1
MỤC LỤC
Trang
Dẫn luận ..................................................................................................................... 6
1. Lý do – Mục đích nghiên cứu ........................................................................ 6
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 8
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ........................................................................ 8
4. Những câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu ..................................... 9
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 10
6. Những đóng góp mới của luận án ................................................................ 20
7. Bố cục của luận án ........................................................................................ 20
Chƣơng 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ HAI CỘNG ĐỒNG
CÔNG GIÁO DI CƢ NĂM 1954 TẠI NAM BỘ
1.1. Những vấn đề lý thuyết và tổng quan về tình hình nghiên cứu ................... 22
1.1.1. Thao tác hóa khái niệm .......................................................................... 22
1.1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài .............................................. 35
1.2. Những hƣớng tiếp cận lý thuyết của luận án ................................................. 45
1.2.1. Tiếp cận dưới góc độ cấu trúc xã hội: .................................................... 46
1.2.2. Tiếp cận dưới góc độ hành động xã hội: ................................................ 55
1.3. Tổng quan về hai cộng đồng Công giáo di cƣ năm 1954 .............................. 64
1.3.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên: ................................................................ 64
1.3.2. Nguồn gốc dân cư và quá trình hình thành cộng đồng ........................... 70
Chƣơng 2
CÁC CHIỀU KÍCH CẤU TRÚC XÃ HỘI
TRONG CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO DI CƢ 1954 TẠI NAM BỘ
2.1. Cơ cấu tổ chức gia đình, dòng họ ................................................................... 78
2.1.1. Gia đình .................................................................................................. 78
2.1.2. Dòng họ .................................................................................................. 84
2.2. Cơ cấu tổ chức theo giáo xứ ............................................................................ 96
Chú thích ................................................................................................................ 229
Phụ lục 1(trích các cuộc phỏng vấn) .................................................................... 238
Phụ lục 2 (trích nhật ký điền dã) ......................................................................... 275
Phụ lục 3 (hình ảnh) ............................................................................................. 343
Phụ lục 4 (trích lục các văn bản tại Trung tâm Lƣu trữ Quốc gia II)
3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT
1. Ban chấ p hành
BCH
2. Bí thư
BT
3. Biên bản phỏng vấ n
BBPV
4. Chú thích
CT
5. Cộng sản Việt Nam
CSVN
PRA
14. Thanh niên
TN
15. Thành phố Hồ Chí Minh
TP.HCM
16. Ủy ban nhân dân
UBND
17. Văn hóa thông tin
VHTT
18. Việt Nam Cộng Hòa
VNCH
4
DANH MỤC
CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
72
5
Bảng 1.5: Tình hình định cư tại vùng dinh điền Cái Sắn (số
liệu tính đến năm 1959)
74
6
Bảng 3.1: Thống kê số học sinh tại vùng Hố Nai
147
DANH MỤC LƢỢC ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
STT
NỘI DUNG
SỐ TRANG
GHI CHÚ
1
Địa bàn khảo sát vùng Đông Nam bộ
Biểu đồ Venn 2.3: Nhóm giới trẻ - HN02
138
Biểu đồ
5
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT
NỘI DUNG
SỐ TRANG
1
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu liên tộc họ của người Công giáo di cư
vùng Cái Sắn
89
2
Sơ đồ 2.2: Quan hệ dòng họ (một trường hợp tại xã Thạnh
Thắng, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ)
93
Sơ đồ 2.7: Cơ cấu tổ chức Hội đồng Hương chánh xã trước
năm 1975 (tác giả vẽ lại theo lời kể của người dân)
124
8
Sơ đồ 2.8: Cơ cấu tổ chức hành chính cấp xã hiện nay
126
9
Sơ đồ 2.9: Cơ cấu tổ chức cấp ấp hiện nay
127
10
Sơ đồ 2.10: Phân bố địa vực cư trú dân trong cộng đồng
131
11
Sơ đồ 2.11: Mối quan hệ cộng đồng trong một cộng đồng
tại Hố Nai
131
cháu của họ. Bởi trong quá trình lập xứ, lập làng, những tín đồ Công giáo di cư
năm 1954 đã mang theo phong tục tập quán, lối sống của người miền Bắc vào
việc tổ chức cuộc sống mới của cộng đồng trên vùng đất Nam bộ, như là sự nhắc
nhớ về lịch sử ly hương của cộng đồng.
