Ngôn ngữ nghệ thuật truyện thơ Nôm bình dân trung đại Việt Nam - Pdf 28

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Văn học cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, luôn có quy luật
riêng của nó. Quy luật của văn học trung đại, theo chúng tôi, là sự “quay trở
lại” để thể hiện một cách sâu sắc nhất tinh thần của con người Việt Nam sau
những sự ảnh hưởng của văn học – văn hóa Trung Quốc. Sự nở rộ của trào lưu
văn học nhân đạo cuối thế kỷ XVIII, chính là biểu hiện của điều đó.
Truyện thơ Nôm là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam, là
bộ phận có đóng góp quan trọng nhất vào trào lưu nhân đạo nói trên. Tuy
không được giai cấp thống trị coi là bộ phận văn học chính thống, nhưng từ
khi xuất hiện tới đầu thế kỷ XIX, Truyện thơ Nôm vẫn phát triển mạnh mẽ và
đạt được những thành tựu đỉnh cao với các tác phẩm xuất sắc như Truyện
Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Hoa Tiên của
Nguyễn Huy Tự và hàng loạt các tác phẩm hữu danh, khuyết danh khác.
Do đặc thù của mình, cho đến nay, Truyện thơ Nôm bình dân vẫn còn
nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, vẫn đang đợi chờ những nghiên cứu,
phát hiện trước khi đi đến kết luận cuối cùng. Đó là công việc không chỉ của
các nhà khoa học mà là của tất cả những ai quan tâm tới bộ phận văn học này.
Xuất phát từ những nhận thức đó, thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng
đến những mục đích cụ thể sau đây:
- Góp ý kiến nhằm xác định tên gọi và bản chất thể loại của Truyện thơ
Nôm bình dân.
- Đi sâu khảo sát để chỉ ra giá trị thực sự của ngôn ngữ nghệ thuật trong
Truyện thơ Nôm bình dân
Cuối cùng, tác giả đề tài này mong muốn sản phẩm của mình sẽ là một
cầu nối để đến với các bạn sinh viên trong khoa trên đường tìm hiểu văn học
Nôm của dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
Do có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc
1
nên từ lâu Truyện thơ Nôm đã trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu của

“Nhân vật phụ nữ qua một số truyện Nôm” của Đặng Thanh Lê, Tạp
chí văn học số 2 + 3, năm 1969.
“Sự tiến triển của truyện thơ cổ điển Việt Nam và sự vay mượn cốt
truyện” của N.I. Niculin, Tạp chí văn học, số 3 – 1983.
Trong các bộ lịch sử văn học, những vấn đề chung của Truyện thơ Nôm
bình dân cũng được bàn luận khá sâu sắc.
Tác giả Lê Hoài Nam trong Lịch sử văn học Việt Nam tập III, sách
ĐHSP, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, năm 1965 (về sau, bài viết này được tập hợp
trong cuốn Phê bình, bình luận văn học, Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn, Nxb Văn
nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1999. Chúng tôi tham khảo bản này) đã phân
tích hầu hết các vấn đề quan trong của Truyện thơ Nôm, bao gồm: nguồn gốc,
tiến trình thể loại, nội dung và hình thức nghệ thuật.
2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về truyện thơ Nôm bình dân.
