ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------
TRƯƠNG VĂN MINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
CHUYÊN NGÀNH
: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ
: 62.31.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1. TS. NGUYỄN VĂN HIỆU
2. TS. HUỲNH VĂN THÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
3.3. Quản lý dịch vụ truyền hình ................................................................................ 117
3.4. Quản lý phát triển nguồn nhân lực ...................................................................... 123
Chương 4: DỰ BÁO XU HƯỚNG TRUYỀN HÌNH VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH ......................... 128
4.1. Các yếu tố tác động tới nhu cầu và thái độ tiếp nhận của khán giả ....................... 128
4.2. Dự báo xu hướng vận động của ngành truyền hình Việt Nam.............................. 132
4.3. Khuyến nghị các giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động truyền hình . 144
KẾT LUẬN................................................................................................................... 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………… 170
PHỤ LỤC………………………………………………………………………………. 177
CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Viết tắt
Đầy đủ tiếng Việt
Bộ TT&TT
Bộ Thông tin – Truyền thông
DVB-T2
Công nghệ truyền hình số mặt đất chuẩn T2
HTV
Đài Truyền hình TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
VHĐC
Văn hóa đại chúng
VOD
Xem video theo yêu cầu
VTC
Đài Truyền hình Kỹ thuật số
VTV
Đài Truyền hình Việt Nam
XHH
Xã hội hóa
XHHSXCTTH
Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ HÌNH CHỤP TRONG LUẬN ÁN
Trang
Hình 1. 1: Mô hình quản lý truyền hình “Ba chủ thể” ........................................... 23
Hình 3.3: Mức đầu tư bằng quảng cáo (đơn vị USD) trên các kênh truyền hình
dẫn đầu tại thị trường TP.HCM 8 tháng đầu năm 2013…………………………119
Hình 4.1: Tỷ lệ khán giả truyền hình Mỹ tiếp nhận truyền thông khác cùng lúc
với truyền hình……………………………………………………………………129
Hình 4. 2: Mức độ tăng trưởng của quảng cáo trên truyền hình…………………141
Hình 4. 3: Việc can thiệp bằng mũi chích trực tiếp thường gây e ngại nhiều hơn
việc hòa trộn thuốc đặc trị vào dịch truyền (hình mang tính minh họa)…………146
Hình 4. 4: Mô hình “mở”,“động” và “thông” được đề xuất để quản lý hoạt động
HTV........................................................................................................................153
DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 2. 1: So sánh “rating” một số chương trình truyền hình thực tế được
phát sóng tại thị trường TP.HCM .......................................................................... 68
Bảng 2. 2: Tỉ lệ phim truyện truyền hình Hàn Quốc trên sóng HTV từ 2004 đến
2013 ...................................................................................................................... 85
Bảng 3. 1: Danh sách 10 buổi phát sóng chương trình cụ thể đạt “rating” %
cao nhất trong 8 tháng đầu năm 2013 ................................................................. 105
Bảng 3. 2: So sánh doanh thu của HTV và số lượng các chương trình
xã hội hóa ............................................................................................................ 106
Bảng 3. 3: Hiệu quả tài chính của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình của HTV ........................................................................................... 110
Bảng 3. 4: Mức độ thâm nhập của truyền hình trả tiền tại Việt Nam vào
năm 2013............................................................................................................. 118
1
MỞ ĐẦU
truyền hình một cách có hiệu quả, để cho truyền hình Việt Nam vừa góp phần xây
dựng đất nước trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa thỏa mãn nhu cầu
thông tin, học tập và giải trí lành mạnh của đại đa số quần chúng khán giả.
2.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa VHĐC và việc quản lý hoạt động
truyền hình, tác giả thực hiện luận án hướng tới những mục đích sau đây:
Một là, góp phần bổ sung một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu quản lý
hoạt động truyền hình ở Việt Nam gắn liền với thái độ và nhu cầu của khán giả dưới
tác động của VHĐC.
Hai là, tìm ra những thành công và hạn chế trong hoạt động quản lý truyền
hình ở Việt Nam hiện nay, qua đó cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệ giữa
quản lý hoạt động truyền hình và VHĐC.
Ba là, dự báo được xu hướng phát triển của môi trường truyền thông ảnh
hưởng đến VHĐC và tác động làm thay đổi thái độ và nhu cầu của khán giả truyền
hình, từ đó khuyến nghị những giải pháp nhằm cải tiến và đổi mới phương thức
quản lý hoạt động truyền hình cho phù hợp với sự phát triển.
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, đặc biệt tại các nước phương Tây, truyền hình với cách hiểu là
phương tiện truyền thông của VHĐC và là một hợp phần của VHĐC được giới
nghiên cứu quan tâm từ lâu, trở thành một phân ngành trong khoa học báo chítruyền thông, nghiên cứu xã hội học và nghiên cứu văn hóa học. Thậm chí truyền
hình ra đời đã thúc đẩy việc hình thành một trào lưu nghiên cứu VHĐC. Trong khi
đó, VHĐC được hình thành từ sự tác động của các phương tiện truyền thông đại
chúng lên xã hội, do đó nghiên cứu một đối tượng truyền thông từ góc nhìn VHĐC
không thể thiếu các phương pháp và quan điểm nghiên cứu của xã hội học cũng như
các lý thuyết về truyền thông (Media Theories).
Dù thịnh hành ở cuối thế kỷ XIX hay phổ biến ở đầu thế kỷ XXI, các quan
điểm về truyền thông đại chúng (bắt nguồn từ báo in và đang gây sốt với Internet)
nhìn chung cũng luôn ở hai nhóm cơ bản: nhóm các quan điểm phê phán và nhóm
mình. Tiêu biểu cho nhóm các học giả theo quan điểm này là trường phái Frankfurt
1
Dẫn lại theo Trần Hữu Quang 2005: 348.
4
với Theodor Adorno và Max Horkheimer. Các tác giả sau này như Herbert Schiller
với tác phẩm “Con người một chiều” (One-dimensional man) hay Herbert Schiller
trong “Truyền thông đại chúng và đế quốc Mỹ” (Mass Communications and
American Empire) đều phê phán chế độ tư bản sử dụng truyền thông đại chúng để
mê hoặc, điều khiển quần chúng trong nước và thống trị các nước thuộc thế giới thứ
ba bằng các sản phẩm và dịch vụ văn hóa.
Ở phía đối lập với quan điểm phê phán, tiêu biểu cho khuynh hướng ủng hộ
truyền thông đại chúng là các học giả theo theo quan điểm chức năng luận
(Functionalism). Mặc dù quan điểm này có nguồn gốc từ các công trình nghiên cứu
xã hội học nhưng cũng được giới học giả tiếp cận trong nghiên cứu truyền thông và
VHĐC. Các lý thuyết gia tiên phong Robert Merton, Harold Lasswell, Charles
Wright, qua các công trình nghiên cứu của mình, đều đi đến kết luận là truyền thông
đại chúng luôn có những chức năng để thỏa mãn những nhu cầu của xã hội, duy trì
tính ổn định, tính liên tục của một xã hội cũng như nhu cầu hội nhập và thích nghi
của các cá nhân trong xã hội. Một trong những nhánh nghiên cứu theo quan điểm
này là lối tiếp cận “Sử dụng và Hài lòng” (Uses and Gratifications).
Giai đoạn chính thức mở đầu cho việc nghiên cứu vai trò của truyền hình
trong đời sống văn hóa xã hội là từ sau Thế chiến thứ hai đến đầu thập niên 1960,
với các tác giả điển hình là P.Lazarsfelds, B.Berelson và H.Gauder trong “Sự lựa
chọn của nhân dân” (The People’s Choice) (1948). Trong công trình này, các tác
giả quan niệm rằng truyền thông không phải là một thứ quyền lực có thể tác động
trực tiếp lên các cá nhân mà chỉ là một trong các thiết chế xã hội. Sự ứng xử của
thông và tác động trở lại, góp phần xây dựng các thông điệp phù hợp với hoàn cảnh
và nhu cầu thỏa mãn của chính họ.
Tiếp tục phát triển các nghiên cứu của những người sáng lập, trong vai trò
giám đốc CCCS, học giả Marxist người Anh Stuart Hall đã đưa ra một cách tiếp cận
mới trong việc nghiên cứu quá trình sản xuất và tiếp nhận các thông điệp truyền
thông. Mô hình “Mã”(Encoding/Decoding) của ông là phối hợp giữa “Ký hiệu học”
(Semiology), các lý thuyết về ý thức hệ ảnh hưởng lên truyền thông đại chúng trong
nghiên cứu truyền thông. Mô hình này cũng liên quan đến tính chất đa nghĩa
(Polysemy) của nội dung thông điệp truyền thông và cách tiếp nhận đa dạng của
công chúng, vì vậy có thể làm giảm bớt “hiệu ứng” của truyền thông cũng như liên
6
kết các chức năng tích cực của truyền thông. Một cách tiếp cận như vậy có khả năng
dung hòa được những mối lo âu thái quá hoặc niềm lạc quan “ngây ngô” về sức
mạnh của truyền thông đại chúng.
Từ thập niên 1970 tới nay, giới nghiên cứu đã cho ra đời nhiều lý thuyết và
phương pháp tiếp cận nghiên cứu vai trò của truyền hình trong đời sống văn hóa, xã
hội các nước phương Tây (nơi truyền hình mặc nhiên đã được coi là một hình thức
của VHĐC). Ở Anh có James Halloran với “Những hiệu ứng của truyền hình” (The
Effects Of Television) (1970), Raymond Williams (1974) và công trình “Truyền
hình, công nghệ và dạng thức văn hóa” (Television, Technology And Cultural
Form), hay John Fiske với hàng loạt nghiên cứu như “Văn hóa truyền hình”
(Television Culture) (1987), “Tìm hiểu Văn hóa đại chúng” (Understanding
Popular Culture) (1989)…Ở Mỹ, các nhà nghiên cứu cũng sôi nổi không kém, tiêu
biểu là Muriel G. Cantor đã lưu ý đến những tác động tích cực và tiêu cực của
truyền hình cũng như các biện pháp quản lý nội dung các chương trình truyền hình
trong công trình “Truyền hình giờ vàng: Nội dung và kiểm soát” (Prime-time
Television: Content and Control ) (1980), Frank J. Coppa với “Màn hình và xã hội:
nghiên cứu một cách có hệ thống trong mối tương quan với các khoa học chuyên
ngành nghiên cứu văn hóa. Bên cạnh đó, VHĐC chỉ mới được đặt vấn đề nghiên
cứu gần đây, cho nên các công trình khoa học có liên quan đến truyền hình và quản
lý hoạt động truyền hình (xã hội học, khảo sát thực nghiệm, báo chí học…) thường
được đặt chung trong các nghiên cứu về truyền thông đại chúng mà hướng nghiên
cứu chính cho tới nay chỉ tập trung vào công chúng - người tiếp nhận từ góc nhìn xã
hội học và và báo chí học.
Các tác giả nghiên cứu ở lĩnh vực xã hội học có Mai Quỳnh Nam (1996,
2001), Trần Hữu Quang (2000, 2006), Đỗ Nam Liên (2005). Các công trình của họ
chủ yếu thực hiện việc đo lường các mức độ và cách thức tiếp nhận truyền thông
của công chúng Việt Nam và coi đó là những yếu tố quyết định đối với hiệu quả hay
tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng. Xét về mặt quan điểm khoa
học, các nghiên cứu về tiếp nhận của công chúng truyền thông đã góp phần thay đổi
nhận thức về “hiệu ứng” của truyền thông vốn được cho là tác động một chiều đến
công chúng, đem lại cái nhìn toàn diện hơn về công chúng trong môi trường truyền
thông. Các kết quả nghiên cứu của hai tác giả Trần Hữu Quang và Đỗ Nam Liên
8
được sử dụng hầu như trong tất cả các công trình, luận án sau này liên quan đến báo
chí và truyền thông.
Về khía cạnh kinh tế học, tác giả Đinh Quang Hưng (1996) đã nêu ra những
luận điểm về sự quan trọng của các mô thức tiếp nhận của khán giả ảnh hưởng đến
chiến lược phát triển của truyền hình. Về báo chí học có Tạ Ngọc Tấn (2001),
Nguyễn Văn Dững (2002, 2006, 2007), Lê Thanh Bình (2008)…là những tác giả đi
sâu vào nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận của truyền thông đại chúng Việt
Nam, nêu bật được mối quan hệ giữa truyền thông và sự phát triển xã hội trong đó
nhấn mạnh những tác động của truyền thông đến đời sống kinh tế xã hội nước ta
trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
chúng tôi giới hạn đối tượng nghiên cứu trường hợp là “Đài truyền hình TP.HCM”
(HTV) với sự thể hiện của hai kênh quảng bá (dịch vụ công) có nhiều ảnh hưởng
đối với công chúng là HTV9 và đặc biệt là HTV7; không gian nghiên cứu là địa bàn
TP.HCM và vùng lân cận; thời gian nghiên cứu là trong vòng mười năm trở lại đây,
từ lúc VHĐC bắt đầu có tác động rõ nét đối với đời sống kinh tế - xã hội của các đô
thị lớn và ảnh hưởng đến những hoạt động của truyền hình qua việc phổ biến các
nội dung thu hút đông đảo khán giả. Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu này, từ
góc nhìn VHĐC, tác giả đánh giá công tác quản lý hoạt động truyền hình ở Việt
Nam hiện nay, cụ thể là ở HTV và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động truyền hình
đáp ứng nhu cầu, thị hiếu, sở thích giải trí văn hóa của công chúng khán giả hiện
nay.
4.2. Nguồn tư liệu và tài liệu
Tư liệu bao gồm các nguồn:
-Tư liệu khảo sát, điều tra xã hội học.
-Tư liệu lưu trữ và hiện hành của HTV có liên quan đến đề tài.
Tài liệu bao gồm các nguồn:
-Lý luận văn hóa và văn hóa đại chúng
-Lý luận về văn hóa quản lý và quản lý văn hóa.
-Nghiên cứu truyền hình, nghiên cứu quản lý hoạt động truyền hình từ góc
nhìn VHĐC.
-Tài liệu liên quan đến Đài truyền hình TP.HCM.
-Văn bản pháp quy về quản lý nhà nước ngành truyền hình ở Việt Nam.
10
5. Quan điểm nghiên cứu, giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu dựa trên quan điểm lịch sử - cụ thể và hướng tiếp
cận liên ngành từ góc nhìn văn hóa học, vận dụng lý thuyết chức năng luận trong
từng đài cụ thể) có thể làm thay đổi xu hướng hưởng thụ văn hóa nơi khán giả, đẩy
khán giả đến với các phương tiện truyền thông mới hoặc chuyển dịch sang các kênh
truyền hình khác.
Việc quản lý truyền hình gắn liền với VHĐC cần phải dựa trên một mô hình
phù hợp với môi trường truyền thông “mở” và “động”, theo đó các giải pháp quản
lý phải tạo sự liên thông với môi trường truyền thông và có sự tương tác tích cực
với khán giả.
5.3. Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án, người viết đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu theo hướng tiếp cận liên ngành và hệ thống - cấu trúc để xác định mối
quan hệ giữa việc quản lý hoạt động HTV trong môi trường truyền thông Việt Nam
và nhu cầu, thái độ của khán giả TP.HCM trong bối cảnh chung của VHĐC đang
phát triển mạnh trên thế giới. Nội dung chính của đề tài luận án là quản lý hoạt động
truyền hình từ góc nhìn VHĐC nên tính liên ngành của đề tài rất cao, thể hiện đầu
tiên là liên ngành Văn hóa học – Báo chí học. Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu các
thành quả khoa học ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu của Báo chí học, Khoa học truyền
thông, Xã hội học…, hướng tiếp cận liên ngành được thể hiện ở hai cấp độ cơ bản
là sử dụng một số khái niệm và lý thuyết trong khoa học truyền thông và các
phương pháp nghiên cứu trong xã hội học để soi rọi và tìm hiểu những lĩnh vực có
tính giáp ranh giữa truyền thông đại chúng và VHĐC.
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án bao gồm:
Phương pháp lịch sử: nhằm làm rõ các sự kiện quan trọng diễn ra trong quá
trình hình thành, phát triển của các đối tượng nghiên cứu để tìm ra các nguyên nhân
và hệ quả tiếp theo trong mối liên quan giữa các sự kiện. Phân tích, đánh giá việc
hình thành phương thức quản lý hoạt động truyền hình trong quá trình phát triển của
truyền hình Việt Nam, cụ thể là ở HTV.
12
13
tiếp đến vấn đề nghiên cứu để tìm hiểu kiến thức, quan điểm và cả cảm nhận của họ
về những vấn đề gắn với đề tài nghiên cứu. Trong quá trình phỏng vấn, ngoài vấn
đề chính được tác giả nêu ra lúc đầu, còn lại tất cả nội dung buổi phỏng vấn đều
được người trả lời khai triển, dẫn dắt tình huống câu hỏi để đảm bảo hiệu quả phát
hiện mới của phương pháp này.
Phương pháp điều tra xã hội học: Do đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn hóa
ứng dụng nên phương pháp này được thực hiện cùng với phương pháp quan sát
tham dự và phương pháp phỏng vấn sâu nhằm phục vụ cho quá trình từng bước
chứng minh sự quan hệ hữu cơ giữa các đối tượng nghiên cứu. Việc chọn 600 mẫu
điều tra được tính toán theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp với công
thức tính mẫu được giảng dạy tại Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM. Để đảm bảo tính đại diện và tính
khoa học của các thông tin cần thu thập, việc tổ chức điều tra được triển khai theo
phương pháp phỏng vấn trực tiếp từng hộ dân ở khu vực trung tâm TP.HCM (quận
1, quận 3, quận Bình Thạnh) và ngoại vi TP.HCM (quận 12, huyện Hóc Môn,
huyện Nhà Bè). Các kết quả trả lời được lượng hóa để thể hiện mức độ và thái độ
quan tâm cũng như nhu cầu của khán giả đối với các chương trình của HTV nói
riêng, truyền hình nói chung, từ đó đánh giá mức độ quản lý hiệu quả của HTV từ
góc nhìn VHĐC.
6. Đóng góp của luận án
6.1. Đóng góp về mặt lý luận
Luận án tập trung vào mảng đề tài quản lý văn hóa, quản lý báo chí (trong đó
có truyền hình) và VHĐC sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về VHĐC tại các
thành phố lớn Việt Nam, tiêu biểu là TP.HCM, trong điều kiện phát triển của các
phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống (với đối tượng nghiên cứu là
HTV), đồng thời cho thấy sự tồn tại khách quan của VHĐC thông qua sự tương tác
giữa khán giả và các chương trình truyền hình.
quản lý hoạt động sản xuất và phát sóng nội dung HTV trên cơ sở lý luận và thực
tiễn của truyền hình thế giới và Việt Nam từ góc nhìn VHĐC.
