ĐẠI HỌCQUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
____________________
TRƯƠNG VĂN MINH
VÕ THỊ THU THỦY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62.31.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN HIỆU
TS. HUỲNH VĂN THÔNG
Phản biện độc lập:
1.
2.
Phản biện 1:
trường hợp Đài Truyền hình TP. HCM)”, người viết mong nhận diện được tính đại
chúng của truyền hình qua các thông điệp đa dạng được chuyển tới khán giả, từ đó
góp phần vào việc quản lý các hoạt động truyền hình một cách có hiệu quả, để cho
truyền hình Việt Nam vừa đáp ứng được yêu cầu xây dựng đất nước trong bối
cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa thỏa mãn nhu cầu thông tin, học tập và
giải trí lành mạnh của đại đa số quần chúng khán giả.
0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy có hai hướng tiếp
cận chính. Thứ nhất là nghiên cứu truyền hình trong bối cảnh VHĐC phổ biến tại
các nước phương Tây và một số nước châu Á có hoạt động truyền hình phát triển;
thứ hai là nghiên cứu truyền thông tại Việt Nam có đề cập tới truyền hình.
Ở hướng thứ nhất, giới nghiên cứu đã cho ra đời nhiều lý thuyết và
phương pháp tiếp cận nghiên cứu vai trò của truyền hình trong đời sống văn hóa,
xã hội các nước phương Tây (nơi truyền hình mặc nhiên đã được coi là một hình
thức của VHĐC), trong khi đó việc nghiên cứu truyền hình nói chung và quản lý
truyền hình theo hướng tiếp cận VHĐC còn rất hạn chế ở châu Á về mặt lý thuyết.
Theo hướng thứ hai tại Việt Nam, mặc dù truyền hình đã có gần nửa thế
kỷ hình thành và phát triển, nhưng lĩnh vực nghiên cứu truyền hình ở nước ta vẫn
chưa có hệ thống lý luận cụ thể. Bên cạnh đó, VHĐC chỉ mới được đặt vấn đề
nghiên cứu gần đây, cho nên các công trình khoa học có liên quan đến truyền hình
và quản lý truyền hình (xã hội học, khảo sát thực nghiệm, báo chí học…) thường
được đặt chung trong các nghiên cứu về truyền thông đại chúng mà hướng nghiên
2
cứu chính cho tới nay chỉ tập trung vào công chúng - người tiếp nhận từ góc nhìn
xã hội học và và báo chí học.
Các công trình ở hai hướng tiếp cận nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn
của truyền hình có liên hệ với nhiều bộ môn khoa học khác nhau, nhưng nhìn
chung vẫn còn rất ít và hạn chế ở lĩnh vực văn hóa. Hơn nữa, việc nghiên cứu các
-Phương pháp so sánh: Phân tích đặc điểm và cách tiếp nhận truyền hình của
khán giả TP. HCM qua các thời kỳ so với các địa phương, các đài truyền hình
3
khác tại Việt Nam và cấp độ xuyên văn hóa với một số quốc gia theo lịch đại và
đồng đại.
-Phương pháp quan sát tham dự: Khảo sát định tính trong quá trình tiếp xúc,
làm việc với nhiều người thuộc giới quản lý, sản xuất, phân phối sản phẩm truyền
hình và khán giả.
-Phương pháp hệ thống: Phân tích các vấn đề đồng đại và lịch đại của truyền
hình Việt Nam, cụ thể là HTV trong mối quan hệ với VHĐC.
-Phương pháp phân tích và tổng hợp : Dựa vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của
HTV và khả năng nghiên cứu của tác giả để phân tích từng yếu tố bộ phận của
công tác quản lý HTV và sau đó khái quát lại toàn bộ các hoạt động đó để tìm ra
bản chất và quy luật hoạt động của HTV từ góc nhìn VHĐC.
-Phương pháp liên ngành: Áp dụng phương pháp liên ngành ở hai cấp độ cơ bản
là sử dụng một số khái niệm và lý thuyết trong khoa học truyền thông và các
phương pháp nghiên cứu trong xã hội học để soi rọi và tìm hiểu những lĩnh vực có
tính giáp ranh giữa truyền thông đại chúng và VHĐC.
-Phương pháp điều tra xã hội học: Phục vụ cho quá trình từng bước chứng
minh sự quan hệ hữu cơ giữa các đối tượng nghiên cứu, thể hiện mức độ và thái
độ quan tâm cũng như nhu cầu của khán giả đối với các chương trình của HTV, từ
đó đánh giả mức độ quản lý hiệu quả của HTV từ góc nhìn VHĐC.
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên các nguồn tư liệu và tài liệu chính:
-Tư liệu bao gồm các nguồn: Tư liệu khảo sát, điều tra xã hội học; Tư liệu
lưu trữ và hiện hành của HTV có liên quan đến đề tài.
