BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
--------------------------
VÕ MINH HẢI
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU
TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
--------------------------
VÕ MINH HẢI
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU
TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số:
62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Lê Thu Yến
8. Cấu trúc của luận án .......................................................................................... 20
Chương 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NHÌN TỪ
QUAN NIỆM THẨM MỸ TRUNG ĐẠI.............................................................22
1.1. Ngôn ngữ với văn chương và văn hoá...........................................................22
1.1.1. Ngôn ngữ và văn chương từ góc nhìn văn hoá........................................ 22
1.1.2. Sự tác động của ngôn ngữ đối với văn hoá ............................................. 26
1.1.3. Ngôn ngữ với vấn đề bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hoá................ 31
1.2. Ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bác học ....................34
1.2.1. Khái niệm ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bác
học ........................................................................................................................ 34
1.2.2. Hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bác
học ........................................................................................................................ 37
1.2.3. Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm văn chương cổ điển
Việt Nam nhìn từ góc độ văn hoá........................................................................... 41
1.3. Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm - Tấm gương phản chiếu văn hoá .........46
1.3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm, một hình thức giao tiếp đặc thù của văn
học cổ điển Việt Nam............................................................................................. 46
1.3.2. Một số đặc trưng cơ bản của ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật
truyện Nôm............................................................................................................ 49
1.4. Quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều ......52
1.4.1. Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du............................ 52
1.4.2. Sự thể hiện quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và
Truyện Kiều .......................................................................................................... 57
Chương 2. NGỮ LIỆU VĂN HOÁ TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRUYỆN KIỀU .....................................................................................................68
2.1. Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Hán, bác học và văn hoá Việt, bình dân
đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều .........................68
2.1.1. Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Hán, bác học đối với hệ thống ngữ
3.3. Âm hưởng của ngữ liệu văn hoá trong Truyện Kiều đến đời sống xã hội,
văn chương Việt Nam.........................................................................................167
3.3.1. Ảnh hưởng của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều đến đời sống văn hoá,
xã hội Việt Nam ................................................................................................. ..167
3.3.2. Sự lan toả và vang vọng của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều đến đời
sống văn chương Việt Nam .................................................................................. 177
KẾT LUẬN........................................................................................................ 185
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ................................................. 189
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH................................................................... 190
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQG:
ĐHSP :
HN:
KHXH & NV:
SG:
TCVH:
TCNCVH:
TP. HCM :
Tr.:
Đại học Quốc gia
Đại học Sư phạm
Hà Nội
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Sài Gòn
Tạp chí Văn học
Tạp chí Nghiên cứu văn học
95
96
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển văn hoá, văn học của nhân loại, có những tác phẩm
văn học kiệt xuất, phản ánh, kết tinh văn hoá tinh thần của một quốc gia, phô bày
những nét đẹp kiều diễm của ngôn ngữ mẹ đẻ - một biểu tượng văn hoá tài hoa của
một dân tộc. Những tác phẩm ấy không chỉ là những nỗi đam mê, niềm kiêu hãnh tự
hào của dân tộc đó mà còn là chiếc cầu nối văn hoá – tâm linh mang lại bao nhiêu
tình yêu, sự kính trọng và những trải nghiệm của những dân tộc khác. Vì vậy, có thể
nói, Nguyễn Du 阮攸 đã cống hiến cho dân tộc chúng ta một tuyệt phẩm, đúng như
Đặng Thai Mai đã từng nhận định: “Trong toàn bộ văn học Việt Nam ngày xưa,
Truyện Kiều là một thành công vẻ vang nhất, là áng văn chương tiêu biểu hơn
hết...” [05, tr.165].