Ngày nay, khi đến các khu vực tập trung đông tín đồ Công giáo di cư
như: Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn… chúng ta sẽ thấy tên gọi các giáo xứ tương
ứng với tên các làng gốc thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ như: Ngọc Đồng, Kẻ Sặt,
Lai Ổn, Ngô Xá…và nhất là tên một số đơn vị dân cư như: khu phố, ấp tương
đương với tên các giáo xứ. Bởi vậy, nhiều người không phải là tín đồ Công giáo
khi gặp gỡ bất cứ ai là cư dân vùng Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn thì đều đặt câu
hỏi: “vậy anh/chị là người Công giáo hả?”. Có vẻ như đây là sự mặc nhiên vì đa
số cư dân sinh sống trong các khu vực này đều là tín đồ Công giáo. Trong khi đó,
những người đã từng biết nhau cùng là tín đồ Công giáo thì thường đặt hỏi câu
hỏi ở mức độ sâu hơn “Anh/chị thuộc xứ nào?” với ngầm ý muốn biết thêm thông
tin về quê gốc của họ. Cách nói vắn tắt dùng từ “xứ ” thay vì “giáo xứ” cũng là
cách nói phổ biến trong giao tiếp hằng ngày của các tín đồ Công giáo di cư. Điều
này càng thể hiện sự phân định một cách rõ ràng về tính địa phương, vùng miền
xuất xứ của các cộng đồng Công giáo di cư với nhau. Chính vì vậy, nhiều người
khi nhắc đến “người Bắc di cư” hay “người Bắc 54” thì ngầm hiểu là những
người Việt theo Công giáo di cư vào Nam bộ năm 1954 như là một bản sắc riêng
biệt của các cộng đồng này.
7
Trong luận án này, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu cấu trúc cộng đồng
làng-xã của người Công giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ. Đây cũng là hướng
nghiên cứu chính được chúng tôi khởi sự từ năm 2002 đến nay tại khu vực Hố
Nai (Đồng Nai), với việc thực hiện khóa luận đại học chuyên ngành nhân học với
nhan đề “Cộng đồng cư dân Công giáo Hố Nai (Đồng Nai)”. Đến năm 2007,
nhân sống trong các cộng đồng Công giáo di cư với các mối quan hệ xã hội đan
xen: gia đình – dòng họ, tôn giáo và nhà nước.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu chính của luận án là cơ
cấu tổ chức và các nhóm xã hội của cộng đồng làng xã người Việt Công giáo di
cư 1954, đặt trong bối cảnh điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, văn hóa xã
hội tại vùng đất Nam bộ. Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm nhìn nhận mối
quan hệ giữa vai trò chủ thể cá nhân với cấu trúc xã hội, chúng tôi cũng đặt mối
quan tâm nghiên cứu về ý nghĩa của hành động của cá nhân, hay nói cách khác,
xem chiến lược ứng xử cá nhân trong mối tương quan giữa các cấu trúc xã hội
như là một trong hai đối tượng chính của luận án.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài được khu biệt trong phạm vi nghiên cứu là
các cộng đồng tín đồ Công giáo di cư năm 1954 gốc Bắc bộ, hiện đang cư trú tại
khu vực Nam bộ, trên cơ sở nghiên cứu hai vùng đại diện đặc trưng về mặt sinh
thái và kinh tế xã hội của Nam bộ: Hố Nai (Đông Nam bộ) và Cái Sắn (Tây Nam
bộ).
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học: cấu trúc cộng đồng là một hướng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học xã hội, trong đó có ngành nhân học, dân tộc học. Việc chọn
nghiên cứu cấu trúc cộng đồng của người Việt Công giáo ở Nam bộ, trường hợp
Hố Nai và Cái Sắn sẽ góp phần làm rõ đời sống văn hóa – xã hội của cộng đồng
cư dân Việt ở Nam bộ, góp phần bổ sung tư liệu và nhận xét khoa học một số lý
thuyết về sự tái sản xuất cấu trúc cộng đồng cư dân trong nghiên cứu nhân học
tôn giáo và cấu trúc xã hội.