Chương ba (29 trang) bổ sung các hoạt động quản lý HTV ở các lĩnh vực xã
hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, kỹ thuật, dịch vụ và quản lý nguồn nhân
15
lực để phục vụ công tác sản xuất nội dung của HTV, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ
văn hóa của công chúng.
Từ thực tiễn quản lý HTV nhìn từ góc độ VHĐC và những kết quả nghiên
cứu đạt được, chương bốn (35 trang) và là chương cuối cùng nêu lên hướng vận
động của truyền hình Việt Nam, có tham khảo, so sánh một số kinh nghiệm của
truyền hình thế giới để khuyến nghị các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản
lý hoạt động truyền hình tại Việt Nam nói chung và HTV nói riêng, hướng đến đại
chúng khán giả trong bối cảnh toàn cầu hóa.
16
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH (TRƯỜNG HỢP HTV)
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG
1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1. Văn hóa đại chúng và góc nhìn văn hóa đại chúng
1.1.1.1. Khái niệm Văn hóa đại chúng theo nghĩa của thuật ngữ “Popular Culture”
Văn hóa đại chúng (VHĐC) là một thuật ngữ Việt Nam còn tương đối mới,
khá phức tạp và dễ bị dùng lẫn với một số khái niệm khác nên trong mục này,
như các dạng thức khác phổ biến trong thời của các học giả này như tiểu thuyết của
Ian Flemming hay nhạc của Elvis Presley. Có điều hai loại sau thì ai đọc cũng được
và ai nghe cũng hiểu. Sự ra đời của khái niệm tiếng Anh “Popular Cuture” thoạt đầu
xuất phát từ quan điểm của các nhà khoa học nói trên với mong muốn đưa thêm vào
phạm trù văn hóa những cái mà trước đây không được văn hóa tinh hoa (High/Elite
Culture) “chấp nhận”. Và cũng từ việc mở rộng này đã hình thành chính thức một
lĩnh vực nghiên cứu mới trong giới học thuật phương Tây từ nửa sau thế kỷ XX, đó
là Cultural Studies [91, tr. 229].
Mặc dù thuật ngữ tiếng Anh “Popular Culture” mới xuất hiện từ giữa thế kỷ
XX ở phương Tây nhưng khái niệm văn hóa mang tính phổ biến và số đông đã được
hình thành từ rất lâu. Ở mỗi thời đại cũng như bối cảnh xã hội khác nhau, nó mang
những tên gọi khác nhau cũng như bao gồm những dạng thức giao tiếp xã hội khác
nhau để phân biệt rõ với các dạng thức của văn hóa tinh hoa. Nhiều học giả cho
rằng “Popular Culture” chí ít cũng đã có từ sau Thiên Chúa giáng sinh (tuy chưa
mang đầy đủ những đặc trưng của “Popular Culture” hiện đại). Cơ sở chứng minh
cho luận điểm này là các ấn bản đơn giản được in số lượng lớn (bằng phương pháp
thô sơ) để phát cho quần chúng vào những thế kỷ đầu Công nguyên với tên gọi
Thánh kinh cho kẻ ăn xin. Hoặc khi bàn về văn học bình dân, người ta thường nhắc
tới các tác phẩm phổ biến rộng rãi trong quần chúng của nhà văn Anh Daniel Defoe
(1660-1731) hay nhà văn Nga Matvei Komarov (1730-1812) được viết bằng thứ
ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng và giản dị [33, tr. 176,177]. Tuy nhiên, cho tới cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, “Popular Culture” mới được hình thành theo đúng
nghĩa của nó (mặc dầu vẫn chưa có tên gọi chính thức) do đã hội đủ các các tiền đề
quan trọng.
Tiền đề thứ nhất là nền sản xuất đại công nghiệp mang tính hàng hóa có khả
năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng loạt của khối công chúng thuộc nhiều nhóm xã
hội khác nhau trên không gian địa lý rộng lớn và xuyên quốc gia. Hệ quả trước tiên
18