Từ khi ra đời đến nay Truyện Kiều 傳翹 (nguyên danh Đoạn trường tân
thanh 斷腸新聲) đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn,
tâm linh của dân tộc Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng. Nhờ có
Truyện Kiều, vẻ đẹp của tiếng Việt càng được tôn xưng, tài năng của các thi nhân
người Việt càng được khẳng định, đề cao. Tuy đã có không ít công trình nghiên cứu
công phu về tác phẩm nhưng cho đến nay vẫn còn có khá nhiều vấn đề cần được
làm sáng tỏ. Những vấn đề liên quan đến văn bản, nội dung và thế giới nghệ thuật
của nó vẫn để lại những tồn nghi, cần tiếp tục kiểm chứng, bổ sung và khảo cứu
thêm. Tuy vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định những
thành tựu về ngôn ngữ của Nguyễn Du trong tuyệt phẩm này cũng như những
đóng góp thiết thực của ông đối với lịch sử phát triển ngôn ngữ văn chương cổ
văn trong văn học cổ điển Trung Quốc mà còn được khẳng nhận từ nhiều góc độ
khác nhau, nhất là từ phương diện ngôn ngữ và văn hoá.
Với số lượng 3.254 câu thơ lục bát trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã huy
động một vốn từ phong phú, đa dạng và liên kết chúng thành một hệ thống ngữ liệu
đặc sắc tạo nên những thần cú diễm từ trong văn học cổ điển Việt Nam. Do đó, nó đã
trở thành một đối tượng nghiên cứu, so sánh của nhiều chuyên ngành khác nhau như:
Văn bản học, Thi pháp học cổ điển, Ngôn ngữ học văn hoá... gắn liền với những tên
tuổi các học giả nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Sỹ Tế, Đặng
Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Khắc Viện, Bửu Cầm, Lê Ngọc Trụ, Bùi
3
Khánh Diễn, Tản Đà, Bùi Giáng, Bằng Giang, Thẩm Thệ Hà, Trần Phương Hồ,
Nguyễn Tử Quang, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Văn Hoàn, Lê Trí Viễn,
Đào Thản, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thạch Giang... và gần
đây nhất là những công trình quy mô của Trần Đình Sử, Trần Nho Thìn, Nguyễn Hữu
Sơn, Đào Thái Tôn, Phạm Đan Quế, Lê Thu Yến, Lê Xuân Lít, Vũ Thanh Huân...
Tựu trung, qua những tư liệu hiện có, theo chúng tôi, lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ
nghệ thuật Truyện Kiều có thể khái quát thành các hướng như sau:
2.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Từ góc nhìn lịch sử phái sinh, tuỳ theo từng mục đích của các chuyên luận,
tiểu luận nghiên cứu, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều được xem xét từ
nhiều góc độ với nhiều khái niệm khác nhau. Qua nghiên cứu, chúng tôi tạm nêu
một số nét khái quát như sau: Ngôn ngữ nhân dân và ngôn ngữ quý tộc (Lê Trí
Viễn, Đào Thản, Lê Đình Kỵ, Đặng Thanh Lê); Ngôn ngữ hiện thực và ngôn ngữ
ước lệ (Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ); Ngôn ngữ (dòng, sắc thái) bình dân và bác học
(Mai Quốc Liên, Lê Đình Kỵ); Ngôn ngữ văn học dân gian và ngôn ngữ văn học
chữ Hán (ngôn ngữ văn chương bác học) (Đào Duy Anh, Lê Trí Viễn, Nguyễn Lộc,
Đặng Thanh Lê, Đào Thản, Nguyễn Thuý Hồng); Ngôn ngữ Việt và ngôn ngữ Hán
Theo sự sưu tập của chúng tôi, xuất phát từ quan điểm xem ngôn ngữ là một
bộ phận quan trọng cấu thành vẻ đẹp đặc biệt của tác phẩm, Nguyễn Lộc trên Tạp
chí Văn học số 11 năm 1965 với bài viết Ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều [89]
và tiếp tục trong công trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ
XIX) (1978, tái bản 2006) [90] đã khảo sát nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn
Du ở các phương diện như từ ngữ Hán Việt, điển cố, thi liệu, ngữ liệu tập văn, tập
thi... Tác giả đi sâu phân tích nét đặc sắc và chỉ ra những sáng tạo của Nguyễn Du trong
nghệ thuật sử dụng từ trong thi phẩm của mình. Ông cho rằng:
Cũng như Hồ Xuân Hương, với Nguyễn Du thơ ca không tự bó mình
trong khuôn khổ nào của ngôn từ. Không có sự phân biệt của ngôn ngữ thơ và
ngôn ngữ đời sống. Đối với ông, bất cứ một từ ngữ nào cũng trở thành từ ngữ
của thơ, miễn là phải dùng nó một cách có nghệ thuật... [90, tr. 778].