9
- Ý nghĩa thực tiễn: từ kết quả nghiên cứu, luận án cũng hy vọng góp phần
có ý nghĩa vào việc hoạch định chính sách về công tác tôn giáo và nhất là việc
mới, nhằm đảm bảo các chức năng cố kết cộng đồng, bảo lưu các giá trị văn hóa,
bản sắc cộng đồng, niềm tin tôn giáo của các thành viên trong cộng đồng.
b. Cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 hiện nay tại Nam bộ là
mô hình cấu trúc xã hội đa hệ thống, với các mối quan hệ đan xen giữa các cấu
trúc: gia đình, làng-xã, bộ máy quản lý hành chính nhà nước và cơ cấu tổ chức
tôn giáo cùng tồn tại trong một cộng đồng. Mỗi loại hình tổ chức có những cách
thức vận hành và chức năng riêng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các cấu trúc này
vừa thể hiện những sự đối lập, vừa thể hiện sự hợp tác, cùng tồn tại song hành
trong cùng một cộng đồng.
c. Cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư hiện nay có thể xem là bộ khung
chứa đựng các quan niệm, các hệ thống ý nghĩa mà cá nhân hấp thụ, linh hoạt lựa
chọn và xây dựng nên hệ thống giá trị có ý nghĩa, từ đó hình thành chiến lược ứng
xử cho riêng mình.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp,
qua đó hướng tới thực hiện được các mục tiêu và kiểm chứng được những giả
thuyết nghiên cứu chính của luận án.
Về các địa bàn khảo sát:
Hai cộng đồng được chúng tôi chọn làm địa bàn khảo sát trong cuộc
nghiên cứu này là Hố Nai (Đồng Nai) và Cái Sắn (Cần Thơ). Vì cả hai cộng đồng
đều có chung đặc điểm: (1) cùng chung một nguồn gốc dân cư từ các tỉnh đồng
bằng Bắc bộ như: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… (2) cùng di cư
vào Nam bộ sinh sống từ năm 1954. Bên cạnh đó, hai địa bàn này cũng có những
yếu tố tương đối khác biệt về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội.
Khu vực Hố Nai hiện nay nằm trong vùng kinh tế trọng điểm các tỉnh phía
Nam, giữa huyện Trảng Bom và thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, gần thành
phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương. Các tỉnh, thành này được xem là những
trung tâm kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật lớn của các tỉnh, thành ở Đông Nam
Hố Nai, nằm cách Quốc lộ I ba kilômét (km) về hướng Tây Nam. Theo những
người dân địa phương, năm 1954, những người giáo dân thuộc giáo xứ Lai Ổn
đến định cư tại khu vực dọc theo tuyến đường Quốc lộ I, Hố Nai (nay thuộc giáo
xứ Hòa Bình - phường Tân Hòa thành phố Biên Hòa). Đến năm 1957, phần lớn số
12
giáo dân thuộc giáo xứ Lai Ổn lại tiếp tục di chuyển vào vùng Đồng Lách (khu
vực giáo xứ Lai ổn ngày nay), chọn nơi đây làm điểm định cư lâu dài. Vì nơi đây
đáp ứng được về mặt điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề nông. Tính đến ngày
nay, giáo xứ Lai Ổn vẫn còn duy trì nền kinh tế chính là nông nghiệp trồng lúa
nước, canh tác theo kiểu Bắc bộ mà họ đã mang theo trong chuyến di cư năm
1954. Cơ cấu tổ chức xã hội và phân bố dân cư của cộng đồng này vẫn theo mô
hình khép kín (kiểu làng-xã truyền thống Bắc bộ), tách biệt với các xứ đạo khác
trong vùng. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, cộng đồng này cũng đang có xu
hướng chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ khác, do áp lực của đô thị hóa và những động thái kinh tế thị
trường đang diễn ra tại Việt Nam.
