BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ LIÊN TÂM
TRƯỜNG CA
VỀ THỜI CHỐNG MỸ TRONG
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 62 22 34 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả được trình bày trong luân án này là trung thực và chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Liên Tâm
2.2.1. Sức khái quát hiện thực về địa danh ...................................................... 99
2.2.2. Sức khái quát về người thực, việc thực ................................................ 104
2.2.3. Sức khái quát về sự đồng hành của nhân dân ...................................... 106
2.2.4. Sức khái quát về sự hy sinh của nhân dân ............................................ 115
2.3. Đặc trưng sử thi. Sự gắn kết giữa tính chất sử thi và trữ tình ....................... 122
2.3.1. Đặc trưng sử thi .................................................................................... 122
2.3.2 Sự gắn kết giữa tính chất sử thi và trữ tình .......................................... 126
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TRƯỜNG CA VỀ THỜI CHỐNG MỸ
3.1. Sự phức hợp và đa dạng về thể thơ ................................................................ 135
3.2. Tính chất đa giọng điệu. Giọng điệu sử thi…… .............................................. 142
3.3. Không gian nghệ thuật. Không gian sử thi ..................................................... 159
3.4 Sự liên tưởng .................................................................................................... 168
3.5 Chất liệu văn học dân gian .............................................................................. 173
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 181
THƯ MỤC ......................................................................................................................... 186
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 190
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 197
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN………..204
1
DẪN NHẬP
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc chiến tranh thời chống Mỹ đã qua đi trên một phần tư thế kỷ nhưng
âm vang hào hùng của nó vẫn vọng đến tận bây giờ và mãi mãi về sau. Văn học
trong các trường Phổ thông, Cao đẳng, Đại học. Các trích đoạn trong: Bài ca
chim Chơ rao, Theo chân Bác, Mặt đường khát vọng, Đường tới thành phố,
Những người đi tới biển... mang chất trữ tình sâu sắc và âm hưởng sử thi hào
hùng, góp phần phản ánh hiện thực cuộc chiến tranh chống Mỹ. Ngày nay, các
trích đoạn đặc sắc ấy vẫn được tiếp tục có mặt trong các chương trình văn học
đã nêu trên. Vì vậy, nghiên cứu giá trị lịch sử và giá trị văn học của trường ca
cũng góp phần nhất định vào việc giảng dạy, tiếp cận trường ca hiện đại.
- Tên gọi thống nhất; hệ thống hình tượng nhân vật; hệ thống đề tài, không
gian sử thi; giọng điệu sử thi… trong trường ca đã được chú ý nghiên cứu
nhưng vẫn còn mang tính riêng lẻ. Nhiều vấn đề khác trong trường ca vẫn chưa
được nghiên cứu một cách hệ thống. Giá trị lịch sử và giá trị văn học của
trường ca trong tiến trình lịch sử văn học hầu như chưa được đánh giá đúng
mức. Nhiều bài viết, bài nghiên cứu hầu như chỉ tập trung vào việc xác định tên
gọi hoặc giới thiệu tác giả tiêu biểu đã sáng tác trường ca.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Trường
ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam” để nghiên cứu trên cơ
sở tiếp thu có chọn lọc những công trình, bài viết quý báu của các nhà nghiên
cứu đi trước, từ đó góp cái nhìn bao quát hơn về trường ca sử thi hiện đại.
2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích khoa học đề ra, luận án tập trung nghiên cứu “Trường ca về
thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam”.
- Về lịch sử, thời chống Mỹ bắt đầu từ năm 1955 đến 1975. Về mặt văn học
giai đoạn này, các nhà thơ đã sáng tác trường ca (chủ yếu xuất hiện từ 1960)
với mạch cảm xúc ngợi ca và tâm thế của người trong cuộc. Nhưng từ sau
3
4/1975 đến khoảng 1980, họ vẫn chưa thoát khỏi nỗi ám ảnh về cuộc chiến
nghệ thuật; từ đó rút ra những kết luận về sự đóng góp của tác giả và giá trị của
trường ca về thời chống Mỹ trong tiến trình lịch sử văn học nước nhà.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Luận án xác định những nội dung cơ bản, những đặc điểm quan trọng và
riêng biệt làm nên giá trị của trường ca về thời chống Mỹ; cung cấp thêm nhận
thức về lý thuyết thể loại (tên gọi trường ca sử thi hiện đại) và bước đầu giải
quyết các vấn đề đã đặt ra trên cơ sở kế thừa các công trình của những nhà
nghiên cứu đi trước.
- Dựa vào kết quả nghiên cứu, người viết hy vọng góp thêm một tiếng nói,
một cái nhìn tổng hợp về giá trị của trường ca về thời chống Mỹ; cung cấp
thêm tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy, học tập về trường ca hiện đại.
5. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhận xét mở đầu
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có một công trình chuyên
sâu, tổng hợp giá trị trường ca về thời chống Mỹ. Trong luận văn Cao học “Đặc
điểm trường ca viết về đề tài chiến tranh thời chống Mỹ”, chúng tôi đã tiến
hành phân loại lịch sử vấn đề theo hai nhóm:
- Những nhận xét, luận bàn về tên gọi và sự phát triển của trường ca.
- Những ý kiến nhận định về các tác giả và các trường ca có giá trị.
Tuy nhiên, trải qua mỗi chặng đường nghiên cứu, chúng tôi lại phát hiện
thêm những điều mới. Để thấy được kết quả nghiên cứu của những người đi
trước, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi xin lược thuật lại những điểm
chính, bổ sung một số ý kiến, nhận định và cập nhật các công trình nghiên cứu
gần đây.
5.1. Những nhận xét, luận bàn về tên gọi và sự phát triển của thể loại
Đã có một số công trình nghiên cứu về thể loại trường ca; bàn luận và
phân định đâu là thơ dài, đâu là truyện thơ, xác định rõ những điều kiện cần và
đủ để được gọi là trường ca (phải mang nội dung lớn, dung lượng đồ sộ, khái
6
(4), ông cho rằng “hình như ai cũng đúng cả”. Thực sự, đề nghị của ông về
cách gọi tên chung như thế không phù hợp với đặc trưng riêng của thể loại
trường ca vì thơ dài khác với trường ca, thơ dài không cần thiết chứa đựng
nội dung lịch sử, cảm hứng sử thi, không gian sử thi... Những nghiên cứu của
Lại Nguyên Ân là một đóng góp thiết thực cho việc nhận định về con đường
phát triển của trường ca.
Từ Sơn, trong bài “Về khái niệm trường ca” (TCVNQĐ số 1/1981) cho
rằng trường ca "là thơ chứ không phải là ca" [80, tr.120]. Theo ông, nên dùng
thuật ngữ trường ca cho những bài thơ dài có cốt truyện tự sự trên 500 câu và
nên gọi chung là truyện thơ. Cách lý giải của Từ Sơn nghiêng về việc lấy
nghĩa gốc của thuật ngữ “trường ca” để đặt tên cho thể loại.
Cũng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 5/1981, Hoài Thanh có bài "Thơ
và chuyện trong thơ". Ông cho rằng: Ba mươi năm đời ta có Đảng, Nước non
ngàn dặm, Theo chân Bác của Tố Hữu và cả Trường ca Nguyễn Văn Trỗi của
Lê Anh Xuân đều là truyện thơ. Như vậy, theo Hoài Thanh, "truyện thơ" và
"trường ca" cũng chưa được phân định cụ thể như quan niệm hiện nay.
Trần Ngọc Vượng, trong bài “Về thể loại trường ca và tính chất của nó”
(Tạp chí VNQĐ số 5/1981), đã đưa ra những nhận định tinh tế, phân biệt sự
khác nhau giữa trường ca và truyện thơ, thơ dài. Theo ông "trường ca của ta
bây giờ không phải cùng khuôn với các thể loại đã từng có mặt trong lịch sử
văn học" [11, tr.129]. Những lập luận để phân biệt trường ca với khúc ngâm,
truyện thơ, thơ dài mà ông đưa ra khá hợp lý: trường ca phân biệt với thơ dài
trước hết ở dung lượng cảm hứng, “cảm hứng đó là linh hồn của trường ca", và
chỉ có thể xuất hiện ở một thời đại cách mạng [114, tr.129]. Đây là một nhận
định khá sâu, góp phần xác định đặc điểm thể loại và lý giải vì sao giai đoạn
này trường ca nở rộ.
khi viết trường ca, nếu viết bằng một thể thơ thì “trường ca dễ đơn điệu” [72,
tr.101-102]. Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với nhận xét trên. Theo ông: "Theo
chân Bác là một thiên trường ca" [72, tr.100], và Tố Hữu đã phối hợp giữa anh
hùng ca với trữ tình trên cái nền gợi lại sự kiện lịch sử. Nhìn chung bài viết của
8
Vũ Đức Phúc đã khẳng định lại những vấn đề mà một số nhà nghiên cứu trước
đó nêu ra: trường ca phải được xây dựng trên nền sự kiện lịch sử, độ dài cần
vừa phải, cần có sự pha trộn, thể loại và yếu tố trữ tình rất quan trọng. Đặc biệt,
ông cho rằng yếu tố tự sự chỉ là phần độn thêm, điều này đối lập với ý kiến
của Đỗ Văn Khang khi cho rằng các trường ca đều cố gắng lấy tự sự làm chính.
Trên Tạp chí Văn học số 6/1982, trong bài “Từ ý kiến về trường ca sử
thi của Hêghen đến trường ca hiện đại ở ta", Đỗ Văn Khang đã dẫn ra ý kiến
của Hêghen viết về trường ca sử thi (Mỹ học Hêghen - 1836) để làm nền tảng
cho những lập luận của mình về “trường ca hiện đại Việt Nam"; cụ thể là về:
nguồn gốc sử thi, sức khái quát của trường ca sử thi, xung đột sử thi, tính cách
sử thi, chi tiết trong trường ca sử thi. Căn cứ vào công trình nghiên cứu sử thi
của Hêghen, ông xem xét trường ca ở các điểm sau đây:
+ "Chất khái quát tổng thể lịch sử, phong cách đồ sộ" [38, tr.87], trong đó
chú ý đến tính chất xung đột mang tính lịch sử.
+ "Các cá tính của trạng thái thế giới dân tộc rất mãnh liệt được biểu hiện
qua cái tôi nhà thơ" [38. tr.87].
+ "Vai trò của chi tiết trong trường ca… Cách tổ chức liên chương, liên
đoạn” [38, tr.90].
+ "Trường ca hướng về các biến cố trung tâm” [38, tr.91 cố gắng lấy tự sự
làm chính, "hình thức kể" là nhân tố quan trọng góp phần làm nên trường ca.
Đây là những ý kiến, những lập luận cơ bản dựa vào Mỹ học Hêghen.
Ông cũng không loại trừ hoàn toàn sự biến dạng của thể loại trường ca trong
thiệu một số thành tựu về trường ca của nền văn học Xô viết và cuộc thảo luận
về trường ca kéo dài trên ba tháng đăng ở báo Văn học Liên Xô [28, tr.110].
Ông hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Biêlinxki: "Trường ca chỉ là một thể loại
tác phẩm thơ đặc biệt... có nội dung lớn và dung lượng lớn”, "tương quan giữa
nguyên tắc trữ tình và nguyên tắc tự sự là một vấn đề trung tâm của thi pháp
trường ca; trong trường ca hiện đại, xu thế trữ tình lấn át tự sự” [28, tr.111110]. Cách lập luận và giải quyết vấn đề của ông dễ hiểu, phù hợp với cách
10
hiểu hiện nay về thể loại trường ca, nhất là nhận định: xu thế trữ tình trong
trường ca hiện nay lấn át tự sự. Tuy vậy, ta cũng không loại trừ có trường ca
viết ở thời gian sau này như Những cánh đồng dưới lửa của Văn Lê, Đi trong
sen ngát bóng xanh của Phạm Thái Quỳnh lại thiên về xu hướng tự sự.
Vấn đề phân định thể loại trường ca và thơ dài đã khiến Mã Giang Lân
trăn trở và viết tiếp bài “Thử phân định giữa ranh giới trường ca và thơ dài"
(Tạp chí Văn học số 5,6/1988). Trong cuốn “Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam”,
ở phần "Xu hướng mở rộng dung lượng phản ánh" [47, tr.356], ông cũng tập
trung đi sâu vào việc tìm sự giống nhau và khác nhau của hai loại này. Theo
ông, “trường ca có kết cấu rõ và hoàn chỉnh hơn; thể thơ đa dạng; nhân vật có
đường nét, tâm trạng hơn; nhịp điệu, nhạc điệu trong trường ca sôi nổi, hào
hùng hơn; yếu tố tự sự và trữ tình bổ sung cho nhau; đề tài: thuộc về hiện tại
mà tác giả từng sống, chứng kiến”. Đây là một sự nghiên cứu khá công phu,
giúp ta thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa trường ca và thơ dài.
Sự ra đời mạnh mẽ của trường ca đã trở thành một hiện tượng văn học nổi
bật trong đời sống thơ ca. Tháng 3/2002, trên Tạp chí Giáo dục số 26, Đào Thị
Bình có bài "Góp phần tìm hiểu trường ca viết về cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước". Đây là một bài viết có giá trị, tổng kết lại một số ưu điểm nổi
trội của trường ca; giúp ta có một cái nhìn bao quát về thể loại; mở ra hướng
mới khi nghiên cứu, nhất là "chất suy nghĩ và triết lý", "chất trí tuệ chính luận"
“Thành tựu và giới hạn lịch sử” (TCVH số 6/1990, tr 85): “Trường ca trong hệ
thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại” (TCVH số 137/2000)... Trong đó, ông đã
có những nhận định, đánh giá rất khách quan và sâu sắc về thể loại trường
ca, thiên về ý kiến cho rằng trường ca là một hiện tượng thâm nhập của thể loại.
Nhưng ông cũng không tránh khỏi băn khoăn khi đặt ra câu hỏi: “Liệu có
những nguyên tắc cho sự mềm dẻo của kết cấu trường ca? và phải chăng
trường ca đã thay thế cho truyện thơ” [85, tr.138-139]. Sau đó, chính ông cũng
đã lý giải: “Trường ca kế thừa truyện thơ nói riêng và những kinh nghiệm tự sự
của thơ ca nói chung... Chính vì thế, về bản chất, trường ca khác với truyện thơ
truyền thống, khác với truờng ca cổ điển nhưng lại gần gũi với thơ trữ tình”.
12
Theo ông, trường ca lấy sự trưởng thành của ý thức làm thước đo các biến cố
và sự kiện, là căn cứ để phân biệt bản chất giữa trường ca và truyện thơ truyền
thống. Đây là vấn đề mà luận án chúng tôi tập trung nghiên cứu.
Lê Thành Nghị, tác giả của tập Tiểu luận Trước đèn... thơ có những lập
luận tương đồng ý kiến Vũ Văn Sỹ khi cho rằng: “sự khác nhau giữa thơ dài và
trường ca, có thể dễ nhận thấy qua kết cấu của tác phẩm. Trường ca đòi hỏi
một kết cấu chặt chẽ, hợp lý, các chương đoạn có thể không theo qui luật thời
gian, không gian, có thể kết cấu theo tuyến sự kiện hoặc tuyến nhân vật...
trường ca khác hẳn một bài thơ dài ở tính chặt chẽ của kết cấu” [58, tr.178].
Vũ Tuấn Anh, trong bài “Thơ chống Mỹ, cứu nước trong tiến trình thơ
hiện đại” [1], cũng đã trình bày những luận điểm sau:
+ Thơ ca chống Mỹ có cốt cách và tầm vóc của một nền thơ lớn, trước hết
là do tính quần chúng sâu rộng… Một nền thơ trữ tình - sử thi, giàu tính chính
luận và chất trí tuệ.
+ Thời đại lịch sử đã khai sinh một mô hình thơ ca mới, một kiểu nhà thơ
mới, một cái Tôi trữ tình công dân, một cái Ta dân tộc.
khi còn bề bộn, ngổn ngang…, có cảm giác Thu Bồn còn cầu kỳ, chuộng lạ
trong cách đặt tên cho các tiêu đề của trường ca” [78, tr.66-68]. Qua nghiên
cứu, chúng tôi cũng khẳng định rằng: sự xuất hiện rầm rộ của trường ca, trong
đó có sự đóng góp chủ lực của Thu Bồn, là một hiện tượng văn học nổi bật
trong đời sống thơ ca những năm chống Mỹ.
Tố Hữu, cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, đã được
rất nhiều nhà phê bình như Trần Đình Sử, Lê Đình Kỵ, Phong Lan… nghiên
cứu và Theo chân Bác được đánh giá là một thiên trường ca viết về Hồ Chí
Minh. Nguyễn Văn Hạnh có tiểu luận “Theo chân Bác - một thành công mới
của Tố Hữu”, in trong cuốn “Tố Hữu về tác gia và tác phẩm” do Phong Lan
chủ biên. Theo ông, ngay việc đặt đầu đề cho trường ca, Tố Hữu đã thể hiện kín
đáo ý đồ nghệ thuật: “Theo chân Bác” để làm sống lại trước mắt những chặng
đường Bác đã đi qua. Trong trường ca, lịch sử và cảm xúc, tự sự và trữ tình, thủ
pháp kể chuyện và miêu tả, biểu hiện xen kẽ… Nguyễn Văn Hạnh cũng ca
ngợi: “Theo chân Bác với những thành công nổi bật của nó về nhiều mặt… Bài
15
thơ viết với một cảm hứng lớn, công phu và với một trình độ già dặn… đã gửi
vào bản trường ca tất cả tâm huyết, tất cả sức mạnh nghệ thuật của anh và bài
thơ đã làm“nhiệm vụ lịch sử” của nó một cách xứng đáng” [43, tr. 670, 674,
675]. Tuy vậy, ông cũng chỉ ra những hạn chế của trường ca: có những đoạn
không hay, dễ dãi, dàn trải… có đoạn nặng tưởng tượng, một số hình ảnh trùng
lặp, ít có sức nặng (ngẩng đầu cao, vỗ cánh bay…). Những nhận định của ông
giúp chúng tôi có cơ sở nghiên cứu giá trị văn học, giá trị lịch sử, cảm hứng sử
thi của trường ca về thời chống Mỹ.
Tôn Phương Lan đã đánh giá cao về tài năng Nguyễn Khoa Điềm trong
bài viết “Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng" (TCVH số
5/1976): “Một điểm đáng chú ý trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là những liên
tình giàu chất sử thi” [85, tr.290] đã ca ngợi: “Với Đất ngoại ô và Mặt đường
khát vọng có thể khẳng định Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trẻ đặc sắc của
thế hệ các nhà thơ chống Mỹ. Một tiếng nói trẻ trung, có cá tính, vừa “đồng
thanh”, vừa đại diện cho một thế hệ trực tiếp cầm súng và vào trận”. Những
đánh giá của Vũ Văn Sĩ và Vũ Tuấn Anh về tác giả khá cụ thể, nhất là về sự
tinh tế, tài hoa, nhận thức thời đại, sự kết hợp giữa tính triết lý và trữ tình.
"Thanh Thảo, thơ và trường ca" (TCVH số 2/1980) là bài nhận định của
Thiếu Mai về một cây bút bộ đội viết về người lính Trường Sơn thời chống Mỹ.
Theo Thiếu Mai: "Ngòi bút Thanh Thảo tinh tế mà thanh thoát, phong phú mà
nhẹ nhõm… lời thơ đẹp, không dễ dãi, buông thả” [52, tr.102]… là thơ của một
tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ. Thơ Thanh Thảo có chiều sâu…, bao giờ
anh cũng muốn vượt qua những hiện tượng bên ngoài để tìm đến cái đích thực,
cái bản chất của sự vật” [52, tr.99]. Bài viết đã dành nhiều trang nhận định về
giá trị của Những người đi tới biển, giúp người viết có thuận lợi ban đầu trong
việc nghiên cứu về tác giả và đặc biệt là giọng điệu và sức khái quát hiện
thực của trường ca.
Trong bài "Thanh Thảo, một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau
1975" đăng trên TCVH số 5, 6/1985, Bích Thu nhận xét: Thơ anh “hướng ngòi
bút vào chân dung người lính, vào hiện thực chiến trường, vào đời sống nhân
17
dân… để khám phá ra chân dung tinh thần của một thế hệ người lính trong giai
đoạn chiến tranh khốc liệt mà hào hùng… là tiếng nói thâm trầm, thấm thía về
hiện thực chiến tranh, về trách nhiệm và số phận của thế hệ mình trước Tổ
quốc, nhân dân” [99, tr.67]. Đánh giá về Những người đi tới biển, Bích Thu
khẳng định so với nhiều trường ca xuất hiện rầm rộ vào những năm 70, tác
phẩm thực sự gây ấn tượng đẹp đối với người đọc về thể thơ này vì: “Cái tôi
trong trường ca. là cái tôi từng trải, cái tôi chứng kiến... mang đậm dấu vết cá
Anh Ngọc có bản sắc riêng của lớp nhà thơ trẻ mặc áo lính, thường đặt yêu cầu
cao về tư tưởng, đồng thời chú trọng tính chân thực trong thơ. Tại hội thảo về
Trường ca do Tạp chí Văn nghệ tổ chức (1980), Anh Ngọc có bài phát biểu
nhan đề “Hãy đưa tôi một tư tưởng”, ở dòng chữ ghi cuối trường ca Sông núi
trên vai (1983), anh cũng nêu rõ điều này. Hồng Diệu cho rằng: "Anh Ngọc tập
trung nhiều và thành công… rõ hơn là ở trường ca Sông núi trên vai...”. Ca
ngợi như thế nhưng Hồng Diệu cũng không bỏ qua những nhược điểm mà
Anh Ngọc mắc phải: "Có những câu thơ trong Sông núi trên vai còn công thức
và nhạt lắm”. Tuy nhiên, bài phê bình này còn khá chung chung, chưa đào sâu
giá trị hiện thực của Sông núi trên vai, mặc dù đây là vấn đề quan trọng nhất
làm nên sự thành công cho tác phẩm (vì thực tế, các cô gái trong đoàn Vận tải
H 50 ở mảnh đất cực Nam Trung bộ, ngày nay vẫn còn lại một số các chị quá
lứa, lỡ thì, đơn lẻ... nhưng lòng không quên những niềm vui; những nhọc nhằn,
khốn khó mà họ đã từng trải qua).
Vũ Duy Thông, trong lời giới thiệu Lửa mùa hong áo, đã bày tỏ suy nghĩ:
“Không biết có lầm không nhưng các nhà thơ nữ hình như rất ít viết trường ca,
bởi đây là lần đầu tôi đọc trường ca của một cây bút khác giới… chúng tôi đã
quen nghĩ trường ca đòi hỏi vóc dáng vạm vỡ, mạch thơ dài hơi, bố cục lớp
lang, bài bản… không hợp lắm với phụ nữ”. Nhưng đọc Lửa mùa hong áo của
Lê Thị Mây, Vũ Duy Thông không chỉ thấy đậm chất nữ rất riêng mà còn thấy
bút lực của người viết trên những trang thơ.
Hồng Diệu, trong “Thêm vài suy nghĩ” (TCVN số 5/1981) đã có một
nhận xét (theo ông là một nhận xét vui): “Trong bao nhiêu trường ca in ra mấy
chục năm nay, chưa có một trường ca nào mà tác giả của nó là nữ mặc dầu các
bạn gái làm thơ của chúng ta khá nhiều. Và nếu có trường ca của một bạn gái
thì “chất” trường ca ở đó có gì đặc biệt?”. Thật sự, từ sau năm 2000, đã có vài
trường ca của các nhà thơ nữ ra đời và chất lượng hầu như không lệ thuộc nhiều
21