả nước có khoảng 774.000 hộ rơi vào cảnh
nghèo đói, chiếm khoảng 3,7% số hộ gia đình Việt Nam vì phải trả chi phí
quá lớn cho khám chữa bệnh. Thậm chí, ngay cả khi người nghèo có bảo hiểm
y tế hoặc được miễn giảm viện phí, gánh nặng chi trả dịch vụ y tế vẫn là quá
lớn, dù mức chi phí này chỉ là một phần rất nhỏ so với người có thu nhập bình
thường. Với những bất cập trên, người nghèo hiện đang gặp rất nhiều khó
khăn khi đi viện [35].
1.6. Giải pháp cho gánh nặng gây ra bởi bệnh mạn tính.
Hiện nay ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, một giải pháp quan
trọng và có ý nghĩa nhất để giảm bớt gánh nặng bệnh tật (đặc biệt là với người
nghèo) chính là Bảo hiểm Y tế (BHYT) với nhiều hình thức khác nhau. Triết
lí của chương trình này là “lá lành đùm lá rách” (tương trợ xã hội), người giàu
hỗ trợ người nghèo, người có việc làm hỗ trợ người không có việc làm, và
người khỏe mạnh hỗ trợ người có bệnh.

Người dân thuộcc các hộ giaa đình
.
2.2
2.1. Địa điểểm nghiên
n cứu.
, huyện Võ Nhai, tỉnh
Thhái Nguyên
n. Xã Lâu Thượng
T
nằằm dọc theeo đường qquốc lộ 1B. Diện tíchh của
xã là 400 ha. Có khoảnng 7000 ngư
ười sống ở 11 thôn. N
Năm 2006
6, tỷ lệ sinhh thô
là 14,9 ‰, tỷ
ỷ lệ chết thhô là 5,18 ‰ và tỷ lệ trẻ em tử vong dướii 5 tuổi là 10,9
Xã Lâu Thư
ượng cách Thủ
‰.. Số hộ giaa đình nghhèo năm 20008 ở xã làà 36 %. X
đô Hà Nội 90
0 km về phhía Bắc.

Lâu
Thượng

Việt Nam
N

X Lâu Thư


Ö n=318
Điều chỉnh với hệ số thiết kế =2 khi nghiên cứu lấy toàn bộ hộ gia đình=> cỡ
mẫu cần là 640 người. Lấy thêm 10% để khống chế tỷ lệ không trả lời-> cỡ
mẫu cần có là 700 (tương đương 200 hộ gia đình).
2.3.3. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin.
2.3.3.1. Công cụ.
Bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế sẵn bởi các nghiên cứu viên (có
tham khảo các bộ câu hỏi đã áp dụng tại Việt Nam và trên thế giới) và được
xin ý kiến của các chuyên gia.


15

2.3.3.2. Kỹ thuật thu thập thông tin.
Đội ngũ nhân viên từ các trung tâm y tế xã và trung tâm dân số xã đã
tham gia vào quá trình thu thập số liệu.
Tất cả các điều tra viên đã qua đào tạo 2 ngày dưới sự hướng dẫn của
nhóm nghiên cứu viên Trung ương. Trong thời gian đào tạo, mọi câu hỏi đã
được đưa ra nghiên cứu và thảo luận. Các vấn đề phát sinh về bộ câu hỏi cũng
như các thắc mắc về tình hình thực tế tại địa phương đã được trao đổi thỏa
đáng để bộ câu hỏi thực sự rõ ràng với các điều tra viên. Các nhóm thu thập
số liệu cũng đã tiến hành phỏng vấn thử, sau đó các vấn đề gặp phải đã được
nêu ra và được làm rõ bởi các giảng viên.
Để có được thông tin chính xác về tình hình sức khỏe và các chi phí y
tế, người chủ hộ gia đình (hoặc các thành viên khác trong gia đình) cũng được
kiểm tra chéo thông tin hàng tháng từ các cơ sở y tế.
2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu.
2.4.1 Các biến số chung.
Là các thông tin chung về dân số của 2 xã và của người mắc bệnh mạn
tính, bao gồm:

o Bao gồm: tiền khám, tiền thuốc, tiền giường, tiền xét nghiệm, vv...
o Không bao gồm: đi lại, bồi dưỡng, chi cho mua BHYT, các khoản
được BHYT chi trả, vv...
• Chi phí cho lương thực, thực phẩm (không bao gồm chi phí ăn ở nhà hàng,
tiệc, thuốc lá, rượu)
• Chi phí thiết yếu: là các khoản chi tối thiểu để duy trì cuộc sống của hộ gia
đình. Ðược tính dựa trên “ngưỡng nghèo” lương thực, thực phẩm.
• Khả năng chi trả:
o Nếu chi phí thiết yếu nhỏ hơn chi phí cho lương thực, thực phẩm thì
khả năng chi trả được tính bằng tổng chi phí trừ chi phí thiết yếu


17

o Nếu chi phí thiết yếu lớn hơn chi phí cho lương thực, thực phẩm thì
khả năng chi trả được tính bằng tổng chi phí cho lương thực, thực
phẩm
Hai chỉ số quan trọng được tính toán là:
• Chi phí “thảm họa” (Catastrophic expenditure): Chi phí y tế của các thành
viên trong gia đình cao tới mức mà hộ gia đình phải giảm chi tiêu của họ
cho các khoản khác. Chi phí trực tiếp cho y tế của hộ gia đình (Out-ofpocket health expenditure) bằng hoặc lớn hơn 40% khả năng chi trả (The
household′s capacity to pay) của gia đình họ
Chi phí y tế
---------------- >= 40%
Khả năng chi trả
• “Nghèo hóa” do chi phí y tế (Impoverishment): gia đình không nghèo nếu
không phải chi phí cho y tế => trở thành nghèo vì phải chi phí cho y tế
tổng chi phí >= chi phí thiết yếu
tổng chi phí - chi phí y tế < chi phí thiết yếu
2.5. Sai số và cách khắc phục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status