Thực trạng và các giải pháp để đẩy mạnh ngành sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu - Pdf 34

MỤC LỤC


LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam vốn là đất nước có nhiều làng nghề truyền thống được
hình thành và phát triển từ nhiều đồ nay. Trải qua hàng trăm. hàng
ngàn năm, có rất nhiều nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển như
một phần không thể tách rời lịch sử dân tộc. Như là làng nghề dệt vải,
làm gốm sứ, đúc đồng, dệt chiếu, dệt thổ cẩm ... Trong đó chúng ta
không thể không kể đến nghề làm đồ gỗ truyền thống đã gắn bó với
cuộc sống của bao thế hệ người dân Việt Nam từ thuở cha ông ta dựng
nước đến nay. Những sản phẩm của nghề này không chỉ đáp ứng nhu
cầu hàng ngày mà còn là những sản phẩm văn hóa phục vụ cho đời
sống tinh thần của người dân Việt.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành
nghề truyền thống này đã phát triển thành ngành công nghiệp sản xuất
và chế biến gỗ. Sản phẩm của ngành là mặt hàng xuất khẩu mang
nhiều nét đặc trưng độc đáo của nền văn hóa dân tộc, do vậy nó cũng
là thông điệp giới thiệu cho bạn bè quốc tế về đất nước, cảnh quan
thiên nhiên và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, các sản phẩm đồ gỗ
xuất khẩu của Việt Nam còn đem lại giá trị ngoại tệ rất lớn. Chính bởi
những lợi ích kinh tế – xã hội lâu dài và tiềm năng phát triển của
chúng mà hiện nay nhà nước đang có nhiều biện pháp và chính sách
để khuyến khích ngành chế biến sản xuất gỗ xuất khẩu phát triển.
Trong đề án này tôi xin được đề cập đến ba vấn đề lớn là: tổng
quan về ngành gỗ Việt Nam, thực trạng của ngành sản xuất chế biến
gỗ xuất khẩu và các giải pháp để đẩy mạnh ngành nghề này.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, do còn nhiều sai sót và
kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót. Rất mong
sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Tôi xin cảm ơn thầy Nguyễn Đình Trung đã trực tiếp hướng dẫn

giai đoạn từ trước năm 1990 là khối các nước Đông Âu, Liên Xô theo
những thoả thuận song phương. Sau 1990, thị trường này suy giảm bởi
3


những biến động chính trị. Từ sau năm 2000 thị trường xuất khẩu
chính là Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và nhiều nước ASEAN.
Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam
càng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, còn các nhà
đầu tư trong nước thì mạnh dạn mở rộng sản xuất với quy mô lớn, nên
hoạt động đầu tư trong lĩnh vực sản xuất và chế biến gỗ xuất khẳu
đang tăng rất mạnh. Lực lượng doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ
hiện nay có khoảng 1.800 doanh nghiệp, trong đó có trên 300 doanh
nghiệp đang sản xuất hàng xuất khẩu. Cả nước có 3 cụm công nhiệp
chế biến gỗ là: Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương; Bình Định –
Tây Nguyên và Hà Nội – Bắc Ninh. Riêng Bình Dương đang có 371
doanh nghiệp sản xuât và xuất khẩu sản phẩm gỗ, trong đó có 176
doanh nghiệp trong nước và 195 doanh nghiệp có vốn FDI.
2. Vai trò và những lợi ích kinh tế – xã hội từ việc phát triển
ngành sản xuất , chế biến đồ gỗ xuất khẩu:
a) Giúp chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá:
Trong quá trình phát triển các làng nghề, hoạt động sản xuất, chế
biến đồ gỗ đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển
lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề
phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Lịch sử ra đời và phát triển của
mặt hàng này đã làm thay đổi cơ cơ cấu kinh tế nông thôn của các
làng nghề. Sự tác động này đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở nông thôn

chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của cả làng. Hoạt động này không
chỉ tạo ra một lượng lớn lao động mà còn giải quyết việc làm cho
những lao động nông nghiệp nhàn rỗi sau vụ sản xuất. Ở nhiều làng
nghề, những người nông dân, trong những vụ nông nhàn hoặc ngoài
giờ ra đồng lại chính là những người thợ thủ công tài hoa.
c) Giúp giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát huy nét đẹp
truyền thống:
Các sản phẩm đồ gỗ Việt Nam, đặc biệt là đồ gỗ thủ công mỹ nghệ
là kết tinh tài năng, óc sáng tạo của người thợ dựa trên bề dày văn hoá
bốn nghìn năm của dân tộc. Nhiều sản phẩm đã vượt qua giá trị hàng
hoá đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hoá, là biểu tượng đẹp đẽ của
5


truyền thống dân tộc Việt Nam. Ngày nay, nền sản xuất công nghiệp
hiện đại phát triển mạnh mẽ, các sản phẩm đồ gỗ công nghiệp được sử
dụng và tiêu thụ khắp nơi. Tuy nhiên, chúng ta cần tạo cho sản phẩm
những nét riêng, độc đáo mang bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc
hay của mỗi vùng miền (như những nét chạm trổ bằng tay), từ đó mà
làm nên lợi thế cạnh tranh riêng của sản phẩm “Made in Viet Nam”.
Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ thủ công mỹ nghệ nói riêng và các
sản phẩm đồ gỗ khác nói chung sẽ góp phần giới thiệu và quảng bá
văn hoá Việt Nam với bạn bè Quốc tế.
d) Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước
và mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh
tế Quốc tế:
Sản phẩm đồ gỗ không chỉ là một mặt hàng chủ lực của Việt Nam
mà chúng còn có thể mang những yếu tố văn hoá đậm nét. Điển hình
là trên những sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ tryền thống thường biểu đạt
phong cảnh sinh hoạt, con người, cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền

nhu cầu trong nước , nhu cầu xuất khẩu tăng cao nên các làng nghề,
các cơ sở sản xuất đều được trang bị thêm máy móc, thiết bị. Ví dụ
như máy phay, máy xẻ, máy bào, mấy bắn đinh, máy phun sơn… Nhờ
đó mà tăng năng suất, tăng sản lượng sản phẩm và hạ được giá thành
sản xuất so với trước.
e) Sử dụng chủ yếu là nguyên liệu nhập từ nước ngoài:
Ngành sản xuất và chế biến gỗ nước ta mỗi năm phải nhập khẩu trên
80% gỗ nguyên liệu từ nước ngoài, chiếm tới 37% trong giá thành sản
phẩm. Nguồn nguyên liệu gỗ ngày càng trở nên khan hiếm và đang
tăng giá đang là một khó khăn rất lớn cho các cơ sở sản xuất, chế biến
gỗ.
f) Rất độc hại:
Trong quá trình sản xuất các sản phẩm từ gỗ phải tiến hành các công
đoạn như xẻ gỗ, phay gỗ, bào gỗ… tạo ra rất nhiều các bụi gỗ mà vẫn
được gọi là mùn cưa, chúng rất nhỏ nên dễ dàng phát tán trong không
khí. Nếu như hít phải quá nhiều thì rất độc hại cho cơ thể, có thể dẫn
đến những bệnh như viêm phổi, suy hô hấp, viêm phế quản…. Hay
trong quá trình sơn sản phẩm, người ta thường sử dụng máy phun sơn
nên sơn có thể bay vào trong không khí hoặc làm ô nhiễm nguồn
7


nước. Do vậy, nhà nước đang thực hiện bố trí, quy hoạch xây dựng
các khu công nghiệp chế biến gỗ xa khu dân cư. Các cơ sở sản xuất gỗ
cần phải quan tâm đến vấn đề bảo hộ an toàn sức khoẻ cho người lao
động. Tuy nhiên hầu hết ở các làng nghề người ta chưa hề quan tâm
đến vấn đề này.

II.THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA VIỆT
NAM:

37,2%

2006
23,5%

2007
22%

Theo dự kiến, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt 3 tỷ USD
năm 2008, tăng 28,2% so với năm 2007. Riêng tỉnh Bình Dương trong
năm 2007 kim ngạch xuất khẩu gỗ đã đạt 1,7 tỷ USD. Ngày 2/1/2008
tỉnh Bình Dương nhận được một dự án lớn của tập đoàn DongWha
( Hàn Quốc) trị giá 180 triệu USD về đầu tư xây dựng nhà máy chế
biến gỗ tại tỉnh. Sản phẩm đồ gỗ chế biến của tỉnh Bình Dương đang
xuất khẩu trực tiếp sang thị trường của tất cả các khu vực trên thế giới,
trong đó châu Á chiếm hơn 50% sản lượng, tiếp đó là Bắc Mỹ, châu
Âu.
Bộ Công Thương đã đưa ra chiến lược phát triển cho mặt hàng này
trong những năm tới, trong đó bao gồm các giải pháp để thực hiện
mục tiêu đạt 7 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gỗ vào năm 2010. Mục
tiêu này là hoàn toàn có thể thực hiện được, vì nhu cầu sử dụng đồ gỗ
trên thế giới được đánh giá là đang tiếp tục tăng cao, trong khi đồ gỗ
Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 0,78% tổng thị phần thế giới, nên cơ
hội xuất khẩu là rất lớn.
9


Sản phẩm gỗ của Việt Nam là một mặt hàng có thị trường xuất
khẩu khá đa dạng, nó không bị phụ thuộc quá nhiều vào một thị
trường nhất định, và đang ngày càng khẳng định chỗ đứng của mình

 Với thị trường Nhật Bản, Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng đồ
gỗ khá đa dạng, phong phú, bao gồm đồ gỗ nội thất, đồ gỗ công
10


nghiệp, ván sàn, khung tranh, hòm, hộp, đồ gỗ trang trí… Việt
Nam đứng thứ 2, sau Trung Quốc về xuất khẩu mặt hàng này
vào Nhật Bản. Đồ gỗ Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản đạt tốc
độ tăng trưởng khá. Năm 2004: đạt 180 triệu USD; năm 2005:
240 triệu USD; năm 2006: 286 triệu USD; 9 tháng đầu năm
2997 đạt 228 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2006.
 Với thị trường EU, đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện được
hưởng thuế GSP với mức thuế suất chủ yếu là 0% (một số mã
hàng chịu thuế 2,1%) đã giúp Việt Nam có một lợi thế nhất định
khi chen chân vào thị trường EU so với Trung Quốc, Indonesia,
Braxin, Malaisia… do các nước này không được hưởng GSP.
Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ Việt Nam vào EU trong thời
gian qua có mức tăng trưởng trung bình 15%/năm, tập trung vào
đỗ gỗ nội thất và đồ dùng ngoài trời. Trong năm 2006 đạt 501,9
triệu USD, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước,
riêng 3 tháng đầu năm 2007 đạt 200,72 triệu USD. Tuy nhiên so
với tổng lượng nhập khẩu của EU thì mức xuất khẩu của Việt
Nam còn rất khiêm tốn và chưa phản ánh đúng tiềm năng.
2. Những thuận lợi với ngành chế biến, xuất khẩu đồ gỗ của Việt
Nam:
a) Việt Nam đã gia nhập WTO:
Điều này là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội đối với các
doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Thông qua quá trình hội nhập
với nền kinh tế thế giới, lĩnh vực xuất khẩu gỗ được đẩy mạnh, các rào
cản thuế quan của nước ngoài với sản phẩm cuả Việt Nam được dỡ bỏ