Trong nhóm này, trước tiên cần nhắc đến những bài giới thiệu, tiểu luận
trong các tuyển tập, tổng tập văn học và trong những cuốn truyện thơ Nôm
bình dân được hiệu đính, chú giải riêng lẻ. Bài Khải luận in ở đầu cuốn Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 14A của tác giả Lê Văn Quán đã giới thiệu khái
quát về cơ sở hình thành, giá trị nội dung, tư tưởng cũng như hình thức nghệ
thuật truyện thơ Nôm bình dân. Theo tác giả bài viết, Truyện thơ nôm bình
dân hình thành khi “xã hội nảy sinh những mâu thuẫn” [22 - 9]; nội dung tư
tưởng của nó là “bảo vệ những đạo lý tốt đẹp của dân tộc, chống lại tất cả
những gì trái với đạo đức làm người và lẽ sống của đời thường” [22 - 10], “ở
truyện Nôm về cơ bản vẫn giữ bố cục của truyện cổ tích” [22 - 13], “ngôn
ngữ đại chúng dễ hiểu, ít có điển cố” [22 - 23]. Hầu hết các truyện thơ Nôm
khuyết danh được hiệu đính, khảo dị, chú thích riêng lẻ như: Truyện Hoàng
Trừu. nhà xuất bản văn học Hà Nội, năm 1964 do Nguyễn Thạch Giang Hiệu
đính; Tống Trân, nhà xuất bản phổ thông, Hà Nội, 1957 do Nguyễn Việt Hoài
hiệu đính, chú thích; Tống Trân, Nhà xuất phổ thông, Hà Nội, 1960 do Hoa
Bằng hiệu đính; Nhị độ mai, Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1988, do Nguyễn Thạch Giang giới thiệu, khảo đính, chú giải,

truyện Nhị độ mai của Nguyễn Quảng Tuân, Tạp chí Hán nôm, số 2 (27) –
4
1996 cũng là một tài liệu bổ ích đóng góp vào quá trình khảo cứu văn bản
nhằm đưa đến bản Nhị độ mai chuẩn xác nhất.
Nhìn chung, hầu hết các công trình nêu trên đều đã chỉ ra được những
vấn đề lớn về nội dung và hình thức nghệ thuật của truyện thơ Nôm. Đa phần
các tác giả thống nhất với nhau ở điểm: Truyện thơ Nôm thể hiện tinh thần
bảo vệ đạo lý, đấu tranh chống cái ác, khát vọng hạnh phúc của người dân;
các Truyện thơ Nôm bình dân được xây dựng trên cốt truyện truyện cổ dân
gian. Nhiều công trình đã phân tích khá sâu sắc những biểu hiện nghệ thuật
trong Truyện thơ Nôm bình dân: nghệ thuật tả cảnh, nghệ thuật tổ chức các
tình tiết, xây dựng nhân vật, lời văn nghệ thuật,…tiêu biểu là các công trình
của Kiều Thu Hoạch, Trần Đình Sử, luận án tiến sĩ của Đinh Thị Khang,
Nguyễn Thị Nhàn. Đó là những đóng góp quan trọng làm nên bề dày của lịch
sử nghiên cứu Truyện thơ Nôm bình dân, tạo tiền đề cho những người nghiên
cứu đi sau.
Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy có công trình nào thực sự tập trung, đi
sâu khai thác giá trị phong cách học của các lớp ngôn ngữ trong Truyện thơ
Nôm bình dân. Trên tinh thần kế thừa có chọn lọc những thành tựu, đồng thời
khắc phục những hạn chế của các nhà nghiên cứu đi trước, công trình của
chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm một tiếng nói trong việc nghiên cứu truyện thơ
Nôm bình dân.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học trong Truyện thơ Nôm bình
dân
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay có khoảng hơn 100 Truyện thơ Nôm bình dân đã được phát
hiện, lưu giữ. Đây là con số quá lớn so với phạm vi một khóa luận và năng lực
của người viết. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn bốn truyện làm phạm vi nghiên cứu

- Khóa luận cũng đã chứng minh vai trò của các thao tác ngôn ngữ mà
tác giả lựa chọn sử dụng trên nền tảng hai nguồn ngôn liệu: bình dân, bác học,
đối với việc thể hiện các cấp độ ý nghĩa, hướng tới thể hiện nội dung – tư
tưởng của tác phẩm.
6
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN
1.1. Truyện thơ Nôm, vấn đề tên gọi - phân loại
1.1.1. Về tên gọi: Truyện Nôm, Truyện thơ Nôm
Trước khi đi vào vấn đề tên gọi Truyện thơ Nôm bình dân, cần phải làm
rõ hai khái niệm: Truyện Nôm, Truyện thơ Nôm.
Hai khái niệm trên được các nhà nghiên cứu sử dụng với cùng nội hàm
ý nghĩa, để chỉ một loại tự sự bằng thơ dài, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu
thế kỷ XIX được viết bằng chữ Nôm, như Truyện Phạm Tải – Ngọc Hoa,
truyện Tống Trân – Cúc Hoa, truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên, Trong thực
tế nghiên cứu Truyện thơ Nôm ở nước ta, hai khái niệm này được sử dụng
song song, có khi trong cùng một công trình, chúng có thể thay thế cho nhau
một cách hiển nhiên mà không gây bất cứ tranh cãi hay hiểu lầm nào. Chẳng
hạn, tác giả Kiều Thu Hoạch đặt tên cho cuốn chuyên luận của mình là
“Truyện Nôm, lịch sử phát triển và Thi pháp thể loại”, sau đó, cùng ở sách
này, trang 26 ông lại dùng khái niệm “Truyện thơ Nôm”: “Đối với Truyện
Nôm – với tư cách là một thể loại truyện thơ Nô, ”. Tác giả Trần Đình Sử,
trong cuốn “Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam”, bên cạnh việc dùng thuật
ngữ Truyện thơ Nôm (làm tiêu đề chương V), ông vẫn sử dụng thuật ngữ
truyện Nôm: “Xem truyện Nôm khác truyện dân gian là đúng” [28 - 333]
Nguyên nhân của tình trạng này nằm ở chính bản thân sự phát triển
không đồng đều giữa hai bộ phận: thơ Nôm và văn xuôi Nôm ở giai đoạn văn
học Trung đại Việt Nam. Trong khi thơ Nôm xuất hiện từ đầu đời Trần, đến
đầu đời Lê đã đạt được thành tựu lớn với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi thì

mặt đó” (tác giả, thời điểm ra đời – NVL), người ta gọi chung các tác phẩm
ấy là truyện Nôm khuyết danh” [25 - 38]. Tác giả Bùi Văn Nguyên, trên tập
san Nghiên cứu văn học số 7 – 1960, đã sử dụng thuật ngữ Truyện Nôm
khuyết danh ngay ở tiêu đề bài viết: “Truyện Nôm khuyết danh, một hiện
tượng đặc biệt của văn học Việt Nam”. Càng về sau, thuật ngữ “Truyện Nôm
bình dân” càng được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi.
8
Dương Quảng Hàm là người dùng thuật ngữ Truyện thơ Nôm bình dân
sớm nhất. Trong “Việt Nam văn học sử yếu” (xuất bản lần đầu năm 1941,
chúng tôi tham khảo bản tái bản lần thứ 10, năm 1968), ở chương V, mục II,
khi nói về biến thể lục bát, ông viết: “thể này thường dùng để viết các truyện
có tính cách bình dân như Quan Thế Âm, Phạm Công Cúc Hoa, ” [6 - 151].
Trong cuốn “Văn học Việt Nam, nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX”,
sau khi chỉ ra sự bất hợp lý trong cách phân loại Truyện Nôm thành Truyện
Nôm khuyết danh và Truyện Nôm hữu danh, Nguyễn Lộc đã khẳng định:
“Một loại là những truyện Nôm kiểu Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc
Hoa, Phương Hoa, Lý Công, Hoàng Trừu, ; một loại là những truyện Nôm
kiểu Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sơ Kính tân trang, Loại trên có thể gọi là
truyện Nôm bình dân, loại dưới có thể gọi là truyện Nôm bác học” [18 - 476].
Nhiều tác giả có cùng quan điểm như trên với Nguyễn Lộc và Dương Quảng
Hàm, tiêu biểu là: Đinh Gia Khánh (trong “Văn học dân gian Việt Nam”), Cao
Huy Đỉnh, (trong “Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam”) Vũ Tố
Hảo (trong “Mối quan hệ giữa truyện Nôm bình dân và văn học dân gian”,
Tạp chí văn học, số 4 - 1980), Kiều Thu Hoạch (trong “Truyện Nôm, lịch sử
phát triển và thi pháp thể loại”)
Như vậy, việc gọi tên các bộ phận ở truyện thơ Nôm gắn liền với cách
phân loại. Thuật ngữ “Truyện Nôm bình dân” (bên cạnh thuật ngữ Truyện
Nôm bác học) được đa phần giới nghiên cứu đồng ý sử dụng. Điều đó có phần
hợp lý, bởi lẽ, so với cách gọi “Truyện Nôm hữu danh”, “Truyện Nôm khuyết
danh”, thuật ngữ Truyện Nôm bình dân, Truyện Nôm bác học đã chỉ ra được

qua. Tài liệu truyện Nôm “Phạm Công- Cúc Hoa” thuộc sở hữu của linh mục
Joseph Nguyễn Hữu Triết đã khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Đây là bản tin
khắc gỗ được xem là bản cổ nhất với đầy đủ thông tin về tác giả, nhà xuất
bản và thời gian ra đời ghi ở dòng ngang nằm trên và dòng “lạc khoản” bên
phải bìa sách. Theo đó, “Phạm Công Cúc Hoa” do tác giả Dương Minh Đức
Thị biên soạn, Thiên bảo lâu Thư Cục xuất bản năm 1880, Minh Chương Thị
đính chính và hiệu sách Quảng Thạnh Nam, Chợ Lớn phát hành” – Theo Báo
10
điện tử của Đài tiếng nói Việt Nam VOVNEWS, ngày 03/12/2009). Do vậy,
cần xác định cơ sở phân loại nào là quan trọng nhất, cơ sở nào chỉ mang tính
thứ yếu để đi đến cách phân loại hợp lí nhất.
Theo chúng tôi, cơ sở quan trọng nhất để phận loại Truyện thơ Nôm
bình dân và Truyện thơ Nôm bác học là: các yếu tố nọi tại của tác phẩm, trong
đó hai yếu tố quan trọng hàng đầu là kết cấu và phong cách ngôn ngữ tác
phẩm. Qua đó, chúng ta thấy được chiều sâu tâm lí của người sáng tạo. Tâm lí
đó tiêu biểu cho tầng lớp quần chúng lao động hay cho tầng lớp trên của xã
hội. Một truyện thơ Nôm bình dân không nhất thiết là tác phẩm khuyết danh.
Nếu ai chứng minh được các thao tác ngôn ngữ mà tác giả Truyện thơ Nôm
nào đó sử dụng thể hiện rõ nét tâm lí của số đông quần chúng, thì đó là tác
phẩm Truyện thơ Nôm bình dân. Thao tác mà Nguyễn Du sử dụng trong
Truyện Kiều về cơ bản không đại diện cho cách sử lí ngôn ngữ của quần
chúng. Nó tiêu biểu cho tâm thức của một trí thức Nho học với lối “đúc chữ”
– dấu hiệu của một nền học vấn từ chương. Tâm lí của số đông quần chúng thì
trái lại. Tuy tác giả Nhị độ mai văn tài không phải hạng xoàng nhưng rất ít khi
tạo nên những cấu trúc đối liên tục như trong Truyện Kiều. Sự lựa chọn chữ
dùng của tác giả Truyện thơ Nôm bình dân không có cái vướng bận vì bị câu
thúc như trong Truyện thơ Nôm bác học, chẳng hạn: “Trở về tấp ta tểnh tấp”.
Đồng thời, việc tổ chức các yếu tố trong kết cấu tác phẩm cũng sẽ cho thấy đó
là sự mô phỏng truyện cổ dân gian hay là sáng tạo đích thực của cá nhân nghệ
sĩ (điều này, chúng tôi sẽ chỉ rõ ở mục 1.3).

Trong truyện thơ Nôm bình dân có những chuyện như: vợ thông gian với đình
trưởng để hắn thừa cơ cướp tiền giành giụm của chồng sau bao năm đi làm ăn
xa (Tống Trân – Cúc Hoa); một đại quan triều đình cũng đòi tiền lót tay khi có
cấp dưới tới nhậm chức (Nhị độ mai), chính là biểu hiện của sự suy thoái
đạo đức của một xã hội vì đồng tiền.
12
1.2.1.3. Truyện thơ Nôm bình dân ra đời là hệ quả
tất yếu của sự trưởng thành về ngôn ngữ dân tộc, thể loại
lục bát, cũng như ý thức về quyền sống của người bình
dân.
Đến thế kỷ XVI, XVII, cả chữ Nôm lẫn thơ lục bát đã có một quá trình
khá lâu dài rèn rũa, trưởng thành. Do vậy nó có đủ khả năng để chuyển tải các
vấn đề đời sống xã hội và đời sống tâm hồn con người
Khi trong cộng đồng có những mối rạn nứt, đời sống cá nhân không thể
không chịu ảnh hưởng. Trước đây, cơ sở cho sự tồn tại mỗi cá nhân là cộng
đồng, hẹp thì gia đình, rộng thì quốc gia. Khi những cơ sở đó đã bị lay
chuyển, các cá nhân bắt đầu ý thức sâu sắc về sự tồn tại của bản thân mình,
lên tiếng khẳng định và bảo vệ hạnh phúc cá nhân. Họ muốn kể về chuyện
mình với nỗi vất vả kiếm sống, nỗi buồn đau xa chồng, khát vọng ấm no, phú
quý. Sự “chật hẹp” của thơ Đường luật không thể chuyển tải được đầy đủ
những nhu cầu đó. Họ tìm đến, bắt gặp và thể hiện mình trong thơ lục bát.
1.2.2. Vài nét về nguồn gốc Truyện thơ Nôm bình
dân
Theo tác giả Lê Hoài Nam [25 - 12, 13], “những bài hát tự sự của
những nghệ nhân đi hát rong” và những diễn ca phật giáo trong các nhà chùa
là gốc rễ ban đầu của Truyện thơ Nôm bình dân.
Như đã nói, sự phát triển của kinh tế công – thương nghiệp dẫn đến sự
hình thành các đô thị, các trung tâm buôn bán tập trung đông người, giao
thương thuận lợi tạo điều kiện cho các nghệ nhân hát rong xuất hiện và ngày
càng đông đảo. Họ hát rong với mục đích kiếm sống, ban đầu là bằng những

trong dòng văn hóa dân gian. Và nói khác đi, thì Truyện Nôm bình dân cũng
có thể hiểu là sáng tác dân gian, là văn học dân gian” [10 - 312]. Để đi đến
kết luận trên, tác giả đã căn cứ vào: phương thức sáng tác, lưu truyền của
Truyện Nôm bình dân; ngôn ngữ kể chuyện với mục đích sáng tác để kể; cốt
truyện chủ yếu mượn từ truyện cổ tích và tuân theo quy tắc của truyện cổ tích.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Truyện thơ Nôm bình dân là văn học viết,
tiêu biểu cho ý kiến này có Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Nhàn. Trong giáo trình
14
Lí luận văn học, tập II, Tác phẩm và thể loại văn học, Trần Đình Sử viết: “Cả
hai loại trên (truyện thơ Nôm bác học và truyện thơ Nôm bình dân – NVL),
đều thuộc dòng văn học viết” [29 – 283]. Trong chuyên luận “Thi pháp văn
học trung đại Việt Nam”, mục II.1, chương V, tác giả đã khẳng định ngay từ
tiêu đề: “Truyện thơ Nôm là một thể loại văn học viết”. Để chứng minh cho
quan điểm đó, tác giả cuốn sách đã trực tiếp đi vào các vấn đề nội tại của văn
bản Truyện thơ Nôm và chỉ ra 4 lí do căn bản sau:
- Truyện thơ Nôm bình dân đã thể hiện “ý thức sáng tác bằng văn tự,
cho nên không thể nói giản đơn là sáng tác cốt để kể” [28 - 337]
- Mặt khác, lời văn trong Truyện thơ Nôm bình dân thể hiện rõ “chất
tiểu thuyết hóa” với “lời trực tiếp của tác giả, lời nửa trực tiếp của người kể
chuyện giả và nhân vật”.
- Trong truyện thơ Nôm bình dân đã xuất hiện cốt truyện đa tuyến.
- Bao quát hơn cả là sự xuất hiện của “một ý thức mới trong lĩnh vực tự
sự”, đó là sự quan tâm tới số phận cá nhân – điều mà trước đó chưa có, hoặc
nếu có cũng chưa thành hệ thống.
Quan điểm trên của Trần Đình Sử được Nguyễn Thị Nhàn tiếp nối
khẳng định trong luận án tiến sĩ của mình với đề tài “Nghiên cứu mô hình kết
cấu cốt truyện Truyện thơ Nôm” (Bảo vệ tại Trường ĐHSP Hà Nội, tháng 12
– 2006, xem tài liệu tham khảo thứ 43). Sau khi đi sâu nghiên cứu các mô
hình kết cấu Truyện thơ Nôm, tác giả luận án kết luận: “kết cấu cốt truyện
góp phần khẳng định bản chất thể loại: truyện thơ Nôm mang dấu ấn tiểu

lãng xã, việc gặp gỡ, giao lưu thường xuyên giữa các cá nhân thuộc một làng,
một tổng là điều hiển nhiên. Vì thế, lần đầu, người ta có thể truyền nhau một
tác phẩm hay do một trí thức Nho học trong làng viết ra để cùng học, cùng
đọc thuộc. Nhưng điều kiện gặp gỡ, sinh hoạt cùng nhau quá thường xuyên đã
giúp họ không cần tới việc “học” trên giấy mà vẫn có thể thuộc một cách tự
nhiên. Mặt khác, chữ Nôm thời phong kiến chưa bao giờ được định chế hóa,
và văn học Nôm vẫn được coi là bộ phận văn học phi chính thống “Nôm na là
cha mách qué”, đến nỗi chúa Trịnh đã từng ra một đạo luật cấm lưu truyền
truyện thơ Nôm, những lí do đó khiến từ một văn bản truyên thơ Nôm xác
16
định trở thành những dị bản, đồng thời, trong các tác phẩm đó không đề tên
tác giả.
Thứ hai, tuy Truyện thơ Nôm bình dân mượn cốt truyện truyện cổ tích,
nhưng không hoàn toàn tuân theo qui tắc của nó. Kết quả nghiên cứu của Tiến
sĩ Nguyễn Thị Nhàn đã chỉ rõ: Truyện thơ Nôm bình dân được tổ chức theo
“5 kiểu cấu trúc: kết cấu theo trình tự thời gian không kết thúc có hậu, đảo
trật tự thời gian, trùng điệp – lồng ghép, xâu chuỗi lắp ghép, đối đáp và tập
hợp. Những dạng thức đó chứng tỏ sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ”.
Chúng tôi cho, đây mới là điều then chốt về mặt kết cấu của Truyện thơ Nôm
bình dân. Lại nữa, nhìn bề mặt, chúng ta thấy đa số quá trình cuộc đời của các
nhân vật trong Truyện thơ Nôm bình dân đều theo hướng: khởi đầu bình yên,
sau đó gặp biến cố, kết thúc là hóa giải biến cố, nhưng đây hoàn toàn không
phải là đặc điểm riêng, càng không phải đặc trưng của truyện thơ Nôm bình
dân. Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu,
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, thậm chí các tiểu thuyết tâm lí hiện đại
sau này như Thầy Lazaso Phiền của Nguyễn Trọng Quản,… cũng đều như
vậy, (xin xem thêm: “Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những
sáng tạo trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ”, của Nguyễn Hữu Sơn trên
trang www.vanhocvangonngu).
Mặt khác, trong Truyện thơ Nôm bình dân, đa phần các nhân vật đều có

bản của nguyên lí Phật giáo, khái quát chủ đề chính của tác phẩm cũng như cơ
sở xây dựng cốt truyện và hình tượng nhân vật. 8 câu mở đầu Truyện Kiều
của Nguyễn Du, 10 câu mở đầu Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, cũng
đóng vai trò tương tự.
Từ những lí do trên, chúng tôi cho rằng: Truyện thơ Nôm bình dân là
một thể loại thuộc dòng văn học viết thời trung đại.
18
CHƯƠNG 2
NGÔN NGỮ BÌNH DÂN TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN
2.1. Quan niệm về ngôn ngữ bình dân
Muốn hiểu thế nào là ngôn ngữ bình dân, trước tiên cần phải hiểu bình
dân là gì?
Theo Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên):
“Bình dân Id. 1. Người dân thường (nói khái quát, thường là trong xã hội cũ).
Sự đối lập giữa quý tộc và bình dân. 2. (kng, dùng phụ sau d). Bình dân học
vụ (nói tắt), giáo viên bình dân, lớp bình dân. It.1. Của tầng lớp bình dân,
dành riêng cho tầng lớp bình dân. Văn học bình dân. Quán cơm bình dân. 2.
Bình thường, giản dị, gần gũi với quần chúng: tác phong bình dân, cách nói
năng rất bình dân” [23 - 68]
Từ bình dân được sử dụng rất phổ biến không chỉ trong đời sống mà
trong cả văn chương, nghệ thuật (ví dụ như: văn học bình dân, văn nghệ bình
dân ), trở thành một khái niệm học thuật với hàm nghĩa không còn bó hẹp
trong việc chỉ đẳng cấp và tính chất của đối tượng.
Khái niệm bình dân bao hàm trong nó nội dung xã hội học – văn hóa.
Theo cách hiểu này, “bình dân” gần nghĩa với khái niệm “dân chúng” với tư
cách là một thuật ngữ folklore: “dân chúng (the folk) thường sử dụng trong
các tài liệu học thuật chỉ nhóm người có chung văn hóa truyền thống và được
hiểu nôm na là những người bình dân” [40 - 91].
Nhóm người được gọi là bình dân và sản phẩm sáng tạo tinh thần của
họ - văn học bình dân (văn học dân gian, folklore) được xác định để phân biệt

thuyền, vườn cà chính là những hình ảnh mang tính chất bình dân, bởi nó đã
tái hiện được đặc trưng không gian sinh hoạt và lao động của người bình dân,
trong khi các thành ngữ gốc Hán như: “tạc tỉnh canh điền”, “bình địa ba đào”,
“tiêu trưởng doanh hư”, hay các điển tích: Chiêu Quân cống Hồ, liễu Chương
đài, Y Doãn, giấc Nam Kha, lại không có được khả năng đó, vì thế, nó không
20
phải là ngôn ngữ bình dân.
Tiêu chí thứ hai để xác định tính chất bình dân chính là ngữ cảnh (hiểu
theo nghĩa rộng), bao gồm: ngữ cảnh văn hóa, lịch sử trong đó tác phẩm tồn
tại. Cũng một hình ảnh hoa sen, nhưng trong ca dao là biểu hiện của người
bình dân, còn trong Tây Du Ký lại có tính chất bác học, trong ca dao, hoa lau
là biểu hiện của cuộc sống đời thường, nhưng “bè lau” trong Truyện Kiều
(“Tiền Đường thả một bè lau rước người” - câu 2692) lại mang hàm ý sâu xa,
chứa đựng triết lý nhà Phật, nó là ngôn ngữ bác học.
Ngôn ngữ bình dân là lớp ngôn ngữ có khả năng tái hiện đời sống một
cách trực tiếp nhất (so với ngôn ngữ bác học), nó gần gũi với lời ăn tiếng nói
của người dân thường, nó sinh động, phong phú và quan trọng nhất là luôn
hướng về phản ánh không gian sống đặc trưng của người lao động của người
bình dân Việt Nam ở góc độ từ hay lớn hơn từ: đó là cuộc sống sinh hoạt, lao
động với không gian đặc trưng. Chẳng hạn: sống bằng nghề nông, từ đó đã
sản sinh ra một hệ thống từ vựng chỉ cuộc sống lao động đồng áng: củ, rễ, lúa,
khoai, ngô, cày, bừa, con trâu, bụi, cụm, vụ chiêm Những thành ngữ, tục
ngữ, ca dao ngoài việc thể hiện được cuộc sống còn cho thấy được một cách
đầy đủ thế giới tâm hồn của người bình dân Việt Nam, trong đó, nổi trội lên là
ba yếu tố: triết lý sống “ở hiền gặp lành”, khát vọng hòa hợp với tự nhiên và
xã hội. Về mặt cấu trúc, nó luôn có xu hướng giản lược hóa đến mức tối đa.
Ngôn ngữ bình dân không phải là độc quyền của những sáng tác dân
gian (Folklore). Ở những tác phẩm bác học, tính chất bình dân trong ngôn ngữ
được sử dụng với mục đích nghệ thuật rất rõ ràng. Nó phù hợp hài hòa với
ngôn ngữ bác học để tạo nên một thế giới nghệ thuật với những hình tượng

của ngôn ngữ tiếng Việt. Nó có khả năng biểu hiện chính xác từng gam màu
trong thế giới tự nhiên cũng như từng sắc thái tinh vi của cảm xúc con người:
“Dưới cầu nước chảy trong veo
Trên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”
“Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Từ láy góp phần quan trọng trong việc tạo nhịp điệu, âm thanh hay khái
quát hơn là tạo chất thơ cho câu thơ:
“Chị ấy năm nay còn gánh thóc
23
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
(Mùa xuân chín – Hàn Mạc Tử)
“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều”
(Thơ duyên – Xuân Diệu)
Vì vậy, trong thơ tiếng Việt, từ lấy rất được chú ý sử dụng và mang lại
giá trị biểu cảm cao. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã có tới 507 lần sử dụng
từ láy ở các vị trí khác nhau trong câu thơ (theo thống kê của Phan Ngọc, sđd)
và không ít lần, nhờ đó, người Việt có những câu thơ kiệt tác.
Viết bằng ngôn ngữ dân tộc, truyện thơ Nôm bình dân có điều kiện khai
thác một cách tối đa giá trị tạo hình, biểu nghĩa của tiếng Việt, trong đó có
việc sử dụng với mật độ khá dày hệ thống từ láy ở những vị trí khác nhau của
câu thơ.
Từ láy được chú ý sử dụng ngay từ những truyện thơ Nôm xuất hiện
đầu tiên vào thế kỷ XIV - XV (như Truyện Vương Tường, Thơ Nghĩa sĩ,
Truyện Trê Cóc,…). Nếu tạm thời chúng ta chấp nhận thời điểm ra đời của
Lâm tuyền kì ngộ sớm nhất và Nhị độ mai muộn nhất trong bốn truyện được
khảo sát thì sẽ thấy rằng, càng về sau, mật độ sử dụng từ láy càng tăng. Đồng
thời, trình độ vận dụng ngày càng điêu luyện hơn. Dưới đây là kết quả thống
kê mật dộ sử dụng từ láy của chúng tôi trong bốn tập truyện thơ Nôm:

bát đã ngầm phân định chức năng thông báo của mỗi dòng thơ, theo đó câu
lục thường gợi dẫn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của nội dung thông tin ở câu
bát. Điều này được thống nhất từ ca dao cho tới Truyện Kiều:
“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng được chưa?
Đan sàng thiếp cũng xin thưa
Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng”.
(Ca dao)
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trãi qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
(Truyện Kiều)
Mục đích giao tiếp của chàng trai và cô gái trong bài ca dao là một bên
25

Trích đoạn Điển tích, điển cố với việc tạo tính ước lệ cho hình ảnh thơ Thành ngữ gốc Hán với việc tạo vần, nhịp và xây dựng cấu trúc câu thơ Hai cấp độ nghĩa từ nghệ thuật dụng điển trong truyện thơ Nôm bình dân Thành ngữ gốc Hán với việc thể hiện nội dung ngợi ca, khẳng định Hệ thống từ ngữ biểu đạt các khái niệm tư tưởng, tôn giáo, quan phương với chức năng thể hiện nội dung đạo đức, khát vọng ấm no,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status