-
Đại diện cho địa bàn có đặc điểm kinh tế thoát ly nông nghiệp: Chúng
tôi chọn cộng đồng Ngô Xá. Đây là cộng đồng có vị trí nằm sát Quốc lộ I, hướng
Biên Hòa đi Long Khánh. Địa bàn giáo xứ có vị trí địa lý nằm giữa ranh giới hành
chính của ba phường xã: xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom (năm 2003 là huyện
Thống Nhất), phường Tân Hòa và phường Long Bình (thành phố Biên Hòa), với
lối phân bố dân cư vừa khép kín (lấy nhà thờ làm trung tâm), vừa trải rộng đều
theo đường quốc lộ; cơ cấu kinh tế phi nông nghiệp: thủ công mỹ nghệ, kinh
doanh, dịch vụ đa dạng… Ngô Xá tiêu biểu cho địa bàn thuộc các phường-xã
Thạnh, thành phố Cần Thơ. Đây là địa bàn tập hợp nhiều người “dân tứ xứ” đổ về
đây sinh sống và lập nghiệp, với đặc điểm kinh tế thương mại phát triển hơn so
với các giáo xứ khác trong vùng. Theo những người lớn tuổi, ban đầu khu vực
này chỉ là một họ đạo lẻ, nhưng do người “dân tứ xứ” đến buôn bán, đông đúc
nên người ta mới xây dựng nhà thờ mới, thành lập giáo xứ. Hiện nay, theo những
người dân ở đây cho biết, đất đai khu vực này rất “được giá” vì hội tụ đủ bốn yếu
tố: gần nhà trường, gần nhà thờ, gần bệnh viện, giao thông đi lại thuận tiện.
-
Về thời gian tiến hành các cuộc khảo sát:
+ Tại khu vực Hố Nai:
Nghiên cứu về người Công giáo di cư là một hướng nghiên cứu mà tôi đã
chọn cách nay đã lâu. Cụ thể là công việc nghiên cứu về hướng đề tài này được
chúng tôi khởi sự từ năm 2002 tại khu vực Hố Nai, khi tôi thực hiện khóa luận đại
học chuyên ngành nhân học. Trong đó, tôi chọn nghiên cứu trường hợp hai giáo
xứ Lai Ổn và Ngô Xá. Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn mà chúng tôi đã gắn bó
trên hai mươi năm qua với tư cách là thành viên của cộng đồng. Sau này, do điều
kiện học tập và công tác ở nơi khác nhưng chúng tôi vẫn giữ liên lạc và thường
xuyên có những cuộc điền dã ngắn hạn tại đây. Chính điều này đã tạo điều kiện
cho chúng tôi có cái nhìn liên tục về những động thái văn hóa của cộng đồng
người Việt Công giáo di cư.
14
Hằng năm theo chu kỳ định sẵn là mùa hè và mùa xuân, chúng tôi và các
cộng sự viên trở lại các cộng đồng thực hiện điền dã dân tộc học mỗi đợt khoảng
15 ngày. Ngoài ra, mỗi khi trong cộng đồng có những sự kiện quan trọng, chúng
tôi luôn được những người trong cộng đồng thông báo và trở về cộng đồng vừa
15
- Phương pháp quan sát – tham dự là phương pháp đặc thù của ngành nhân
học, buộc người nghiên cứu phải sống, làm việc và nghiên cứu cùng cộng đồng
trong một thời gian dài. Người nghiên cứu trở thành một phần của cuộc sống
hằng ngày tại cộng đồng, tham gia càng nhiều càng tốt vào công việc và cuộc
sống của người dân. Trên thực tế, để có thể hòa nhập hoàn toàn với đời sống cộng
đồng địa phương là công việc rất khó thực hiện đối với các nhà nghiên cứu. Tuy
nhiên, chúng tôi vẫn cố gắng hòa nhập cuộc sống của họ không chỉ qua các cuộc
phỏng vấn mà còn thông qua sự hiện diện của mình trong đời sống sinh hoạt hàng
ngày của họ (through simple “presence” in their lives). Với cách tiếp cận này,
chúng tôi cố gắng thực hiện công việc thu thập thông tin thông qua việc đến địa
bàn vào những khoảng thời gian khác nhau trong năm: trung bình mỗi chuyến đi
chúng tôi kéo dài từ 10 đến 15 ngày tại các địa bàn nghiên cứu để thu thập thông
tin phục vụ cho quá trình phân tích dữ liệu nghiên cứu liên quan đến luận án.
Khi thực hiện phương pháp này, chúng tôi có nhiều thuận lợi vì sống
trong cộng đồng với khoảng thời gian khá dài và mọi người xác định vị thế xã hội
của chúng tôi là những trí thức, đến từ một trường đại học tại TP.HCM. Tuy
nhiên, chính những thuận lợi cũng ẩn chứa những trở ngại đáng kể trong quá trình
nghiên cứu. Bởi vì sự định vị chúng tôi là những người trí thức cho nên người dân
địa phương đã tạo ra một khoảng cách khá lớn giữa chúng tôi và họ. Vì vậy,
chúng tôi đã phải cố gắng hòa nhập với cộng đồng để “xóa mờ” khoảng cách giữa
những người nghiên cứu và những người dân địa phương. Nhưng chính sự cố
gắng xóa mờ khoảng cách giữa chúng tôi và người dân địa phương cũng là lúc
chúng tôi bị kéo vào những rắc rối khác từ việc hiện diện trong cộng đồng một
khoảng thời gian khá dài. Bởi thực tế ở bất cứ xã hội nào cũng có những nhóm xã
hội luôn ở trạng thái cạnh tranh, mâu thuẫn, xung đột nội bộ cộng đồng. Chính vì
vậy, chúng tôi phải rất khó khăn để thể hiện mình là những người trung lập, và
các nghiên cứu của chúng tôi không có tính thiên vị và không làm ảnh hưởng đến
những lợi ích xã hội, cũng như sự thăng tiến của các cá nhân và các nhóm trong
người lớn tuổi và giới chức Công giáo trong đời sống hằng ngày. Phương pháp
này chủ yếu lấy tư liệu từ việc ghi chép, có hỗ trợ bằng việc ghi âm và chụp ảnh
tùy tình huống cụ thể.
- Phương pháp thu thập và xứ lý thông tin định tính là phương pháp lấy
17
thông tin định tính từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có
chủ định với các thành viên trong cộng đồng và các dữ liệu thư tịch được thu thập
tại các trung tâm lưu trữ và tại các cộng đồng Công giáo di cư. Phương pháp này
đã được chúng tôi thực hiện cùng với việc thực hiện phương pháp quan sát-tham
dự trong quá trình thực hiện điền dã tại các cộng đồng. Đặc biệt, chúng tôi quan
tâm đến phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm với nhiều hình thức như: phỏng
vấn lịch sử qua lời kể (Oral history), phỏng vấn chiến lược, phỏng vấn nhóm tập
trung, phỏng vấn cá nhân, đặc biệt là phỏng vấn cá nhân phi cấu trúc. Với cách
thức này, những người nghiên cứu và những người cung cấp thông tin cảm thấy
khá thoải mái khi xác định rằng những người nghiên cứu đến để học hỏi về cuộc
sống và kinh nghiệm từ người dân địa phương, đồng thời chia sẻ những nhìn nhận
và trải nghiệm cuộc sống của chúng tôi với họ. Tuy nhiên, khi thiết kế công cụ
nghiên cứu cho phương pháp này, chúng tôi đã không dựa hoàn toàn vào những
câu hỏi được soạn sẵn theo cấu trúc khi trò chuyện, phỏng vấn người dân địa
phương, mà chúng tôi chủ yếu làm việc với bộ công cụ nghiên cứu là những hệ
mã thông tin mở (tree notes) được thiết kế xoay quanh nội dung các câu hỏi
nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu chính của luận án. Chính vì vậy, chúng tôi
thường biến những cuộc phỏng vấn sâu thành những cuộc trò chuyện thân tình,
nhằm tránh sự căng thẳng không đáng có cho người cung cấp thông tin. Thông
qua các cuộc trò chuyện, người dân dễ dàng trình bày ý kiến, đưa ra những quan
điểm riêng mà không bị áp lực hay khoảng cách giữa những người nghiên cứu và
bản thân họ.
bộ công cụ thu thập thông tin bằng các hệ mã thông tin (tree notes và attributes)
thay vì xây dựng bộ câu hỏi gợi ý phỏng vấn cá nhân như cách làm thông thường.
Với hệ mã thông tin được thiết kế phù hợp với các yêu cầu của luận án, tính linh
hoạt trong thu thập thông tin của luận án được phát huy nhưng vẫn đi vào trọng
tâm các câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu chính của luận án. Nhìn chung, chúng tôi
tự đánh giá việc ứng dụng phần mềm Nvivo vào việc xứ lý thông tin có hiệu quả,
và tận dụng được tối đa nguồn tư liệu thu thập được.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn thực hiện công việc thu thập và phân tích các
văn bản, thư tịch. Đặc biệt, trong quá trình trò chuyện với chúng tôi, những tín đồ
Công giáo luôn trích dẫn các đoạn Kinh thánh vào các câu chuyện, để giải thích
những ý tưởng, quan niệm sống thường ngày của họ. Chính vì vậy, chúng tôi
19
cũng phải làm công việc như những người chú giải Kinh thánh là tra cứu và đọc
lại những đoạn Kinh thánh liên quan đến những gì người dân địa phương đã bàn
luận, để hiểu biết được nguyên bản đoạn Phúc âm và những ý nghĩa từ việc diễn
ngôn (discourse) Kinh thánh của người dân trong đời sống thường ngày. Dù rằng
làm công việc này là một thách thức rất lớn đối với bản thân chúng tôi. Vì để làm
tốt công việc này, chúng tôi phải có vốn hiểu biết về thần học Kinh thánh Công
giáo, trong khi chúng tôi lại không có nhiều kiến thức trong lĩnh vực này. Chúng
tôi cũng đã cố gắng khắc phục hạn chế bằng cách tham vấn các linh mục trong
cộng đồng, cũng như tham khảo các sách giáo lý Công giáo. Tuy nhiên, chúng tôi
cũng xác định rõ đây không phải là công trình nghiên cứu chú giải Kinh thánh
Công giáo thuần túy mà là công trình nghiên cứu sự nhận thức của những tín đồ
về đời sống đạo trong một cấu trúc cộng đồng Công giáo.
- Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA):
PRA là một công cụ đặc biệt hữu ích trong ngành công tác phát triển cộng đồng.
Đây có thể xem là một phương pháp trao quyền cho người dân để quyết định các
để giải thích ý nghĩa và động lực xã hội của quá trình biến đổi về cấu trúc xã hội,
cũng lý giải được tính tích cực và tính chủ động tương đối của các chủ thể xã hội
trong quá trình củng cố và biến đổi các định chế của cấu trúc xã hội.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận án gồm ba chương:
- Chương 1: trình bày cơ sở lý thuyết của luận án, tổng quan tình hình
nghiên cứu và bối cảnh của Nam bộ, đặc biệt tập trung vào hai cộng đồng nghiên
cứu điểm: Hố Nai ở Đông Nam bộ và Cái Sắn ở Tây Nam bộ. Qua đó, khái quát
được những điểm tương đồng và khác biệt về điều kiện tự nhiên, địa vực cư trú,
đặc điểm kinh tế-xã hội và văn hóa. Điều này cũng góp phần quan trọng cho việc
lý giải các vấn đề của các chương sau.
- Chương 2: trình bày và phân tích các đặc điểm cơ cấu xã hội, đặc biệt
chú ý tới tính đan xen các cấu trúc xã hội trong cộng đồng cư dân Công giáo di cư
như cơ cấu gia đình, tộc họ; cơ cấu tổ chức giáo xứ, hội đồng giáo xứ, các đoàn
thể Công giáo và cả cơ cấu tổ chức hành chính cấp xã trước và sau năm 1975. Từ
21
đó phân tích tính đặc điểm cấu trúc quyền lực tại địa phương trong bối cảnh
đương đại.
- Chương 3: trình bày và phân tích chiến lược ứng xử và sự lựa chọn cơ
hội thăng tiến của những tín đồ Công giáo di cư trong mối tương quan các cấu
trúc xã hội đan xen. Trong chương này, chúng tôi lần lượt đi sâu phân tích những
lựa chọn mang tính chiến lược của người Công giáo di cư ở hai lĩnh vực chính:
đời sống xã hội và đời sống lễ nghi trong đời sống đương đại.
22
23
mặc dù tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ
xã hội này sang xã hội khác. Những thành phần quan trọng nhất của cấu trúc xã
hội là vị thế vai trò nhóm và các thiết chế xã hội [138, 1987:90].
Quan niệm của Vũ Khiêu đưa ra trong bài viết đăng trên tạp chí Xã hội
học với nhan đề: “Chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ và những biến đổi
thường xuyên của cơ cấu xã hội” như sau: “cần phân biệt giữa cơ cấu xã hội và
quan hệ xã hội; cơ cấu xã hội là tổng thể những bộ phận những thành tố đã tạo
nên một xã hội nhất định. Cơ cấu xã hội và quan hệ xã hội có mối quan hệ với
nhau, nhưng không thể quy cơ cấu xã hội vào quan hệ xã hội là một. Quan hệ xã
hội là hình thức vận động của cơ cấu xã hội. Cơ cấu xã hội là nội dung có tính
chất bản thể luận của quan hệ xã hội, là cơ sở tồn tại và phát triển của cơ cấu xã
hội.” [51, 1986: 40].
Như vậy, cấu trúc xã hội bao gồm các đặc tính được thừa nhận trong xã
hội theo thời gian liên quan đến những sự khác biệt quan trọng (giai cấp xã hội,
chủng tộc/dân tộc, tôn giáo, nông thôn/thành thị) giữa các nhóm người trong việc
tiếp cận với nguồn lực vật chất, xã hội và tâm lý. Nói đến cấu trúc xã hội là nói
đến một hệ thống các quan hệ xã hội. Cấu trúc xã hội dựa trên ý tưởng cho rằng
xã hội được phân chia thành các nhóm khác nhau với những chức năng, ý nghĩa,
mục đích khác nhau. Cấu trúc xã hội trả lời câu hỏi: các mối quan hệ xã hội được
tổ chức theo những kiểu hình như thế nào. Ví dụ về cấu trúc xã hội: gia đình, tôn
giáo, luật pháp, giai cấp, chủng tộc, kinh tế đều là các cấu trúc xã hội. Cấu trúc xã
hội là một công cụ phân tích, nó giúp chúng ta hiểu được cách thức con người
ứng xử trong đời sống xã hội.
- Tái sản xuất cấu trúc cộng đồng và tái cấu trúc cộng đồng:
Đây là hai khái niệm chính yếu của luận án và hiện nay cũng có nhiều
cách hiểu khác nhau về mặt ngữ nghĩa của hai thuật ngữ này. Chính vì vậy, trong
luận án này, chúng tôi xin định nghĩa hai khái niệm này một cách vắn tắt nhằm
thống nhất cách hiểu trong luận án như sau:
- Tái cấu trúc cộng đồng được hiểu là việc sắp xếp lại các thành phần cấu
trúc cộng đồng cho phù hợp với điều kiện thay đổi của xã hội, hay nói cách khác
là việc thiết lập lại trạng thái cân bằng trong nội bộ cộng đồng nhằm duy trì tính
ổn định và phát triển của cộng đồng trong những điều kiện luôn thay đổi của xã
25
hội. Thông thường, các cuộc tái cấu trúc cộng đồng thường diễn ra trong các điều
kiện khi các giá trị và chuẩn mực của cấu trúc xã hội hiện hành trở nên lỗi thời
đối với nhận thức và cách hành xử của các cá nhân trong cộng đồng.
- Thiết chế xã hội hay định chế xã hội: trong quyển Cơ cấu xã hội và
phân tầng xã hội, Nguyễn Đình Tấn cho rằng thiết chế xã hội là tập hợp bền vững
các giá trị, chuẩn mực quy định hành vi của cá nhân hay một nhóm xã hội, được
thừa nhận rộng rãi, có khi được thể chế hóa (có quyền lực buộc phải theo) nhằm
thoả mãn một nhu cầu đặc thù nào đó (tôn giáo, kinh tế, xã hội...). Gắn liền với
khái niệm thiết chế xã hội là giá trị và chuẩn mực xã hội. Chức năng của thiết chế
là điều chỉnh hành vi con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực. Ngăn chặn
và kiểm soát, giám sát những hành vi sai lệch với chuẩn mực qua hệ thống pháp
luật hoặc dư luận xã hội. Đặc điểm của thiết chế: khá bền vững, phản ứng lại các
biến đổi chậm, các thiết chế có xu hướng phụ thuộc nhau, sự đổ vỡ hoặc khủng
hoảng thiết chế có ảnh hưởng lớn đến xã hội. [81, 2005: 70 – 72].
Theo Trần Hữu Quang, hiểu theo nghĩa xã hội học, định chế xã hội
không phải là một nhóm người cụ thể, cũng không phải là một tổ chức hay một
hội đoàn cụ thể. Định chế xã hội (hay thiết chế xã hội – social institution) là một
hệ thống các quan hệ xã hội đã được xác lập ổn định trong xã hội. Nó được định
hình theo thời gian, khi mà, trong các mối quan hệ tương tác giữa các vai trò, một
số ứng xử nào đó của con người được lặp đi lặp lại, rồi dần dần biến thành tập
quán, và cuối cùng trở thành những chuẩn mực mà mọi thành viên đều thừa nhận
và tuân thủ. Định chế xã hội là một sản phẩm của đời sống xã hội. Mỗi định chế