-Tài liệu bao gồm các nguồn: Lý luận văn hóa và VHĐC; Lý luận về văn
hóa quản lý và quản lý văn hóa; Nghiên cứu truyền hình, nghiên cứu quản lý hoạt
động truyền hình từ góc nhìn VHĐC; tài liệu liên quan đến Đài truyền hình
“Popular Culture”, không phải là các dạng thức văn hóa thuộc về dân chúng, số
đông quần chúng hoặc hướng tới quần chúng.
Vào giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, “Popular Culture” được hình thành
theo đúng nghĩa của nó (mặc dầu vẫn chưa có tên gọi chính thức) do đã hội đủ các
các tiền đề quan trọng. Tiền đề thứ nhất là nền sản xuất đại công nghiệp mang tính
hàng hóa có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng loạt của khối công chúng
thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau trên không gian địa lý rộng lớn và xuyên quốc
gia. Tiền đề thứ hai hay còn được gọi là tiền đề dựa trên sự phát triển và xuất hiện
mới các phương tiện truyền thông đại chúng (báo in, phát thanh, truyền hình và
mới nhất là Internet). Tiền đề thứ ba, cũng là tiền đề quan trọng nhất là sự nhận
thức về con người đã thay đổi theo hướng nhìn nhận tích cực vai trò của các cá
nhân và nhóm người trong việc hình thành các xu hướng văn hóa và có khả năng
tập hợp thành một khối công chúng văn hóa tác động trực tiếp lên các quá trình
hoạt động sản xuất vật chất và sáng tạo các giá trị tinh thần. Từ ba tiền đề trên, có
thể định nghĩa “Popular Culture” theo hai khía cạnh sản xuất và tiêu thụ hay sáng
tạo và hưởng thụ.
1.Định nghĩa theo khía cạnh sản xuất (sáng tạo): “Popular Culture” là tất cả
những gì mà nhân dân thực hiện hoặc tạo ra cho chính mình bao gồm tất cả các
hoạt động của cuộc sống hàng ngày từ ăn uống, giải trí tới giao tiếp, ứng xử với
môi trường tự nhiên và xã hội.
2. Định nghĩa theo khía cạnh tiêu thụ (hưởng thụ): “Popular Culture” là hình
thức giải trí được sản xuất thông qua và bằng truyền thông thương mại (truyền
hình, điện ảnh, kỹ nghệ âm nhạc…) có đủ năng lực kinh tế và kỹ thuật để có thể
đạt đến một lượng khán, thính, độc giả phủ rộng về mặt địa lý, đa dạng về thành
phần và nặc danh.
5
Định nghĩa thứ hai được sử dụng tương đối rộng rãi hơn và do đó
“Popular Culture” cũng bị phê phán nhiều hơn, bởi vì nhiều người cho rằng kiểu
Mô hình Mã/Giải mã (Encoding/Decoding), sau đây sẽ được gọi là mô
hình “Mã”, do Stuart Hall khởi xướng và được David Morley phát triển thành lý
thuyết qua tác phẩm Khán giả của chương trình Nationwide- Toàn quốc (The
Nationwide Audience) gắn liền với những thay đổi của truyền hình thế giới hướng
về khán giả. Thông điệp truyền hình, theo Hall, là những ký hiệu được mã hóa
theo ý đồ của một tác giả hay một nhóm tác giả. Không lý gì hàng triệu khán giả
khác nhau lại có thể giải mã được theo đúng ý đồ mã hóa của tác giả.
6
Trong công trình nêu trên, Morley đã chia các cách tiếp nhận hay cách
“đọc” nội dung chương trình thành 3 nhóm chính: những người tiếp nhận tư tưởng
“chủ đạo” (Dominant/Hegemony Readings) giải mã gần như nguyên vẹn nội dung
thông điệp; những người tiếp nhận có thương lượng (Negotiated Readings) phần
nào giải mã được thông điệp nhưng có thay đổi ý nghĩa, thậm chí phản đối một số
nội dung để thích ứng với hoàn cảnh của mình; những người tiếp nhận đối lập
(Oppositional Readings) tuy vẫn hiểu nội dung thông điệp nhưng không chấp
nhận nội dung này mà cho rằng thông điệp còn chuyển tải một nội dung hoàn toàn
khác.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới toàn diện của đất nước
Trong vòng gần 30 năm đổi mới, ngành truyền hình Việt Nam đã có
những bước phát triển vượt bậc cả về cơ sở hạ tầng và nội dung chương trình phục
vụ phát sóng. Hiện nay, cả nước có 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và
địa phương, 47 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền phục vụ cho trên 2,5
triệu thuê bao với nội dung đa dạng và phong phú, đủ mọi thể loại trong và ngoài
nước, phát sóng hầu như 24/24 giờ trong ngày, phủ sóng mặt đất hầu hết các khu
vực địa hình trong cả nước. Các phương thức truyền dẫn phát sóng của truyền
hình Việt Nam ngày càng đa dạng và theo sát các công nghệ hiện đại nhất trên thế
giới.
trí tuệ, nguồn lực từ xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hóa nhưng cũng luôn đảm
bảo tính định hướng của công tác tuyên truyền, vì suy cho cùng truyền hình được
sinh ra để phục vụ công chúng và phát triển được cũng nhờ vào công chúng.
1.2.4. Vai trò và vị trí của Đài Truyền hình TP.HCM (HTV) trong ngành truyền
hình Việt Nam hiện nay
Đài Truyền hình TP. HCM, tiền thân là Đài Truyền hình Sài Gòn được
thành lập năm 1965 dưới chế độ cũ. Từ ngày 01/5/1975, đài đã thuộc về chính
quyền cách mạng và sau này trở thành một trong những đài truyền hình lớn trong
cả nước. Hiện nay, với hơn một ngàn cán bộ, viên chức có trình độ về chuyên môn
nghiệp vụ, với trang thiết bị máy móc hiện đại, HTV phát sóng quảng bá hai kênh
HTV9 và HTV7 24/24 giờ với các chương trình phong phú và đa dạng cùng 16
kênh kỹ thuật số và cáp, phục vụ khán giả xem đài trong khu vực TP.HCM và một
số khu vực khác trên toàn quốc.
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như
vận dụng linh hoạt các quy luật trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, HTV đã từng bước hoàn thiện mô hình quản lý hoạt động của cơ quan
báo chí cách mạng và cũng đồng thời là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ
truyền thông hướng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa mang tính đại chúng
lớn nhất cả nước là khu vực TP.HCM.
Tuy nhiên mức độ phản hồi đa chiều từ khán giả đối với HTV vẫn còn
yếu, trong khi các phương triện truyền thông mới như Internet và điện thoại thông
minh đã thu hút khá nhiều người sử dụng vốn đã từng là khán giả truyền hình
truyền thống. Một điểm cũng cần lưu ý là độ trễ của chính sách so với thực tiễn
phát triển nhanh và thay đổi thường xuyên của môi trường truyền thông. Những
điểm hạn chế này tạo không ít khó khăn cho công tác quản lý hoạt động của HTV
ở khía cạnh đáp ứng nhu cầu văn hóa của công chúng số đông.
Chương 2
8
• Nhu cầu khẳng định bản thân của giới trẻ qua truyền hình thực tế
Đa số các chương trình truyền hình thực tế (THTT) dành cho giới trẻ hiện
nay đều sử dụng biện pháp nhắn tin bình chọn của khán giả làm cơ sở để xếp hạng
các thí sinh và chọn ra “quán quân” của các cuộc thi. Một số chương trình lại có
cách tuyển chọn thí sinh từ khán giả, tạo cơ hội để “một người bình thường có thể
trở thành quan trọng, thu hút hàng triệu người chú ý”. Tâm lý được khẳng định
bản thân của khán giả, nhất là khán giả trẻ chưa bao giờ được khích lệ như vậy
trong lịch sử truyền hình đã thu hút sự quan tâm của người xem đối với thể loại
này trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam.
9
•
Nhu cầu giao tiếp và mối quan tâm của khán giả nữ đối với phim truyền
hình nhiều tập
Các nghiên cứu để tìm hiểu tại sao khán giả xem truyền hình và xem như
thế nào đã cho thấy nhu cầu giao tiếp cá nhân và giao tiếp xã hội của khán giả
được thể hiện qua sở thích xem một số thể loại trong đó nổi bật là phim truyện
truyền hình. Nữ giới ở độ tuổi từ 18 đến 45 là khán giả mục tiêu (target audiences)
của thể loại phim truyền hình nhiều tập cũng chính là đối tượng có nhu cầu giao
tiếp và chia sẻ bằng nhiều hình thức khác nhau từ điện thoại, gặp gỡ trực tiếp nơi
làm việc, trao đổi qua các mạng xã hội.
2.2. Sản xuất và phát sóng các nội dung đáp ứng nhu cầu thông tin
So sánh các kênh truyền hình hàng đầu ở địa bàn TP.HCM vào các khung
giờ trong ngày, HTV9 là kênh có rating cao nhất vào khung giờ tin tức, thời sự
quốc gia và thời sự địa phương từ 18g30 đến 20g30 trong đó “Chương trình 60
giây” phát sóng nối tiếp 30 phút trước bản tin thời sự quốc gia 19g00 được xem
như một dạng biến thể của “bản tin chiều muộn” rất ăn khách từ năm 2012. Ngoài
ra HTV cũng khai thác tốt thế mạnh bản sắc vùng, miền và địa phương về thông
chính khách có thể xem một chương trình truyền hình thực tế một cách thoải mái
giống nhau với “tầm đón nhận” của riêng mình.
2.3. Sản xuất và phát sóng các nội dung đáp ứng nhu cầu tự khẳng định bản
thân – truyền hình thực tế
Điều tra của chúng tôi cho thấy trong số những người trả lời câu hỏi “Yếu
tố nào của chương trình THTT khiến ông/bà/anh/chị yêu thích?”, đa số đều thuộc
lứa tuổi thanh niên và các lý do tập trung vào sự gần gũi, hợp lứa tuổi và đơn giản,
dễ hiểu. Theo kết quả thăm dò của McQuail, giới trẻ thể hiện nhu cầu xem truyền
hình ở cả bốn nhóm. Tuy nhiên, do đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi, khán giả trẻ
thường có nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần ở nhóm “tự khẳng định
bản thân”, vì vậy các thể loại truyền hình nào đáp ứng được nhu cầu này sẽ thu hút
được khán giả trẻ.
Để có thể đem đến sự hài lòng cho khán giả, HTV đã thực hiện một số
biện pháp đối với các chương trình THTT mà “bản địa hóa” là đặc điểm rõ nét
nhất. Biện pháp này có thể nói là điểm mạnh của HTV trong thị trường truyền
thông hiện nay vốn còn nhiều bất cập trong việc khai thác các chương trình THTT
từ nước ngoài.
Ngay khi mùa thứ nhất của chương trình “So you think you can dance –
Thử thách cùng bước nhảy” lên sóng HTV7 vào năm 2012, công luận hầu như
hoàn toàn đồng tình với cách làm của HTV và đánh giá đó là chương trình THTT
hiếm hoi tại Việt Nam được “bản địa hóa” một cách thành công. So với định dạng
gốc, HTV đã yêu cầu nhà sản xuất đưa thêm vào chương trình những chi tiết
chuyên môn để làm nổi bật bốn vấn đề: Một là các giám khảo chuyên môn sẽ
nhiều lần nhắc tới tính nghệ thuật và sự lao động sáng tạo trong nghệ thuật múa,
hai là các thí sinh sẽ tập trung trình bày quan điểm của mình theo hướng khẳng
định con đường nghề nghiệp mình đã chọn và phấn đấu đạt đỉnh cao trong nghề
nghiệp bằng đam mê nghệ thuật và lao động nghệ thuật chân chính; ba là nói
không với bất cứ “chiêu trò” thu hút dư luận và bốn là thống nhất quan điểm
không cay cú ăn thua trong thí sinh, loại bỏ tính từ “tài năng” ra khỏi danh hiệu
quán quân và thay bằng tình từ “được yêu thích nhất”.
chinh phục hoàn toàn bởi nội dung câu chuyện, lớp khán giả trung niên đã trở nên
“nghi ngờ” trước các thông điệp dành cho giới trẻ theo quan điểm “thương lượng”
(Negotiated) thậm chí “đối lập” (Oppositional). Trong khi đó các cháu nhỏ trước
kia vốn vẫn hồn nhiên xem phim cùng ông, bà, cha, mẹ với quan điểm còn mơ hồ
mang tính “thương lượng” (Negotiated) đã kịp lớn lên để tiếp nhận một số lượng
lớn thông điệp “chủ đạo” dành cho lứa tuổi của mình.
Kể từ sau giai đoạn thịnh hành của PTTHHQ tạo nhiều ảnh hưởng đến
VHĐC Việt Nam, việc sản xuất và phát sóng PTTH trên hai kênh quảng bá HTV7
và HTV9 được quản lý theo chiều hướng tăng tỷ lệ phim truyện truyền hình Việt
Nam (PTTHVN)và đa dạng hóa “quốc tịch” phim nước ngoài. Trong 24 giờ phát
sóng hàng ngày trên HTV7 và HTV9, khung giờ PTTH được xem là khá ổn định
trong vòng 5 năm qua vì tính đồng dạng khá cao của thể loại này (khác với các thể
loại khác có rất nhiều các tiểu thể loại nhằm đến nhiều nhóm đối tượng khán giả
khác nhau). Với cấu trúc thời lượng chuẩn 45 phút/tập phim, PTTH được phân bố
khá dày trên hai kênh: kênh HTV7 có tám khung giờ với tỷ lệ PTTHVN/ PTTH là
12
71% (kể cả các phim phát lại); kênh HTV9 có ba khung giờ với thời lượng phim
Việt Nam chiếm 74% thời lượng PTTH.
Từ năm 2010 trở lại đây, PTTHVN không còn thu hút khán giả như trước
mà đang rơi vào tình trạng giống như PTTHHQ ở giai đoạn bão hòa. Trái lại,
những chỉ báo từ thị trường truyền thông cho thấy, khán giả đang quay trở lại với
PTTH nước ngoài, đặc biệt là phim từ các nguồn cung phi truyền thống như
Philippinnes, Thái Lan…
2.5. Chuyển biến trong hoạt động sản xuất và phát sóng của HTV hướng đến
nhu cầu của khán giả
Sự chuyển dịch cơ cấu thị phần của các kênh truyền hình kèm theo các
chỉ số rating cụ thể cho từng chương trình là cơ sở duy nhất ở thị trường truyền
hình TP.HCM hiện nay để các nhà quảng cáo quyết định cơ cấu tỷ lệ đầu tư trên
trình truyền hình (XHHSXCTTH) là phù hợp với xu hướng hội nhập trong bối
cảnh hiện tại.Vấn đề là nhận thức của từng đài và khả năng có thể làm việc này
như thế nào để đạt hiệu quả cao và giữ vững bản lĩnh trong hợp tác. Bản lĩnh được
thể hiện ở chỗ đảm bảo cho các chương trình truyền hình “xã hội hóa” vừa đáp
ứng được các định hướng tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, vừa tạo cơ hội cho
các đơn vị sản xuất phát huy các thế mạnh về tài chính và chất xám, tạo ra một
sản phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật để thu hút người xem.
• Định hướng về chất lượng chương trình
-Thứ nhất là việc lựa chọn đối tác để hợp tác. Các đối tác cần có tiềm
năng về nguồn lực và chuyên môn để phục vụ tốt cho sản xuất nhưng cũng cần
phải có thiện chí để đảm bảo cho sản phẩm hợp tác không những đạt chất lượng
cao về mặt nội dung và hình thức thể hiện mà còn phải đáp ứng yêu cầu phát triển
chung của xã hội, phù hợp với định hướng tuyên truyền và tôn chỉ, mục đích hoạt
động của đài.
-Thứ hai là lựa chọn định dạng chương trình, kể cả bản quyền chương
trình. Một định dạng tốt và ăn khách trên thế giới không có nghĩa là phù hợp với
khán giả Việt nam, cũng như một sản phẩm đạt hiệu quả về mặt kinh tế không có
nghĩa là đáp ứng được các tiêu chí về giáo dục và thẩm mỹ.
3.1.2. Các phương thức liên kết sản xuất chương trình của HTV
Hợp tác sản xuất chương trình và trao đổi bằng quảng cáo; Các công ty tài
trợ kinh phí sản xuất chương trình và được trả quyền lợi bằng quảng cáo; Đài đặt
hàng hoặc giao khoán kinh phí cho đối tác thực hiện một số công việc sản xuất
chương trình; Hợp tác khai thác bản quyền và chia doanh thu. Trong 4 phương
thức thì phương thức cuối cùng nhằm tận dụng tối đa năng lực của HTV và của
đối tác trong khai thác bản quyền chương trình cũng như bán quảng cáo. Phương
thức này ra đời trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự chuyển giao bản quyền các
định dạng chương trình truyền hình giải trí đi khắp thế giới.
3.1.3. Hiệu quả của hoạt động liên kết sản xuất chương trình
Thực tế trong những năm qua đã chứng minh, ngoài các bản tin chính
thống được sản xuất và phát sóng bởi đội ngũ cơ hữu của các đài truyền hình, các
từ khi đối tác giới thiệu định dạng chương trình đến khi giao dịch tiến tới ký hợp
đồng thực hiện liên kết, nhưng việc thiếu công khai, minh bạch (dù chủ quan hay
khách quan) trong việc chọn lựa đối tác vẫn là một trong những nguyên nhân dẫn
tới những hạn chế trong XHHSXCTTH, mà chủ yếu là chất lượng chương trình,
gây thiệt hại cho cả hai bên đối tác và quan trọng nhất là thiệt hại cho khán giả về
mặt thụ hưởng chương trình.
• Hạn chế về hiệu quả đầu tư
Xét về khía cạnh kinh tế truyền thông, các chỉ số về hiệu quả đầu tư
chương trình cũng phản ánh khá trung thực hiệu quả về mặt thu hút công chúng
truyền thông. Mặc dù hoạt động XHHSXCTTH ở HTV đã góp phần nâng cao
doanh thu của toàn đài nhưng nếu tính hiệu quả đầu tư của riêng khu vực “xã hội
hóa”, hoạt động này cũng cần phải được xem xét nghiêm túc để tránh tình trạng
đầu tư không đúng mục đích, không đúng đối tượng và không đúng đối tác.
• Nguy cơ mất quyền chủ động trong sản xuất nội dung và định giá quảng
cáo
15
Liên kết hợp tác sản xuất chương trình truyền hình sẽ là một con dao hai
lưỡi trong nền kinh tế thị trường. Những kết quả tích cực mà nó đem lại luôn kèm
theo những hiệu ứng tiêu cực mà nếu bản thân các đài truyền hình không vững
vàng trong công tác chọn đối tác thẩm định và phê duyệt dự án hợp tác sẽ dễ dẫn
đến những nguy cơ mất quyền chủ động trong sản xuất nội dung và quyết định giá
trị quảng cáo trong chương trình.
•
Các biện pháp hoàn thiện
Điều quan trọng thứ nhất là biên tập viên của đài phải nhạy bén, vừa cứng
rắn vừa mềm dẻo với các đối tác để có được một sản phẩm truyền hình đáp ứng
được các yêu cầu chính thống về nội dung vừa có thể thu hút được nguồn quảng
cáo từ những nội dung mang tính VHĐC.
các đài truyền hình trong khu vực cũng như tăng cường khả năng thụ hưởng
truyền hình của khán giả trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
3.2.2. Quy hoạch phát triển Internet trên hệ thống cáp và khai thác hạ tầng
Internet phục vụ phát sóng nội dung chương trình
Người sử dụng cuối chu trình truyền thông (End User) trong thời đại công
nghệ hội tụ có rất nhiều lựa chọn nên việc cung cấp các dịch vụ cộng thêm trên cơ
sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, đơn giản và tiện ích chính là cơ hội cho các đài
truyền hình và nhà sản xuất nội dung giữ chân khán giả và thu hút khán giả mới.
Ngoài việc khai thác hệ thống cáp có sẵn cho truyền hình IPTV, HTV
cũng đang tận dụng mạng Internet để triển khai truyền hình qua mạng để cung cấp
dịch vụ OTT (Over the Top – các dịch vụ ứng dụng trên Internet), đáp ứng các
nhu cầu xem truyền hình của khán giả bao gồm: Timeshift (ghi và theo dõi lại nội
dung đang xem), VOD ( xem lại nội dung bất kỳ theo yêu cầu), Live Streaming
(phát và theo dõi trực tiếp một sự kiện đang diễn ra qua hệ thống Intrernet). Người
xem có thể truy cập các nội dung thông qua các thiết bị có kết nối với Internet như
máy tính, laptop, máy tính bảng, điện thoại thông minh, đầu thu giải mã, TV thông
minh. Đầu tư vào lĩnh vực OTT chính là khai thác triệt để thành tựu của công nghệ
và đón đầu xu thế thay đổi phương thức thụ hưởng nội dung của một bộ phận lớn
khán giả truyền hình trong tương lai. Đó cũng chính là một trong các kế hoạch đầu
tư chiến lược của HTV trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ.
3.3. Quản lý dịch vụ truyền hình
3.3.1. Dịch vụ truyền hình trả tiền
Nắm bắt xu thế phát triển công nghê ̣ truyền hıınh, truyền dẫn, cũng như
mở rộng phạm vi phủ sóng, tạo thế chủ động trong việc quản lý khách hàng thuê
bao cùng với dự án truyền dẫn phát sóng theo quy hoạch của chính phủ, định
hướng của HTV là không ngừng mở rộng dịch vụ truyền hình cáp tương tự
(analog), truyền hình cáp kỹ thuật số và truyền hình cáp độ phân giải cao. HTV
tiếp tục cung cấp dịch vụ truyền cáp đến thuê bao hiện tại, đảm bảo không bị gián
đoạn và giữ ổn định cho thuê bao, đồng thời phối hợp với các Đài phát thanh
truyền hình trong nước, các đơn vị được cấp phép biên tập, biên dịch kênh chương
VHĐC.
Chương 4
DỰ BÁO XU HƯỚNG TRUYỀN HÌNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH
4.1. Dự báo các yếu tố tác động tới nhu cầu và thái độ tiếp nhận của khán giả
Đi đôi với sự phát triển của các mạng Internet không dây, yếu tố hưởng
thụ truyền thông theo kiểu hội tụ ngày nay mang tính tương tác rất cao. Sự tiến bộ
của công nghệ đa nền tảng (Multi-Platform) sẽ ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của
truyền hình từ khâu sản xuất nội dung đến tiếp thị, kinh doanh và truyền dẫn, đem
lại sự tương tác xã hội mạnh mẽ hơn nhiều, làm cho người xem ngày càng muốn
tham gia vào quá trình của truyền thông.
18
Một hình thức phổ biến của hội tụ công nghệ là “nội dung di động”
(Mobile Content) với công nghệ đa màn hình (Multi-Screen). Từ một nội dung
phát ra từ nguồn phát (thí dụ một kênh truyền hình nào đó), các loại thiết bị khác
nhau từ màn hình tivi, điện thoại thông minh, laptop, máy tính bảng... đều có thể
tương thích với chuẩn kỹ thuật của tín hiệu nguồn. Khi giá thành của thiết bị ngày
càng rẻ, nhu cầu theo dõi nội dung một cách linh hoạt sẽ tăng theo cấp số nhân.
4.2. Dự báo xu hướng vận động của truyền hình Việt Nam
4.2.1. Xu hướng công nghệ
Việc chuyển sang truyền hình số mang lại rất nhiều lợi ích cho xã hội và
công chúng khán giả như kênh chương trình sẽ tốt hơn do có độ phân giải cao HD
và số lượng kênh được tích hợp trên đường truyền nhiều hơn (hàng trăm kênh so
với hàng chục kênh theo kỹ thuật analog). Để thu được sóng truyền hình kỹ thuật
số, người dùng chỉ cần sử dụng ti vi và ăngten thông thường cùng với bộ chuyển
đổi Digital/Analog (đầu thu số) hoặc sử dụng máy thu hình có tích hợp sẵn thiết bị
thu số theo tiêu chuẩn DVB-T2.
thông tin chính thống đảm bảo chính xác và kịp thời đến với mọi người dân, kết
hợp với cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền có nội dung phong phú, đáp ứng nhu
cầu thông tin, giải trí lành mạnh của người dân.
Về dịch vụ quảng cáo sản phẩm, cũng giống nhiều nơi trên thế giới, tại thị
trường Việt Nam, quảng cáo truyền hình vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu
đầu tư quảng cáo vì truyền hình vẫn là phương tiện truyền thông phổ biến nhất,
nhưng khoảng cách tới “kẻ ở cuối đoàn đua” là quảng cáo trên Internet đang được
rút ngắn với tốc độ chóng mặt. Bởi vì doanh thu quảng cáo trên truyền hình quảng
bá là chỉ số gián tiếp đo lường sự thu hút khán giả, cũng như cơ cấu nguồn thu
quảng cáo của một đài truyền hình trên các hạ tầng phát sóng khác nhau sẽ cho
thấy mức độ hội tụ công nghệ của đài truyền hình đó, cho nên xu hướng phát triển
quảng cáo của truyền hình Việt Nam cũng đang có những chuyển biến đáng kể
hướng đến tương lai.
4.2.4. Quyền lực và những giới hạn của khán giả trong việc thụ hưởng truyền
hình
Lịch sử của truyền hình đã chứng kiến sự thay đổi vai trò của khán giả
một cách ngoạn mục. Từ vị trí người hưởng thụ bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào
nhà cung cấp nội dung truyền hình (provider) từ giờ phát sóng đến chương trình
phát sóng, khán giả từ thập niên 1960 đã bắt đầu có thêm lựa chọn khi truyền hình
phát triển thêm nhiều thể loại và nhiều kênh phát sóng. Sự phát triển của công
nghệ vào đầu thập niên 1990 đã trao thêm quyền chủ động cho khán giả khi họ có
thể quyết định thời điểm theo dõi chương trình phù hợp với điều kiện làm việc và
nghỉ ngơi của mình. Thời đại kỹ thuật số ngày nay dường như đang tạo cho khán
giả một thứ quyền lực gần như tuyệt đối để họ có thể quyết định theo dõi nội dung
truyền hình yêu thích của mình vào bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu và bằng bất cứ
phương tiện nào nhờ vào sự hội tụ công nghệ trên truyền hình cũng như trên các
phương tiện truyền thông mới.
Bên cạnh những cơ hội mà khán giả sẽ biến thành quyền lợi khi có điều
kiện, số hóa cũng gây trở ngại thời gian đầu cho những người chưa đủ khả năng
tài chính chuyển đổi thiết bị thu hình hợp cách với kỹ thuật số. Tuy nhiên giới hạn
triển đất nước; việc phát triển đồng bộ và hiện đại các phương tiện thông tin đại
chúng trong đó có truyền hình cần được tiến hành một cách nghiêm túc, hướng
đến lợi ích chung của các tầng lớp công chúng trong việc thụ hưởng các sản phẩm
truyền thông có chất lượng cao, được sản xuất một cách tập trung và có chọn lọc,
tránh tình trạng “trăm hoa đua nở” như hiện nay.
4.3.3. Điều chỉnh mô hình quản lý truyền hình ở cấp vĩ mô và vi mô
Một là, về mô hình quản lý vĩ mô, cần quy hoạch lại hệ thống truyền hình
theo hướng trọng chất lượng hơn số lượng, tránh dàn trải theo đơn vị hành chính,
trùng lặp về chức năng, nội dung và đối tượng khán giả, gây lãng phí nguồn lực
của Nhà nước và xã hội. Hai là kiện toàn tổ chức, bộ máy và nâng cao hiệu lực
quản lý Nhà nước về truyền hình, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân công,
phân cấp không rõ ràng giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương để
bảo đảm hiệu quả công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động truyền hình trong phạm vi
cả nước. Ba là, về quản lý vi mô ở từng cơ quan truyền hình, tác giả luận án đề
xuất mô hình quản lý nhằm tới các mục tiêu: Xác lập quyền chủ động của khán giả
trong môi trường truyền thông hội tụ; Khai thông điểm tắc giữa công chúng khán
giả và khu vực định hướng, làm chính sách ở cấp quản lý vĩ mô và cấp quản lý vi
21
mô của đài truyền hình, đồng thời bỏ sự khép kín ở cấp này với môi trường truyền
thông tạo thành hệ thống “bình thông nhau” trong toàn hệ thống quản lý.
4.3.4. Hội nhập truyền hình thế giới để tìm bản sắc của truyền hình Việt Nam
Vấn đề bản sắc dân tộc ở Việt Nam vẫn được quan niệm thuộc về các lĩnh
vực văn hóa truyền thống hơn là văn hóa đương đại. Các hoạt động của VHĐC
thường được xem là đi ngược lại việc xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Công
nghiệp truyền hình tại Việt Nam vì thế vẫn chưa được coi là một trong những
động lực góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Những chính sách phát triển
sự nghiệp truyền hình vẫn chưa được quan tâm đúng mức theo quan điểm càng
tiếp cận văn hóa thế giới càng có cơ hội cho bản sắc văn hóa dân tộc được dịp thể
22
(Rating), thị phần (Market Share)... và cả những nền tảng cơ bản của mối quan hệ
như mức độ trung thành (Loyalty), mức độ tương tác (Interaction)...Theo quan
niệm mới trong văn hóa hội tụ ngày nay cho rằng khán giả vừa được trao quyền
lực truyền thông (User Empowerment) vừa là một loại hàng hóa đặc biệt
(Audience Commodification) được bán cho các nhãn hàng quảng cáo một cách
tinh vi nhất, thì việc xây dựng mối liên hệ văn hóa giữa HTV và khán giả càng
phải được xem trọng và củng cố thường xuyên.
4.3.7. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực truyền hình đáp ứng các yêu cầu
trong giai đoạn mới
Về mảng đào tạo, nhân lực cho ngành truyền hình phải được tuyển chọn
và đào tạo theo hệ thống giáo dục quốc gia và hệ thống dạy nghề chuyên nghiệp
của các cơ quan truyền hình. Lập được hệ thống vị trí việc làm và bảng mô tả chi
tiết từng việc làm trong cơ quan truyền hình là bước mở đầu “giải thiêng” trong
lĩnh vực đào tạo. Việc tiếp theo là kế hoạch tuyển dụng nhân sự, sử dụng nhân lực
hậu tuyển dụng (bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại) dựa trên kế hoạch phát triển
của toàn cơ quan.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu và khảo sát được diễn giải trong luận án gồm 4 chương
(14 mục), tác giả luận án đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu và rút ra những
kết luận cụ thể như sau:
1. Về mặt lý luận, tác giả đã hệ thống hóa những quan điểm học thuật về
VHĐC và truyền thông đại chúng có ảnh hưởng đến ngành truyền hình Việt Nam
mà cụ thể là HTV về phương diện lý luận để làm cơ sở cho việc phân tích khoa
học vấn đề quản lý hoạt động truyền hình từ góc nhìn VHĐC. Mặc dù khái niệm
VHĐC cũng như góc nhìn VHĐC vẫn còn khá mới mẻ và chưa rõ ràng kể cả trong
đời sống xã hội và nghiên cứu khoa học nhưng về cơ bản, có thể khẳng định đây là
khái niệm khoa học có ý nghĩa lớn trong việc nghiên cứu. Nhờ đi từ góc độ này,
ở hầu hết các chỉ số phản ánh mức độ thu hút khán giả của HTV.
Tác giả luận án đã kết hợp điều tra định tính bằng cách phỏng vấn sâu 20
chuyên gia và những người có trách nhiệm trong lĩnh vực truyền hình để rút ra 8 ý
kiến có giá trị đóng góp về mặt thực tiễn cho công tác quản lý hoạt động HTV. Từ
các kết quả khảo sát được lượng hóa kết hợp với các kết quả định tính, tác giả đã
nêu ra 4 nguyên nhân chính dẫn đến sự kém hiệu quả về mặt thu hút khán giả của
HTV trong thời gian qua. Đó là (1) Việc quản lý sản xuất và phát sóng nội dung
không theo kịp thị hiếu của khán giả trong môi trường truyền thông nhiều cạnh
tranh; (2) Năng lực sản xuất nội dung chưa đáp ứng được các nhóm nhu cầu của
khán giả; (3) Vị thế đài địa phương của HTV trong hệ thống phân cấp ngành
truyền hình Việt Nam được thể hiện ngày càng rõ do xuất hiện quá nhiều đài và
kênh truyền hình dẫn tới sự chia nhỏ thị phần khán giả; (4) Cạnh tranh ngoại sinh
đến từ các phương tiện truyền thông mới đang thu hút khán giả bằng các nội dung
truyền hình phi truyền thống.
3. Bên cạnh việc trình bày và phân tích thực tiễn sản xuất và phát sóng
nội dung của HTV, tác giả cũng nêu rõ thực trạng tổ chức quản lý các mảng công
tác phục vụ cho việc hình thành sản phẩm truyền hình là công tác XHHSXCTTH,
quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ truyền hình và phát triển nguồn nhân lực.
Các kết quả khảo sát từ mảng hoạt động kỹ thuật, dịch vụ và phát triển
nguồn nhân lực của HTV cho thấy các hoạt động này có tác động trực tiếp và cũng
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường truyền thông đang có xu hướng hội tụ
trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của khoa- công nghệ trên các
lĩnh vực truyền hình, viễn thông và Internet. Ngoài điều kiện cần là nội dung, đó là