Tiếp tục những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lộc, nhà Ngữ học Đào Thản
với tiểu luận Đi tìm một vài đặc điểm ngôn ngữ Truyện Kiều (1966) [135] đã khái
quát những vấn đề cơ bản về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du, nhất là
5
phần điển cố và các ngữ liệu cổ văn khác. Trong những công trình này này, các tác
giả đã nhận định cụ thể như sau: “Cái đặc sắc ở Nguyễn Du là ở chỗ mài dũa đến
điêu luyện mà không làm mất vẻ tự nhiên, chọn lọc tinh vi mà không cầu kỳ vẫn giữ
được phần trong trẻo của ngôn ngữ dân tộc” [135, tr.68]. Trong Đặc điểm ngôn ngữ
Truyện Kiều (1988), Đào Thản tiếp tục khẳng định:
Ngôn ngữ Truyện Kiều nói chung không có vay mượn xa lạ và cầu kì
như Cung oán ngâm khúc, không có cái đài các quá ư lộng lẫy nhưng bề bộn
rườm rà của Hoa tiên hay đẽo gọt vụng về của Sơ kính tân trang. Quả thật ngôn
ngữ Truyện Kiều gần với thôn ca hơn cả. [136, tr.169].
Truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước, đã có nhiều công
trình nghiên cứu tiếp cận nó từ nhiều góc độ khác nhau nhằm tìm hiểu phong cách
Nghiên cứu Truyện Kiều trong phong cách thể hiện truyện Nôm ta thấy
tác giả thừa hưởng những cái hay của thể loại nhưng còn phải chịu một vài
nhược điểm của nó. Cái hay là ở tâm trạng, ở ngôn ngữ, ở sự xây dựng một
phong cách diễn đạt gần như toàn dân. Nhưng nhược điểm vẫn còn: phần thể
hiện hoàn cảnh khách quan không mãnh liệt mà chiều theo khuôn sáo, đưa
yếu tố thần linh vào không tự nhiên, những khuyết điểm chung của hầu hết các
truyện Nôm. [100, tr.323].
Tiếp sau Phan Ngọc, Trần Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều (2002) [132]
đã khảo sát và tìm hiểu thế giới nghệ thuật, tư duy nghệ thuật của Nguyễn Du và tác
phẩm của ông một cách khá công phu. Tác giả đã đi vào nghiên cứu tác phẩm theo
một hệ thống và biện giải nó ở nhiều phương diện. Ông đã tôn vinh Nguyễn Du là
“nhà nghệ sĩ ngôn từ”, là “nhà nghệ sĩ bậc nhất về ngôn từ trong văn học trung đại
Việt Nam” [132, tr.305]. Đặc biệt, Trần Đình Sử đã nhấn mạnh:
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du với tư cách nghệ sĩ, ông cũng “đập
vỡ” cấu trúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn từ nghệ thuật. Ông đã
tránh ngôn từ tác giả thực dụng để sử dụng ngôn từ đã chủ thể. Ông đã trao
quyền tự sự cho người kể chuyện và cho nhân vật, làm cho ngôn từ ấy có thể
“nói” nhiều hơn là lời của ông Tham tri bộ Lễ, ông Cai bạ Quảng Bình và
ông sứ thần triều Nguyễn. [132, tr.308].
Qua những công trình của Lê Trí Viễn, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Lộc, Đặng
Thanh Lê, Phan Ngọc, Nguyễn Quảng Tuân, Trần Đình Sử... người đọc cảm thấy
7
thích thú với những nhận xét sắc sảo, tinh tế, thực sự thoả đáng và qua đó có thể có
được một cái nhìn khái quát hơn về phong cách ngôn ngữ, thế giới thẩm mỹ và quan
điểm sáng tác của Nguyễn Du - nhà thơ vĩ đại của dân tộc.
Như đã trình bày, kể từ ngày ra đời cho tới nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du
đã được giới nghiên cứu Ngữ văn học tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Trong
Nguyễn Du là một nhà thơ vô song đã đóng góp rất nhiều vào ngôn
ngữ văn học dân tộc. Công lao của ông trong việc kế thừa một cách sáng tạo
ngôn ngữ dân gian và trong việc sử dụng tài tình ngôn ngữ văn học Trung
Quốc. Thành tựu tuyệt vời của ông trong việc làm phong phú, làm trong sáng
ngôn ngữ văn học thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng sâu xa và lâu dài đến sự phát
triển ngôn ngữ văn học dân tộc ta. [83, tr.57].
Sau học giả Mai Quốc Liên, nhà lý luận phê bình văn học Lê Đình Kỵ cũng
khảo sát Sắc thái bác học, sắc thái bình dân và tính thống nhất của ngôn ngữ
Truyện Kiều (1986), ông cũng thống nhất quan điểm:
Tính dân tộc của ngôn ngữ có gốc rễ chủ yếu ở thành phần bình
dân... những yếu tố bác học như điển cố, tượng trưng, ước lệ đã được
Nguyễn Du nhào nặn tái tạo và đưa vào một âm hưởng mới, chứa chan tình
điệu dân tộc...” và “làm thế nào kết hợp giữa hai thành phần đó trong cùng
một tác phẩm mà không có sự phân ly, chắp nối. Hoàn cảnh mỹ học cụ thể
lúc bấy giờ cho phép sự thống nhất hai thành phần ấy trong một sự kết hợp
biện chứng, hữu cơ. [76, tr 425].
Hướng tiếp cận trên tuy đã chỉ ra được hai nguồn gốc cơ bản cấu thành hệ
thống ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều nhưng vẫn chưa đi sâu phân tích, đưa
ra những dẫn liệu cụ thể và nêu bật rõ ràng những nét nghĩa văn hoá ẩn hàm trong
ngôn ngữ Truyện Kiều, nhất là nguồn gốc, xuất xứ cụ thể của hệ thống ngữ liệu văn
hoá trong tác phẩm tiêu biểu này.
Năm 1995, Nguyễn Thị Ly Kha đã công bố bài viết Bước đầu tìm hiểu về
hiện tượng giao thoa từ ngữ tiếng Hán sang từ ngữ tiếng Việt (qua cứ liệu Đoạn
trường tân thanh) và phần phụ lục Đôi điều về Truyện Kiều và cổ thi trong Kỷ yếu
Hội nghị Khoa học, Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM. Từ góc độ lý thuyết tiếp
xúc ngôn ngữ, tác giả đã trình bày khá nhiều vấn đề về sự giao thoa của hai hệ
thống ngôn ngữ, tuy nhiên, bài viết cũng chỉ dừng lại ở mức độ nêu vấn đề, chưa
9
Du và Truyện Kiều đối với lịch sử phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc.
10
Cũng từ góc độ văn hoá, một số nhà nghiên cứu khác đã đi theo khuynh
hướng truy tìm những nguồn gốc, xuất xứ của các ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ
Truyện Kiều. Đây có thể xem như là một trong những hướng tiếp cận liên ngành
ngôn ngữ - văn hoá kết hợp với những thành tựu nghiên cứu về Huấn hỗ học Hán
ngữ. Đặc biệt ở đây, hướng tiếp cận này có thể phục dựng lại một bức tranh phong
phú về những ảnh hưởng của văn hoá, văn chương cổ điển Trung Hoa, Việt Nam
đến tư duy thẩm mỹ, khả năng lựa chọn ngữ liệu trong quá trình hình thành tác phẩm
và tìm hiểu được sự vận động lý thú, những ảnh hưởng của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện
Kiều đến đời sống văn chương hậu thế.
Những tác giả đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này, theo chúng tôi, có
thể kể đến vai trò mở đường của Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Đặng Thanh Lê,
Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Quảng Tuân, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Hoàng Hữu
Yên, Nguyễn Thạch Giang, Lê Thu Yến, Nguyễn Hữu Sơn... Nhà nghiên cứu
Đặng Thanh Lê trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979) [80], Nguyễn
Thạch Giang trong Đoạn Trường tân thanh qua cái nhìn của Thiền gia, Nho gia
(1995) [47], Lời quê chắp nhặt (2001) [46] và Nguyễn Thuý Hồng trong công
trình Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong Truyện Kiều (1995) [65] và Phạm Đan
Quế trong công trình Về những thủ pháp nghệ thuật văn chương Truyện Kiều
(2006) [115], Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều (2013) [122] đã đặt vấn đề khảo sát
hệ thống ngôn ngữ văn hoá trong ngôn ngữ truyện Nôm nói chung và Truyện Kiều
nói riêng như một thủ pháp đặc trưng tiếp cận thế giới nghệ thuật tác phẩm từ sự
phân loại nguồn gốc của từ ngữ: Việt và Hán - Việt. Kết quả nghiên của các
chuyên gia trên đều thống nhất, phù hợp với quan điểm của Nguyễn Thuý Hồng,
khi tác giả cho rằng:
Từ ngữ Hán Việt được vận dụng trong ngôn ngữ Truyện Kiều và các
chúng tôi, mở đầu cho hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hoá đối với
Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều có lẽ là nhà Kiều học Phạm Đan Quế, trong hàng
loạt các công trình của mình do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành như: Tập Kiều một thú chơi tao nhã (1999) [112], Đố Kiều - nét đẹp văn hoá (2002) [118], Về
những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều (2002) [115], Bình Kiều,
Vịnh Kiều, Bói Kiều (2003) [110], Lục bát hậu Truyện Kiều (2003) [117], Truyện
Kiều trên báo chương thế kỷ XX (2004) [120], Thế giới nhân vật Truyện Kiều
(2005) [121], Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều (2013) [121]... và bộ sách Truyện
12
Kiều trong văn hoá Việt Nam (Tùng thư Truyện Kiều) (2013) của Hội Kiều học Việt
Nam đã bước đầu đi sâu phân tích những nét đẹp văn hoá được thể hiện qua ngôn
ngữ của thi phẩm.
Thông qua những bộ tùng thư văn hoá Kiều mà chúng tôi vừa đề cập trên,
Phạm Đan Quế đã nêu bật những hiện tượng, khía cạnh văn hoá của Truyện Kiều đã
ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống xã hội, văn học nước nhà. Tuy nhiên, qua các
công trình này, các tác giả chưa thực sự đầu tư phân tích quá trình chuyển hoá, đặc
trưng văn hoá Trung Hoa và Việt Nam đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ Truyện Kiều
như thế nào. Nói cách khác, cả Phạm tiên sinh lẫn Tuệ Không cư sỹ đã góp phần
minh chứng cho sức sống trường cửu của Truyện Kiều và những câu lục bát đậm
tình dân tộc. Tuy nhiên, cả hai đều chưa đi sâu lý giải cội nguồn văn hoá của tác
phẩm. Sự lan toả, vang vọng của những nét nghĩa văn hoá ẩn hàm bên trong lớp
ngôn ngữ đặc biệt của Truyện Kiều đã khiến cho giai phẩm này đi vào thế giới tinh
thần của người đọc dường như lớn hơn nhiều so với những gì mà Nguyễn Du đã ký
thác. Giá trị, ý nghĩa của Truyện Kiều ngày càng được nâng cao bởi những yếu tố
thẩm mỹ, những nội hàm văn hoá đang ẩn sâu dưới lớp băng nghệ thuật của ngôn từ
và nó đem lại cho người tiếp nhận những dự cảm, tình điệu, tâm thức mới trong
hành trình đi tìm các tầng nghĩa nhân sinh, văn hoá của nghệ thuật và đời sống.
Từ năm 1999 đến nay (2014), một số nhà nghiên cứu đã kế thừa quan điểm
đầu tư thỏa đáng. Điều đó cho thấy, đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều từ
góc nhìn văn hoá mà chúng tôi đang thực hiện tuy không phải hướng tiếp cận mới
lạ, song nó vẫn còn là mảnh đất khá màu mỡ cho những ai tâm huyết với các tác
phẩm văn học dân tộc. Hướng tiếp cận này góp phần minh chứng khả năng liên hội
của từ ngữ văn hoá tạo nên đặc trưng tư duy mang tính biểu tượng, ý nghĩa liên hội
của các chúng trong ngôn ngữ Truyện Kiều, làm cho trường liên tưởng của tác phẩm
này càng được mở rộng mà mỗi độc giả tuỳ theo bề dày văn hoá của mình có thể
thẩm thấu được.
Tóm lại, từ những hướng nghiên cứu đã tổng thuật và nhìn lại một chặng
đường lịch sử khảo sát Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy tiếp cận tác phẩm văn học
từ góc nhìn văn hoá là vấn đề lớn, cần có sự đầu tư, tìm hiểu của nhiều thế hệ học
giả và bạn đọc. Từ định hướng này, nhiều nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu, khám
phá thế giới nghệ thuật, bức tranh ngôn ngữ về đời sống xã hội, khẳng định những
14
cách tân, đóng góp của Thanh Hiên tiên sinh trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực
cùng với những trải nghiệm của một nhà nghệ sỹ trước những dâu bể, biến thiên,
tang thương của cuộc đời. Do vậy, khảo sát hệ thống ngôn ngữ tác phẩm văn học
trung đại nói chung và Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều nói riêng từ góc độ văn
hoá là một công việc khá phức tạp và có giá trị khoa học, thực tiễn đối với công tác
nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm này trong nhà trường. Thông qua hệ thống ngữ liệu
văn hóa, một số nhà nghiên cứu bước đầu đã khám phá nội dung, tư tưởng, những
sáng tạo, đặc trưng phong cách văn hoá của đại thi hào Nguyễn Du.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá,
chúng tôi nhận thấy cần phải có những cách thức tiếp cận liên ngành, khảo cứu,
giảng giải ngữ liệu văn hoá một cách khoa học và chuẩn xác. Vì thế, khi thực hiện
luận án, chúng tôi cũng đã gặp không ít những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, việc
Du mà chúng tôi tạm gọi là Từ ngữ văn hoá hậu Truyện Kiều. Do vậy, thông qua
kết quả thống kê, phân loại ngữ liệu, chúng tôi sẽ bước đầu đi vào tìm hiểu, phân
tích hàm nghĩa văn hoá, chức năng, giá trị sử dụng nó trong ngôn ngữ Truyện Kiều.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
văn hoá, những ảnh hưởng của văn hoá bác học, bình dân đối với ngôn ngữ nghệ
thuật Truyện Kiều. Từ những kết luận có được, thông qua quá trình khảo sát, thống
kê, phân loại các tiểu hệ thống ngôn ngữ với những nét nghĩa văn hoá đặc thù,
chúng tôi bước đầu tìm hiểu phong cách, giá trị cũng như những hiệu quả thẩm mỹ
của các hệ thống ngữ liệu văn hoá, những biểu hiện cụ thể của nó trong Truyện
Kiều. Để tạo tính thống nhất trong quá trình khảo sát ngữ liệu, trong luận án này,
chúng tôi không đi sâu khảo sát những hiện tượng cú pháp câu trong ngôn ngữ nghệ
thuật của Truyện Kiều.
Ngoài ra, trên một hệ quy chiếu mới, chúng tôi bước đầu so sánh những đặc
trưng văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật của thiên truyện này với một số truyện thơ
Nôm bác học khác trước và sau nó.
3.3. Văn bản khảo sát, đối chiếu và thống kê
Văn bản Truyện Kiều được khảo sát trong luận văn của chúng tôi là bản
Truyện Thuý Kiều (1925, tái bản 1960) do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo
16
[30]. Đây là một trong những bản phiên quốc ngữ chất lượng, có giá trị khoa học.
Bên cạnh đó chúng tôi có những đối chiếu và so sánh với các bản quốc ngữ Vương
Thuý Kiều chú giải tân truyện (1952) [35] do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chấp bút
hiệu đính, chú giải, bình luận, bản Truyện Kiều chú giải (1952, tái bản 2010) [28]
do Vân Hạc Lê Văn Hoè chú giải và bản Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh)
(1960, bản in lần 3) [29] do học giả Bùi Khánh Diễn chú thích và bình luận.
Trong quá trình thống kê, tác giả luận án đã sử dụng một số kết quả, thành
đi này sẽ trực tiếp luận giải mối quan hệ biện chứng giữa văn học, ngôn ngữ với văn
hoá. Văn hoá là một hiện tượng tồn tại một cách không cụ thể, trực tiếp, người ta
chỉ có thể nhận diện văn hoá qua hệ thống các biểu hiện cụ thể - các hiện tượng văn
hoá như một tập hợp đa trị cần được tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau. Mục
đích chính của luận văn là tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam
trong hệ thống Ngôn ngữ nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể - Truyện Kiều. Thông
qua những kết quả thu thập được, chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích những yếu tố văn
hoá ẩn hàm trong lớp ngôn từ nghệ thuật đặc sắc của thi phẩm này.
Nhiệm vụ cơ bản của luận án là tiến hành phác hoạ một cách chân thực bức
tranh toàn cảnh về thế giới trữ tình của Nguyễn Du trong Truyện Kiều từ góc độ
ngôn ngữ văn hoá. Từ đó, chúng tôi xác định những nét riêng biệt về giá trị văn hoá
của ngôn ngữ tác phẩm trong hành trình phát triển của văn học cổ điển, những yếu
tố đã làm nên giá trị bất hủ của thi phẩm.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hỗ trợ cho việc lý giải, tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến điển cố, thi
liệu, từ ngữ tập cổ trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều và hàm nghĩa văn hoá của
chúng trong từng ngữ cảnh cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát, truy nguyên hệ thống
ngữ liệu cổ văn Truyện Kiều trong các văn bản, tài liệu Hán Nôm. Đây là một việc
làm cần thiết đối với những ai yêu mến tác phẩm và bảo tồn di sản văn học cổ điển
của ông cha ta. Vì những lý do cơ bản ấy, chúng tôi thiết nghĩ ngôn ngữ văn hoá
trong Truyện Kiều cần phải xem một biểu tượng, một minh chứng cho mối quan hệ
ngôn ngữ - văn hoá thông qua các quan hệ hữu cơ của hai hệ thống này.
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng
kết hợp các lý thuyết, quan điểm nghiên cứu về văn hoá học, ngôn ngữ học lịch sử,
thi pháp học và các kiến thức liên ngành liên quan đến việc khảo chứng hệ thống
ngữ liệu văn hoá bác học, bình dân trong ngôn ngữ Truyện Kiều. Trong luận án này,
chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau: