ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
VÕ THỊ PHƢƠNG THẢO
THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC Y TẾ
CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
VÕ THỊ PHƢƠNG THẢO
THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC Y TẾ
CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM HÙNG TIẾN
Hà Nội - 2015
3.2. Tình hình thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam .....................................36
3.2.1. Chính sách, biện pháp nhằm thu hút FDI vào ngành y tế........................36
3.2.2. Số lượng, quy mô, tốc độ tăng của FDI vào ngành y tế ...........................42
3.2.3. Xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực y tế ..............................................................52
3.3. Đánh giá hoạt động thu hút và tình hình thực hiện các dự án FDI trong ngành
y tế của Việt Nam. .................................................................................................54
3.3.1. Những ưu điểm .........................................................................................54
3.3.2. Những tồn tại, hạn chế .............................................................................59
3.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế .................................................63
CHƢƠNG 4. ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THU HÚT
FDI VÀO NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM .....................................................................66
4.1. Cơ hội và thách thức đối với việc thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam .....66
4.1.1. Cơ hội .......................................................................................................66
i
4.1.2. Một số thách thức đặt ra đối với việc thu hút FDI vào ngành y tế của Việt
Nam.....................................................................................................................67
4.2. Triển vọng thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam ..........................................68
4.2.1. Dự báo tình hình FDI tại Việt Nam ..........................................................68
4.2.2. Triển vọng thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam 2015 -2020 .................69
4.3. Quan điểm và định hƣớng cho hoạt động thu hút FDI vào phát triển ngành y
tế trong những năm tới. ..........................................................................................69
4.3.1. Quan điểm thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam .............................69
4.3.2. Định hướng hoạt động thu hút FDI vào ngành y tế .................................72
4.4. Một số giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI vào ngành y tế. ...............................73
4.4.1. Thống nhất nhận thức và quan điểm thu hút FDI vào phát triển ngành y
tế. ........................................................................................................................74
4.4.2. Nhóm giải pháp về luật pháp chính sách .................................................74
4
ASEAN
5
BOT
TIẾNG ANH
The Asian Development
Bank
Asian Free Trade Area
TIẾNG VIỆT
Ngân hàng Phát triển châu Á
Khu vực mậu dịch tự do Asean
Tai nạn, chấn thƣơng và ngộ
độc
Assosiasion of South East
Hiệp hội các quốc gia Đông
Asean Nations
Nam Á
Built-Operation-Transfer
CPC
10
CT scanner
11
DFI
12
ĐHQGHN
Hợp đồng xây dựng - chuyển
giao - kinh doanh
Hợp đồng xây dựng - chuyển
giao
Central Product
Hệ thống phân loại sản phẩm
Classification
trung tâm của Liên Hợp Quốc
Computed Tomography
15
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
16
GDP
Gross Domestic Product
17
GLP
Good Laboratory Practice
18
GMP
19
GPP
20
28
PTS KHKT
29
R&D
Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
30
TNCs
Transnational Corporations
Các tập đoàn đa quốc gia
31
TP.HCM
thành phố Hồ Chí Minh
32
TS
Bệnh không truyền nhiễm
Office Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
Palisades Emergency
Tổ chức tƣ vấn rủi ro kinh tế
Residence Corporation
và chính trị
Phó tiến sĩ Khoa học kỹ thuật
ii
Hội nghị Liên hợp quốc về
33
UNCTAD
United Nations Conference
thƣơng mại và phát triển/ Diễn
on Trade and Development, đàn Thƣơng mại và Phát triển
Liên Hiệp quốc
Tổ chức thƣơng mại thế giới
DANH SÁCH BẢNG
TT
Bảng
Trang
1
Bảng 3.1 Số cơ sở hoạt động y tế giai đoạn 2008 – 2013
28
2
Bảng 3.2 Số cơ sở hoạt động y tế chia theo loại hình tổ chức
29
3
Bảng 3.3 Cán bộ ngành y bình quân một vạn dân
31
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ
TT
Sơ đồ
Nội dung
Trang
1
Sơ đồ 1.1
Cây vấn đề của ngành y tế
16
2
Sơ đồ 2.1
Khung lô-gic nghiên cứu
22
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TT
hỏi ở các quốc gia không chỉ có các lợi thế cạnh tranh so sánh mà còn là đòi hỏi ở
đó chất lƣợng nguồn nhân lực chất lƣợng cao, các chủ trƣơng - chính sách của nhà
nƣớc phù hợp và đặc biệt là nguồn vốn dồi dào. Trƣớc nhu cầu về nguồn vốn cho sự
hội nhập này, các quốc gia ngoài việc sử dụng nguồn vốn trong nƣớc mà còn kêu
gọi sự các nhà đầu tƣ ngoại quốc, các tổ chức bên ngoài lãnh thổ…
Thu hút FDI trở thành một nhu cầu tất yếu của các quốc gia. Đứng trƣớc nhiều
môi trƣờng đầu tƣ khác nhau ở khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ kêu gọi đầu tƣ,
các nhà đầu tƣ quốc tế luôn phải cân nhắc rất nhiều yếu tố để đƣa ra quyết định sẽ
đầu tƣ vào đâu. Do đó, quốc gia nào có môi trƣờng chính trị ổn định, chính sách thu
hút đầu tƣ hợp lý, môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi - thông thoáng, có khả năng thu hồi
vốn và sinh lợi nhuận cao… sẽ có cơ hội lớn trong việc thu hút vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài.
Sau khi Việt Nam bắt đầu gia nhập các tổ chức kinh tế, tài chính trên thế giới
và khu vực, đặc biệt là từ khi gia nhập WTO càng tạo nhiều cơ hội và điều kiện
thuận lợi để thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó có đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
trong lĩnh vực y tế. Với đặc thù tại Việt Nam, có quan điểm vẫn cho rằng y tế là một
lĩnh vực thuộc về phúc lợi xã hội, mọi hoạt động thuộc về y tế sẽ do Nhà nƣớc đầu
tƣ. Tuy nhiên, chúng ta cần phải thay đổi nhìn nhận trên, y tế đặc biệt là hoạt động
chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh là một ngành dịch vụ. Vì vậy, nếu chỉ trông
chờ vào sự đầu tƣ của Nhà nƣớc vào lĩnh vực y tế là chƣa đủ, cần phải huy động
những nguồn lực khác trong đó có nguồn vốn FDI.
1
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau nhƣ cơ chế, chính sách liên quan đến đầu
tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, việc xúc tiến thƣơng mại – đầu tƣ… mà việc thu hút FDI
trong các ngành dịch vụ và công nghệ cao nhƣ y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học
công nghệ, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm với tỷ trọng chỉ dƣới 1%(1) …, đặc biệt
là FDI trong lĩnh vực y tế còn khá khiêm tốn và chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của
Nam.
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định đƣợc kết quả đạt đƣợc của việc thu hút FDI vào lĩnh vực y tế của
Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.
Tìm ra đƣợc những tồn tại trong hoạt động thu hút FDI vào lĩnh vực y tế của
Việt Nam.
Định hƣớng đƣợc giải pháp cho hoạt động thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn FDI trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành mục đích của đề tài đã đặt ra nhƣ trên, nhiệm vụ của đề tài cần
tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI, tầm quan trọng
của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với sự phát triển của một quốc gia nói chung và lĩnh vực
y tế nói riêng.
Phân tích thực trạng cũng nhƣ các nhân tố giai đoạn 2000 – tháng 3/2014 (hết
Quý I năm 2014) ảnh hƣởng đến việc thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI vào
Việt Nam. Phân tích số liệu thống kê kết quả đầu tƣ vốn, lĩnh vực đầu tƣ của FDI
vào Việt Nam... Từ đó rút ra nhận xét về những kết quả đã đạt đƣợc, những tồn tại
cần khắc phục trong đầu tƣ trực triếp nƣớc ngoài vào lĩnh vực y tế Việt Nam.
Nêu ra quan điểm và định hƣớng thu hút đầu tƣ FDI vào Việt Nam của nhà
nƣớc và dự đoán của các chuyên gia kinh tế, đồng thời đề xuất những giải pháp và
kiến nghị nhằm thúc đẩy việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI vào
lĩnh vực y tế tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI trong
lĩnh vực y tế.
Phạm vi nghiên cứu gồm: không gian là ngành y tế của Việt Nam và thời gian
từ năm 2000 đến hết Quý I/2014.
3
về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI dƣới nhiều góc độ khác nhau và đã đƣợc
công bố trên các chuyên đề, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các bài viết trên các
báo chuyên khảo, tạp chí nghiên cứu khoa học… Dƣới đây là một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài:
1.1.1. Những nghiên cứu về thu hút FDI nói chung
Đánh giá tình hình thu hút FDI vào Việt Nam, tác giả Nguyễn Đăng Bình
(2011) trong bài viết “Một số giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước
ngoài đến năm 2020”, đã nhận định dòng vốn FDI đã có những đóng góp nhất định
vào tăng trƣởng và phát triển kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, ĐTNN cũng có những
mặt hạn chế nhƣ vốn ĐTNN tăng thấp trong thời gian gần đây và phục hồi chậm
sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới; đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
vào vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đầu tƣ vào nông nghiệp và
nông thôn, điện, nƣớc, tài chính, tín dụng, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, hoạt
động phục vụ cá nhân và cộng đồng,... chiếm tỷ lệ còn thấp và chậm đƣợc cải thiện
[4, tr.93].
Tác giả Phùng Xuân Nhạ (2013) với sách chuyên khảo “Đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam: Lý luận và Thực tiễn” đã tiếp tục bổ sung, phát triển các kết
quả nghiên cứu đã có, phân tích một cách có hệ thống, cập nhật các vấn đề lý luận
và thực tiễn của FDI ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; tập trung
phân tích các luận cứ khoa học và làm rõ thực trạng các chính sách cũng nhƣ kết
quả hoạt động FDI ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua, từ đó đƣa ra một số gợi ý
điều chỉnh chính sách, biện pháp điều tiết các hoạt động thu hút và sử dụng nguồn
vốn FDI ở Việt Nam [21, tr.95].
5
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấ n (2005) “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài với phát triể n kinh tế ở Việt Nam” đã phân tích thực trạng thu hút FDI
và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam. Đề tài cũng đã đƣa ra các
ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa” của Nguyễn Tăng Huy (2011), đề tài “Thu hút FDI
cho phát triển bền vững các ngành dịch vụ Việt Nam” của Phạm Thanh Tuyền
(2012),...
Về phía các đề tài nghiên cứu nước ngoài vào lĩnh vực y tế: trong nghiên cứu
về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại dịch vụ y tế”, tác giả Richard D
Smith, Khoa Kinh tế Y tế - Luật và Đạo đức, Đại học East Anglia, Anh đã cho rằng:
toàn cầu hóa là một thách thức phải đối mặt với sức khoẻ ngƣời làm chính sách.
Một khía cạnh quan trọng của việc này là việc cải tiến công nghệ sẽ tạo cơ hội cho
việc tăng “đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) trong chăm sóc sức khỏe”. Tuy nhiên,
dƣờng nhƣ có ba vấn đề mà nổi lên nhƣ là quan trọng nhất: (i) dù là nguồn đầu tƣ
nƣớc ngoài hoặc trong nƣớc thì đều ảnh hƣởng đến hệ thống y tế quốc gia; (ii) môi
trƣờng pháp lý quốc gia và “sức mạnh” của nó sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc
các nhà FDI quyết định đầu tƣ vào ngành y tế [2, tr.96].
Tóm lại, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có rất nhiều công trình,
tạp chí, sách, báo, luận án tiến sĩ, thạc sĩ… trong và ngoài nƣớc đã nghiên cứu và
xuất bản. Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu là trình bày về cơ sở lý luận của
FDI, các chính sách và biện pháp thu hút FDI; phân tích, đánh giá thực trạng thu hút
FDI của Việt Nam và một số địa phƣơng trong cả nƣớc; thực tiễn về tác động của
FDI đối với quá trình đổi mới kinh tế, làm rõ tính hai mặt của dòng vốn FDI, đề
xuất các chính sách, giải pháp cốt lõi của nhà nƣớc đối với việc thu hút đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài vào nƣớc ta; Tuy nhiên, với bối cảnh mới chƣa có công trình trong
nƣớc và ngoài nƣớc nào nghiên cứu tình hình thu hút nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài FDI vào lĩnh vực y tế của Việt Nam. Vì vậy, đề tài nghiên cứu này
không trùng lặp với các đề tài đã đƣợc công bố trƣớc đây.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thu hút FDI vào ngành y tế
1.2.1. Khái niệm và hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hội nghị Liên hợp quốc về thƣơng mại và phát triển UNCTAD đƣa ra khái
niệm FDI trong Báo cáo đầu tƣ thế giới năm 1996: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
kinh doanh tại Việt Nam. Điều này đƣợc hiểu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài hay
FDI là việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà
8
đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh
nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại; trong
đó nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập
theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”.
Xét trên góc độ của các bộ luật trên về cách hiểu cụm từ „„FDI” gắn với nội
dung của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài và sau này là Luật Đầu tƣ năm 2005 có thể rút ra
những điểm đáng chú ý sau:
Chưa minh định được khái niệm FDI. Hiện nay, giới học thuật Việt Nam cũng
đã đƣa ra rất nhiều quan điểm về FDI. Theo Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thƣờng Lạng
(2008): “FDI là hình thức trong đó người chủ đầu tư có quyền kiểm soát đối với
hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như lợi ích của mình ở một hãng nước ngoài.
FDI do vậy bao gồm cả quyền sở hữu và quyền kiểm soát kinh doanh ở nước
ngoài”. Khái niệm này đã nêu đƣợc bản chất của FDI và cũng nhấn mạnh đến
“quyền kiểm soát” và “quyền sở hữu” của đồng vốn, mà nhà đầu tƣ bỏ ra nhằm mục
tiêu thu lợi ích từ các khoản đầu tƣ.
Còn theo tác giả Nguyễn Thị Hƣờng và cộng sự đƣa ra trong Giáo trình quản
trị doanh nghiệp FDI (2011), “FDI là một trong 2 loại đầu tư quốc tế cơ bản… có
quan hệ và chuyển hóa lẫn nhau. FDI (Gọi là dự án FDI) là việc nhà đầu tư nước
này đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào sang các nước khác để tiến hành các
hoạt động đầu tư và nắm quyền sở hữu cơ sở kinh doanh đó”.
Trong khi đó, cách giải thích thuật ngữ “FDI” của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài
năm 1996 và 2000, cũng nhƣ Luật Đầu tƣ năm 2005 chƣa cho thấy bản chất của
dòng vốn, với sự vận động vào - ra, cũng nhƣ nhấn mạnh “quyền kiểm soát” và
“quyền sở hữu” của nhà đầu tƣ. Bởi, việc đƣa vốn và tài sản vào Việt Nam, về thực
đặc điểm của từng quốc gia. Các phƣơng pháp và hình thức đó chung quy lại cũng
là quá trình xây dựng môi trƣờng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhằm tạo điều kiện
không những cho vốn đầu tƣ nƣớc ngoài mà cả vốn đầu tƣ trong nƣớc (phần vốn
góp của nƣớc sở tại trong liên doanh) cũng đƣợc thực hiện một cách thuận lợi và
hiệu quả. Về bản chất, thu hút FDI chính là hình thức nhập khẩu vốn (đối với nƣớc
(2)
Trong: Các đặc trƣng chủ yếu của hình thức FDI. Phùng Xuân Nhạ, 2001. Đầu tư quốc tế,
Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Trang 41.
10
tiếp nhận đầu tƣ) và xuất khẩu vốn (đối với nƣớc đầu tƣ ra nƣớc ngoài), một hình
thức cao hơn xuất nhập khẩu hàng hoá.
Thu hút vốn đầu tƣ là những hoạt động, những chính sách của chính quyền,
cộng đồng doanh nghiệp và dân cƣ để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến
khích các nhà đầu tƣ bỏ vốn thực hiện mục đích đầu tƣ phát triển.
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng: Là hình thức đầu tƣ mà các bên
tham gia hợp đồng ký kết thỏa thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản
xuất kinh doanh ở nƣớc nhận đầu tƣ trên cơ sở quy định rõ đối tƣợng, nội dung kinh
doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia các kết quả kinh doanh cho các bên tham
gia. Đặc trƣng của hình thức này là: Cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân chia
quyền lợi và nghĩa vụ; Không thành lập pháp nhân mới.
Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp đƣợc thành lập tại nƣớc chủ nhà
giữa các bên nƣớc ngoài và nƣớc chủa nhà trong đó các bên cùng đóng góp vốn,
cùng kinh doanh và cùng hƣởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỉ lệ góp vốn. Đặc trƣng
của hình thức này là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn; Có tƣ cách pháp nhân theo
luật nƣớc chủ nhà;Mỗi bên thƣờng chịu trách nhiệm với bên kia hoặc với liên doanh
và tài chính ở các nƣớc phát triển, các nƣớc NICs và rất phổ biến trong những năm
gần đây.
Đầu tư mới: là việc các chủ đầu tƣ thực hiện đầu tƣ ở nƣớc ngoài thông qua
việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tƣ truyền thống của FDI và
cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tƣ của các nƣớc phát triển đầu tƣ vào các nƣớc
đang phát triển.
1.2.2. Thu hút đầu tư vào ngành y tế Việt Nam
1.2.2.1. Nhu cầu vốn đầu tư FDI cho phát triển ngành y tế của Việt Nam
Việt Nam là một nƣớc đang phát triển đông dân, nhu cầu khám chữa bệnh là
hết sức lớn. Tuy nhiên, trên thực tế ngành y tế của Việt Nam vẫn chƣa đáp ứng
đƣợc nhu cầu của ngƣời dân, chƣa đảm bảo đƣợc mọi ngƣời dân đều có thể tiếp cận
đƣợc tới các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, ngay cả dịch vụ khám chữa, phòng chống
các loại bệnh chứ chƣa nói đến các dịch vụ nâng cao sức khoẻ. Một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến vấn đề này là do thiếu vốn, công nghệ hiện
đại và đội ngũ y bác sĩ giỏi, giàu kinh nghiệm. Rõ ràng là một khi có đủ vốn thì ta
12
có thể giải quyết đƣợc cả vấn đề thiếu công nghệ và đào tạo y bác sĩ lành nghề. Do
đó, nhu cầu vốn cho phát triển ngành y tế Việt Nam là rất lớn. Một mặt, nƣớc ta
đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên ngành y tế cũng sẽ có nhiều
cơ hội để đƣợc phát triển theo hƣớng tiên tiến, hiện đại. Mặt khác, quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá khiến một bộ phận ngƣời dân nghèo không thể tiếp cận
đƣợc với các dịch vụ y tế do chi phí khám chữa bệnh tăng; bên cạnh đó, nguồn vốn
quốc gia cho phát triển y tế bị chia sẻ cho nhiều công trình, lĩnh vực kinh tế khác
dẫn đến tính xã hội hoá của ngành y tế Việt Nam bị cản trở. Chính vì vậy, một
nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là phải tăng cƣờng huy động tối đa mọi nguồn lực cho
phát triển ngành y tế nƣớc nhà.
Nhu cầu đầu tƣ vốn cho y tế là rất lớn, nhƣng thực trạng phƣơng pháp, công
cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của con ngƣời. Bên cạnh các đặc điểm chung của
ngành dịch vụ nói chung, ngành y tế còn mang tính xã hội hoá rất cao. Tính xã hội
trong lĩnh vực y tế bao gồm có tính công bằng xã hội về việc tiếp nhận lợi ích từ
dịch vụ y tế của mọi ngƣời dân và việc huy động nguồn lực của toàn xã hội cho phát
triển ngành y tế nƣớc nhà. Trong thực tiễn phát triển kinh tế đất nƣớc ta hiện nay,
đòi hỏi ta phải có sự kết hợp giữa tăng trƣởng kinh tế với công bằng xã hội. Y tế
không những đòi hỏi phải tạo ra đƣợc hiệu quả kinh tế cao mà còn phải đảm bảo
công bằng xã hội. Đây là một đòi hỏi rất khó bởi lẽ y tế là một ngành đặc biệt, nó
không chỉ đơn thuần là một ngành kinh tế hay tƣơng tự những ngành nghề dịch vụ
khác. Công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế đƣợc hiểu dƣới hai khía cạnh: một là tạo
môi trƣờng xã hội công bằng cho các đối tƣợng tham gia vào lĩnh vực kinh tế y tế,
đảm bảo ai cũng đƣợc tham gia nhƣ nhau, không có bất cứ sự phân biệt hay trói
buộc nào; hai là đảm bảo cho mọi ngƣời dân đều có quyền đƣợc hƣởng các dịch vụ
y tế tốt nhất.
Bên cạnh đó, để có một nền y tế phát triển thật bền vững, điều kiện đầu tiên đó
là y tế phải thuộc về xã hội. Vấn đề đƣợc đặt ra là làm thế nào để huy động đƣợc tối
đa mọi nguồn lực trong xã hội cùng tham gia vào lĩnh vực y tế, tạo môi trƣờng cạnh
tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế công lập và tƣ nhân, trong nƣớc và nƣớc ngoài,
khuyến khích và tạo cơ hội, thậm chí đầu tƣ cho các cơ sở y tế có tiềm năng để có
những bƣớc phát triển vƣợt trội, hỗ trợ các cơ sở y tế chƣa có tiềm năng không bị
thua thiệt và có cơ hội phát triển, tránh sự phân hóa về trình độ chuyên môn và chất
14
lƣợng khám chữa bệnh, đảm bảo mọi ngƣời dân đều có cơ hội đƣợc hƣởng các dịch
vụ chăm sóc y tế với chất lƣợng cao.
Thực tiễn cho thấy, nếu không có sự quản lý đúng đắn, những chính sách điều
chỉnh của nhà nƣớc, dƣới sự tác động của cơ chế thị trƣờng, ngành y tế sẽ nảy sinh
rất nhiều hạn chế và tiêu cực, thậm chí sẽ gây ra những khủng hoảng sâu sắc, để lại
có đủ sức khoẻ và thể chất để làm đƣợc những việc đó một cách hiệu quả nhất. Nền
y học phát triển sẽ là yếu tố hàng đầu để xây dựng một thế hệ tƣơng lai tiên tiến
hơn.
Sơ đồ 1.1 Cây vấn đề của ngành y tế
16
Theo mô hình Cây vấn đề của ngành y tế tại sơ đồ 1.1, những yếu tố nhƣ: đầu
tƣ công và tƣ còn chƣa đủ để đáp ứng nhu cầu đối với các dịch vụ chuyên sâu, Bộ Y
tế thiếu năng lực hoạch định, thiếu đội ngũ có tay nghề và trang thiết bị, các cơ sở
đào tạo yếu kém, lƣơng thấp, thủ tục phức tạp, thiếu tầm nhìn và sự quyết tâm cải
cách… là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc nền y tế không phát triển kịp
theo nhu cầu ngày càng tăng đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thiếu cân bằng
trong chăm sóc sức khỏe và thiệt thòi của ngƣời dân, chất lƣợng chăm sóc y tế
không đồng đều và không đạt chuẩn tối thiểu… từ đó dẫn đến nhiều yếu tố, quan
trọng nhất là suy giảm trong năng suất lao động, sự bình đẳng và chất lƣợng cuộc
sống.
Tóm lại, y tế không những là mục tiêu mà còn là động lực để phát triển kinh tế
xã hội, vì y tế góp phần đảm bảo sức khoẻ cho con ngƣời thông qua công tác từ
phòng bệnh đến chữa bệnh. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ƣu tiên đặc biệt
cho phát triển ngành này, trong đó có Việt Nam. Hàng năm, nhà nƣớc đều tổ chức
các chƣơng trình nhằm động viên, khuyến khích và tôn vinh những y bác sĩ tâm
huyết với nghề, góp nhiều công sức vào sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
1.2.2.3. FDI đối với sự phát triển của ngành y tế
Đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành y tế nói riêng, đầu tƣ nƣớc
ngoài (đặc biệt là FDI) đƣợc coi là nguồn lực quan trọng để phát triển khả năng
công nghệ của nƣớc chủ nhà. Vai trò này đƣợc thể hiện qua hai khía cạnh chính là
chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ
của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nƣớc chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan