Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ huy cận - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

Ket-noi.com chia se mien phi
PHÙNG THU HẰNG

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƢỜI TRONG THƠ HUY CẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý Luận văn học

Hà Nội - 2014
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

PHÙNG THU HẰNG

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƢỜI TRONG THƠ HUY CẬN

Chuyên ngành: Lý Luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ


bố trong bất cứ công trình nào. Nếu lời cam đoan trên là sai tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn

Phùng Thu Hằng

4


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 2
2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................... 7
3. Mục đích và nhiệm vụ ........................................................................................ 5
4. Phạm vi khảo sát, đối tượng nghiên cứu ......................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................10
6. Đóng góp của luận văn ....................................................................................... 6
7. Cấu trúc của luận văn. ........................................................................................ 7
NỘI DUNG ................................................................................................................... 8
CHƢƠNG 1. HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA HUY CẬN VÀ QUAN
NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI .......................................................... 8
1.1.Hành trình sáng tạo của Huy Cận ................................................................... 8
1.1.1. Trước Cách mạng ..................................................................................... 8
1.1.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1975...................................13
1.1.3. Từ năm 1975 đến năm 2005 ................................................................19
1.2 . Quan niệm nghệ thuật về con người ..........................................................26
CHƢƠNG 2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI TRONG
THƠ HUY CẬN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 .....35
2.1. Con người với nỗi buồn, sự cô đơn bế tắc .................................................37
2.2. Con người hướng về cõi mộng, trời xưa và thế giới tâm linh ................44

thể nghệ thuật độc đáo. Và một trong những vấn đề quan trọng nhất trong thế
giới thơ Huy Cận là quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm nghệ
thuật về con người là yếu tố cơ bản nhất, then chốt nhất của một chỉnh thể
nghệ thuật chi phối toàn bộ tính độc đáo và hệ thống nghệ thuật của chỉnh thể
ấy. Khi quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi thì nó sẽ kéo theo sự thay
đổi của toàn bộ chỉnh thể nghệ thuật. Cho nên khi nghiên cứu tác phẩm chúng

6


ta phải nghiên cứu quan niệm nghệ thuật con người trong tác phẩm đó để
khám phá phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
1.3. Với khuôn khổ một luận văn và với khả năng của một giáo viên
phổ thông, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Quan niệm nghệ thuật về con
người trong thơ của Huy Cận một mặt là để hiểu thêm về tư tưởng nghệ thuật
đặc sắc của tác giả, mặt khác để hiểu cách cảm nhận, cách cắt nghĩa của nhà
thơ về con người và cuộc đời trong các tác phẩm thơ được giảng dạy trong
trường.
2. Lịch sử vấn đề
Huy Cận đã đi qua một chặng đường thơ dài hơn sáu thập kỷ. Thời kỳ nào
thơ Huy Cận cũng thu hút được sự chú ý của giới phê bình, nghiên cứu và đông
đảo bạn đọc. Trong gần bảy thập kỷ qua đã có hàng trăm bài tiểu luận, chuyên luận
viết về thơ Huy Cận từ nhiều góc độ khác nhau. Các nhà thơ, các nhà phê bình
nghiên cứu văn học như Xuân Diệu, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Hoài Thanh,
Chế Lan Viên, Trinh Đường, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Xuân Nam, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long,
Ngô Quân Miện, Vũ Quần Phương, Đỗ Lai Thuý, Bế Kiến Quốc, Trần Mạnh
Hảo..., đều có những bài tiểu luận sâu sắc về Huy Cận. Các nhà thơ, các nhà
nghiên cứu đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên cả hai chặng đường
thơ, trước và sau Cách mạng. Nhiều ý kiến đã lý giải được quá trình vận động cảm

thiêng trong đời và trong thơ. Ông cho rằng “ Thơ Huy Cận buồn, căn bệnh
tinh thần của một thế hệ không dễ thay đổi; nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng
không mang nhiều nỗi riêng tư, không gắn với dục vọng, đam mê để rồi chán
chường tuyệt vọng. Vẫn có một mạch tình cảm trong trẻo, thiết tha gắn bó ân
cần với cuộc sống và nói như cách nói của tác giả sau này, đó là tâm trạng yêu
đời nên đau đời” (Một thời đại trong thi ca (Nxb Khoa học xã hội, HN, 1997).

8


Ngoài ra người viết còn nhận thấy rất nhiều các bài nghiên cứu, đánh giá
cuộc đời, sự nghiệp hay hồi ức và kỉ niệm về Huy Cận – một nhà thơ, nhà văn
hóa lớn của Việt Nam, sau khi ông qua đời (2005). Đó là các bài báo của các
nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Mai Quốc
Liên, Đăng Khoa, Trần Mạnh Hảo....
Người tập trung nghiên cứu nhiều về Huy Cận là Trần Khánh Thành. Từ
năm 2002 ông cho ra đời chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận (Nxb Văn học,
HN). Đây là một công trình nghiên cứu công phu những tác phẩm từ tập Lửa
thiêng đến những tập thơ sáng tác sau Cách mạng tháng Tám. Dưới góc độ thi
pháp học, ông phân tích quan niệm nghệ thuật, không gian nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật, các phương thức biểu hiện và cái tôi trữ tình với nhiều đối
cực trong thơ Huy Cận. Tác giả đã mô tả và chứng minh cái tôi trữ tình luôn
hài hòa và vận động giữa nhiều đối cực xuyên suốt, so sánh với giai đoạn
sáng tác thơ là tìm đến cái đẹp hài hòa giữa cuộc đời và vũ trụ, giữa cuộc đời
riêng và cuộc đời chung, giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực,
giữa cảm xúc tươi tắn và tầm cao trí tuệ. Chúng tôi kế thừa được khá nhiều
luận điểm từ công trình này
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn này được viết ra nhằm khẳng định những đóng góp của Huy
Cận thông qua thực tiễn sáng tạo. Mặt khác nhằm khẳng định vị trí của Huy

thuật về con người trong các sáng tác của Huy Cận trước và sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945. Từ đó, nó cho thấy tầm quan trọng của quan niệm nghệ
thuật về con người - con người đóng vai trò trung tâm, không thể vắng mặt
trong tác phẩm nghệ thuật.
Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con
người, ta sẽ hiểu rõ ý đồ mà nhà văn gửi gắm vào trong tác phẩm và thông
qua tác phẩm ta biết được tư tưởng nhà văn.

10


6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn các sáng tác
của Huy Cận. Nó là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy
chuyên đề văn học Việt Nam trong các trường trung học, cao đẳng và đại học.
7. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tạo của Huy Cận và quan niệm nghệ thuật
về con người
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Huy Cận
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Chương 3: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Huy Cận sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945

11


NỘI DUNG
Chƣơng 1

bình nhận ra đó là “thơ của tuổi hai mươi”. Trong Lủa thiêng có một mảng
thơ gần như bao trùm được hết cảm xúc một thời hoa niên đẹp đẽ, trong trẻo
với tuổi trẻ lãng mạn, đầy mộng mơ và cũng đầy đau khổ, còn có cả hình ảnh
khu vườn với chiếc lá thu, với những chàng học sinh đầy lãng mạn. Huy Cận,
một “chàng thơ” hay “tủi nắng, sầu mưa” nhưng trong tình yêu lại hết sức
lãng mạn thiết tha. Cảm xúc trong ngôn từ tình yêu đôi khi rất trừu tượng qua
hồn - “nhân vật trữ tình” Hồn hay người? Đời thực hay cõi mơ? Thế giới
mộng và thực dường như hòa quyện lạ lùng.
Sau nhiều năm trôi qua, các nhà nghiên cứu càng thấy ánh sáng kì diệu
của Lửa thiêng. Tuy bị ràng buộc bởi cách nhìn có phần khắt khe của một giai
đoạn lịch sử nhưng các nhà nghiên cứu đều chỉ ra lòng yêu đời, tình yêu tiếng
Việt và vẻ đẹp trong trẻo của hồn thơ Huy Cận. Từ năm 1985 đến nay, Lửa
thiêng càng được khẳng định và khai thác từ nhiều phương diện khác nhau.
Trong chuyên luận Thơ mới, những bước thăng trầm Lê Đình Kỵ đặc biệt
nhấn mạnh nguồn mạch truyền thống chảy dào dạt trong những vần thơ Lửa
thiêng. Còn nhà thơ Trinh Đường trong tiểu luận Huy Cận và Lửa thiêng đã
cảm nhận sâu sắc nỗi buồn thương của Huy Cận về quê hương đất nước, về
kiếp người đau khổ và lòng yêu đời tha thiết của thi nhân. Đỗ Lai Thúy trong
tiểu luận Huy Cận và sự khắc khoải không gian đã chỉ ra được những đặc
điểm cơ bản của không gian nghệ thuật Lửa thiêng. Đó là không gian “ hóa
thân của thiên đường, của sự hòa đồng nguyên thủy thủa xưa”. Nó không hề
khép kín mà mở về phía trần thế để có sự tương giao giữa con người và không
gian. Trong tập tiểu luận Một thời đại trong thi ca Hà Minh Đức đã có những
kiến giải mới mẻ về Ngọn lửa thiêng trong đời và trong thơ của Huy Cận.
Ông cho rằng thế giới tâm linh kết thành ngọn lửa thiêng trong thơ Huy Cận.

13


Đó là thế giới tâm linh soi rọi như ánh sáng, như niềm tin vào lương tri của

tiếc. Không phải Huy Cận tìm thấy lòng mình trong cảnh mà lòng thi nhân đã
hóa cảnh để chờ đón những ngọn gió trong đời, nhà thơ tự phơi trải lòng mình
để tìm miền đồng cảm. Vì thế trong Lửa thiêng không gian nội tâm tương
thông với không gian ngoại cảnh, tạo nên sự hòa quyện giữa thực và ảo, ngoại
cảnh và nội tâm.
Huy Cận luôn mang nỗi khắc khoải không gian. Chủ thể trữ tình xuất
hiện giữa không gian trần thế, bị đóng khung trong những giới hạn chật chội
nên luôn khát vọng giao tiếp, khát vọng chiếm lĩnh không gian trên cao.
Trong hành trình chiếm lĩnh không gian ấy Huy Cận cảm nhận không gian
rộng lớn trên nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều lớp. Nhưng cũng trong hành
trình ấy tâm hồn Huy Cận chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Nhà thơ vừa khao
khát cái xa xôi lại vừa sợ cái xa xôi. Muốn thoát khỏi cái nhỏ hẹp nhưng khi
đối diện với cái rộng lớn vô hạn lại cảm thấy cô đơn, bé nhỏ. Trong nhiều bài
thơ của tập thơ này không gian vĩ mô và vi mô bị phân hóa, trở thành tương
phản. Lúc ấy nhà thơ tự nhận ra cái tôi cô đơn của mình trước vũ trụ bao la.
Cảm thức ấy khác với thi sĩ xưa, bởi Huy Cận là nhà thơ mới, một nhà thơ
trong trào lưu văn học lãng mạn.
Bằng năng lực cảm nhận tinh tế và khả năng phân tích sắc sảo, Xuân
Diệu đã nói lên được những đặc điểm cơ bản của hồn thơ Huy Cận, một hồn
thơ “ mang linh hồn trời đất” và mang nặng tình đời, tình người, tình yêu sự
sống. Trong thi nhân Việt Nam, vị trí của Huy Cận được Hoài Thanh – Hoài
Chân khẳng định: Trong số 46 nhà thơ được đưa và tuyển tập này, Huy Cận
có số lượng bài thơ được tuyển vào loại nhiều nhất. Ở phần giới thiệu nhà phê
bình Hoài Thanh đã nói lên khả năng cảm nghe tinh tế của nhà thơ Huy Cận :
“ Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng
nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong”.
Thơ Huy Cận “nhiều tình mà ít chuyện”, ông có khả năng tìm ra thơ trong
15



Bên cạnh hai tập thơ Lửa thiêng và Vũ trụ ca năm 1942 Huy Cận còn
có tập văn xuôi triết lý Kinh cầu tự. Kinh cầu tự là lời cầu sự sống cho con
người và vạn vật. Chính tình yêu thiết tha sự sống, chính tình yêu đời đã kết
thành những lời cầu nguyện của nhà thơ. Những lời nguyện cầu, những câu
triết lý của Huy Cận mang mầu sắc tôn giáo nhưng lại chứa đựng một quan
điểm nhân sinh tích cực. Huy Cận luôn hướng về cuộc đời, hướng về sự sống,
nhà thơ cắt nghĩa cội nguồn của vạn vật từ sự sống. Nhà thơ nhìn mọi quan hệ
tình cảm từ sự sống và tâm trạng của con người như là những biến thái của sự
sống mà thôi. Quan niệm đó đã tạo thành kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo chi
phối cách nhìn, cách cảm và thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận. Qua tác phẩm
này, người đọc càng thấm thía hơn những quan niệm của tác giả. Muốn siêu
thoát, muốn vẫy vùng trong biển trời rộng lớn kia nhưng thực ra trong sâu
thẳm tác giả luôn hướng về cuộc đời, hướng về sự sống về con người. Con
người mới là trung tâm của vạn vật. Điều này đã hình thành quan niệm độc
đáo về con người thể hiện trong thơ ông.
1.1.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1975
Sau khi Lửa Thiêng ra đời một năm, Huy Cận tìm đến với Cách mạng
(hoạt động trong mặt trận Việt Minh). Chính trong thời gian này, ánh sáng
của lý tưởng Cộng sản đã hiện hữu rõ ràng hơn trong hồn thơ mang mang
thiên cổ sầu ấy. Và sự đổi đời tháng Tám có ý nghĩa như một bước ngoặt lịch
sử, đưa trang thơ Huy Cận vượt khỏi những ám ảnh, những giới hạn chật hẹp
do mặc cảm nặng nề về thân phận nô lệ tạo nên. Như đa số các nhà thơ Mới,
Huy Cận rưng rưng chân thành trở về hòa nhập với cuộc sống.
Quan điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng đã thay đổi căn bản; nhưng
như thế vẫn chưa thể có thơ hay. Cần một khoảng thời gian nhất định - tùy
tình trạng tâm tưởng của mỗi nghệ sĩ - để những rung động ban đầu được
nung, được nén lại thành cảm xúc nghệ thuật. Mặt khác, mọi sự thay đổi đều

17



Huy Cận phát huy sở trường bằng việc phát hiện chất thơ biểu hiện tinh
vi, phong phú trong đời thường. Dường như mọi biểu hiện của cuộc sống bình
dị - qua cái nhìn của nhà thơ - đều nên nhạc, nên thơ. Ông say sưa ngợi ca
một khu nhà mới, đoàn thuyền đánh cá, những ngày hội mùa xuân,...Con
người mới trong lao động xây dựng đất nước thành hình tượng thật khỏe
khoắn, lạc quan, chan chứa nghĩa tình.
Thơ Huy Cận trước và sau Cách mạng bộc lộ rõ sự thay đổi trong quan
niệm về con người và cuộc đời. Nếu như trước Cách Mạng, con người trong
thơ ông là những người cô đơn, luôn đau thương, khao khát tình yêu, con
người đi vào cõi mộng bằng tấm lòng, con người đánh mất ý niệm về không
gian, thời gian, bơ vơ lạc lõng, khát khao tìm sự hòa hợp nơi cõi mộng thì đến
sau Cách mạng con người đã có sự biến chuyển lớn lao. Đó là những con
người tìm thấy niềm vui, sự hòa hợp trong xã hội, con người gắn bó với cuộc
sống lao động mới, một con người tự do, hạnh phúc và tin yêu. Chính các mối
quan hệ xã hội đã tạo nên sự chuyển hóa từ con người cá nhân đến con người
tập thể, từ con người cô đơn đến con người hòa hợp tình yêu. Hình tượng con
người lao động trở thành hình tượng trung tâm trong các bài thơ của Huy Cận
viết về cuộc sống mới, con người mới. Họ đang vươn lên làm chủ thiên nhiên,
làm chủ xã hội, tự khẳng định vị trí chủ nhân của mình bằng lao động sáng
tạo. Họ đến với cuộc đời bằng lời ca tiếng nhạc. Tiếng hát không chỉ biểu
hiện niềm vui của con người mà còn biểu hiện sự thống nhất tình cảm con
người trong cộng đồng xã hội tươi đẹp, nhân ái. Trong xã hội mới con người
không tồn tại riêng lẻ, tách biệt mà gắn kết với cộng đồng, tìm thấy sức mạnh
của mình trong tập thể. Sự hài hòa giữa cuộc đời riêng và cuộc đời chung là
vẻ đẹp của xã hội mới. Nhà thơ Huy Cận luôn khát khao hướng tới vẻ đẹp hài
hòa. Trước đây nhà thơ không tìm được sự hòa hợp của con người trong đời
đành phải tìm sự hòa hợp của con người trong cõi mộng, trong thế giới thiên

19

20


Long cũng phát hiện được cách nhìn, cách cảm độc đáo của nhà thơ trong
việc ông luôn đặt những sự việc và công việc lao động trong mối tương quan
với sự sống nảy nở không cùng, trong sự hài hòa giữa con người với tạo vật,
giữa cái hiện tại với cái vĩnh hằng, giữa đời sống thiên nhiên và đời sống xã
hội. Thời điểm ấy Huy Cận viết nhiều về con người nhưng không phải là con
người cá nhân đơn lẻ, đó là những con người mang tầm vóc thời đại, những
con người mang những nét chung tiêu biểu của dân tộc; đó là con người sống
trong lí tưởng giải phóng dân tộc, trong tình yêu thương chở che của đất nước,
con người mà tình cảm cá nhân được soi sáng bởi tinh thần chiến đấu:
Dẫu cho máu phải đổ
Giữ chặt lấy trong tay
Tự do như muối mặn
Độc lập như ánh ngày
(Không có gì quý hơn độc lập tự do)
Con người trong thơ Huy Cận có mối quan hệ khăng khít giữa truyền
thống và hiện đại, giữa chất anh hùng và nghệ sĩ, giữa khí phách hiên ngang
và lòng nhân ái dịu hiền.
Có lẽ do ý thức được tầm quan trọng của quãng đời trẻ thơ trong mỗi
con người, ý nghĩa của sự trong trẻo thơ ngây của cái tuổi hôn nhiên ngộ
nghĩnh trong cả một hành trình của một đời người mà Huy Cận không quên
sáng tác dành cho khán giả đặc biệt: thiếu nhi. Trong những năm tháng khốc
liệt ấy, Huy Cận cho ra đời tập thơ Hai bàn tay em (1967), Thiếu niên anh
hùng họp mặt (1973).
Huy Cận rất yêu mến và quan tâm đến trẻ con. Nhà thơ dành hẳn một
tập thơ cho các em. Hai bàn tay em khai thác đề tài từ những sự vật, khung
cảnh gần gũi với cuộc sống của trẻ con (con cóc, con ve, con dế, cái chong
chóng, buổi trưa hè,...); những khía cạnh tình cảm gia đình thân thuộc (cha

cường tính thời sự và tập trung vào việc khẳng định, ngợi ca chủ nghĩa anh

22


hùng cách mạng miền Nam. Từ thế đứng hùng vĩ và tầm vóc lớn lao của dân
tộc trên tuyến đầu chống Mỹ, Huy Cận càng có điều kiện để suy ngẫm về quá
khứ và hướng về tương lai; từ truyền thống dân tộc đến quan hệ với thế giới,
với thời đại. Giữa ngất trời đạn bom, cái nhìn của nhà thơ vẫn hướng về phía
khái quát để phát hiện ra những tầng sâu văn hóa truyền thống của đời sống
con người Việt Nam.
Bằng những hình ảnh giản dị, cụ thể, Huy Cận tập trung ngợi ca sức
quật khởi, sức sống bất diệt và phong thái ung dung của con người Việt Nam.
Nhà thơ đi đến một khái quát có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về cuộc kháng
chiến chống Mỹ: đây là cuộc chiến đấu và chiến thắng của nhân nghĩa trước
bạo tàn phi nghĩa, của sự sống trước sự hủy diệt. Nhận thức này thấm sâu
trong cảm xúc và hình tượng thơ, tạo nên tâm thế bình tĩnh, tự tin của cả một
dân tộc anh hùng trước những thử thách ác liệt.
1.1.3. Từ năm 1975 đến năm 2005
Từ 1975 đến nay, Huy Cận vẫn sáng tác đều đặn. Gác lại chuyện chiến
tranh, tâm hồn nhà thơ trở về với mạch cảm xúc quen thuộc của cuộc đời
hàng ngày quanh mình, lại say mê thiên nhiên, vũ trụ và nghiền ngẫm, suy tư
về sự sống con người. Những tập thơ tiêu biểu: Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt
lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1989), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ (1997).
Thơ Huy Cận tiếp tục phát triển theo hướng suy tưởng, hướng nội hơn;
có khuynh hướng chiêm nghiệm về ý nghĩa nhân sinh cao cả từ những biểu
hiện bình dị của đời thường.
Những tập thơ này ít có tiếng vang và không có khả năng thu hút mạnh
như các mùa thơ trước.
Năm 1993, Nhà xuất bản Đà Nẵng in tuyển thơ của Huy Cận với nhan

văn hóa phương Đông và phương Tây, nhưng tác phẩm của ông vẫn đậm đà
bản sắc dân tộc Việt Nam. Bản sắc ấy là kết quả tất yếu của một tâm hồn gắn
bó sâu nặng với đất nước quê hương và niềm tự hào về văn hóa dân tộc. Huy

24


Cận tìm tòi, nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về văn hóa truyền thống từ văn
nghệ dân gian đến văn nghệ đại chúng, từ cái chung đến cái riêng trong nền
văn hóa nhiều dân tộc anh em, từ các loại hình nghệ thuật tiêu biểu trong nền
văn học Việt Nam.
Từ cái gốc văn nghệ dân gian, Huy Cận tiếp tục khám phá và khẳng
định Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trên nhiều phương diện,
nhiểu loại hình nghệ thuật vật thể và phi vật thể.
Suy nghĩ về bản sắc văn hóa thời hiện đại, Huy Cận khẳng định, tôn
vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn, tổng hòa thành công nhiều nền văn hóa
rực rỡ mà vẫn giữ sâu đậm vẻ đẹp tâm hồn cốt cách Việt Nam.
Qua những tham luận này, Huy Cận trình bày sâu sắc và thuyết phục về
các phương diện cơ bản của nền văn hóa dân tộc- hiện đại Việt Nam.
Là một nghệ sĩ ngôn từ, trải qua hành trình sáng tạo khá dài, Huy Cận
đã bộc lộ và chia sẻ những suy nghĩ chân thành và sâu sắc về nghệ thuật. Đây
là những tiểu luận ngắn, giống như những tứ thơ đầy ngẫu hứng được Huy
Cận chưng cất từ những tri thức của nhân loại đồng thời là kinh nghiệm nghệ
thuật được rút ra trong thực tiễn sáng tạo của ông. Lý luận nghệ thuật mà Huy
Cận suy nghĩ khái quát luôn mang màu sắc xanh tươi của cuộc sống, của thực
tiễn sáng tạo. Đó là cách phát hiện chân lý mang đậm cảm tính nhưng vẫn
chính xác, khách quan và đầy sức thuyết phục.
Trong những năm cuối đời, Huy Cận dồn tâm sức viết Hồi kí song đôi.
Đây là tập hồi kí đặc biệt, hồi kí của hai nhà thơ lớn, có một tình bạn lớn hiếm
có trong cuộc đời. Huy Cận và Xuân Diệu là hai tên tuổi lớn trong nền thi ca


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status