vực và trên thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác khoa học công nghệ
phục vụ phát triển công nghiệp.
c)Sản xuất và chế biến gỗ là một ngành nghề truyền thống đã có
từ lâu đời của dân tộc:
Từ xưa, tay nghề của từng nhóm thợ mộc và chạm khắc tự truyền
dạy cho nhau đã đạt tới mức rất điêu luyện thể hiện qua những tác
phẩm mộc, điêu khắc trong các đình, chùa. Ngày nay, những sản
phẩm chế biến gỗ của chúng ta rất tinh xảo, tinh tế. Tâm hồn, bản sắc
dân tộc trong các sản phẩm đồ gỗ chất lượng cao sản xuất tại Việt
Nam đã tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, làm nên lợi thế cạnh tranh
cho doanh nghiệp và đã thuyết phục được cả những thị trường khó
tính trên thế giới. Vì vậy, phát triển sản xuất đồ gỗ xuất khẩu cũng
chính là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
d) Nhu cầu sử dụng đồ gỗ trên thế giới ngày càng cao.
Ngày nay những thị trường đồ gỗ chính trên thế giới như châu Âu,
Mỹ, Úc có xu hướng chuyển dịch dần đầu tư và mua hàng ở Việt
Nam. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng nên hoạt động
đầu tư trong lĩnh vực này cũng tăng rất mạnh. Chính tốc độ phát triển
ngành chế bién gỗ tăng mạnh, đặc biệt là từ cuối năm 2002 đã nói lên
điều đó.
Các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã tạo được vị thế
mới trên thị trường quốc tế. Trước đây, ít ai nghĩ rằng đồ gỗ Việt Nam
có thể chen chân vào các siêu thị lớn, thì nay, hầu hết các siêu thị lớn
trên thế giới đều có bán đồ gỗ chế biến tại Việt Nam. Việc có nhiều
nhà nhập khẩu đồ gỗ quốc tế tới tham dự hội chợ EXPO
13


đồ gỗ hàng năm vào tháng 10 tại TPHCM trong 4 năm qua, để tìm
hiểu và ký kết hợp đồng đã phần nào khẳng định vị thế của công



Đây chính là khâu yếu nhất của ngành công nghiệp sản xuất và chế
biến gỗ Việt Nam. Theo Bộ Công thương, hiện nguồn nguyên liệu
phục vụ chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ thiếu trầm trọng. Hàng
năm, các doanh nghiệp phải nhập khẩu trên 80% nguyên liệu gỗ,
chiếm tới 37% giá thành sản phẩm. Năm 2006, chúng ta xuất khẩu
khoảng 2 tỷ USD sản phẩm gỗ và nhập khẩu khoảng 716 triệu USD
gỗ nguyên liệu. Chỉ trong 8 tháng đầu năm 2007, cả nước đã nhập tới
700 triệu USD gỗ nguyên liệu, chiếm gần một nửa trong 1,5 tỷ USD
xuất khẩu đồ gỗ. Ước tính có tới khoảng 2 triệu mét khối gỗ nhập về
các cảng Việt Nam mỗi năm. Ông Đoàn Xuân Hoà, Cục phó Cục Chế
biến Nông lâm sản, Bộ NN-PTNT, thừa nhận cả nước hiện chỉ có
720.000 ha rừng trồng kinh tế có thể tham gia cung cấp nguyên liệu gỗ
cho chế biến nhưng các giống cây rừng trồng đa phần có chất lượng
gỗ thấp, chỉ phục vụ được cho nhu cầu ván nhân tạo, gỗ dăm hay
nguyên liệu giấy là chính. Nhiều cánh rừng được trồng mới chủ yếu
trồng bạch đàn và keo chỉ có giá trị phủ xanh còn già trị thương mại là
rất thấp. Đặc biệt, công tác xây dựng mạng lưới chế biến gỗ trên toàn
quốc chưa có sự thống nhất để sử dụng nguồn nguyên liệu vốn đang
rất khan hiếm. Chính bởi công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, gỗ
rừng trồng chưa có nhiều loại gỗ lớn, chủng loại chỉ tập trung vào một
số cây ngắn ngày, nên không đáp ứng được yêu cầu chất lượng với sản
phẩm xuất khẩu. Bên cạnh đó, trong nước chưa xây dựng được các
khu rừng cấp chứng chỉ, trong khi nhiều thị trường nhập khẩu đã đạt
ra yêu cầu gỗ có chứng chỉ được khai thác, nên tình trạng phải nhập
khẩu gỗ để đáp ứng là yêu cầu không tránh khỏi.
Do sự phụ thuộc vào thị trường cung cấp nguyên liệu từ nước ngoài
cũng như tình trạng giao động của thị trường này nên khi giá nguyên
liệu tăng cao và đang ngày càng trở nên khan hiếm như hiện nay thì

rất nhiều và có thể cạnh tranh được với các nước.
b) Chưa xây dựng được thương hiệu, chưa hình thành được hệ
thống phân phối hàng hoá chuyên nghiệp:
Là một mặt hàng mới phát triển mạnh khoảng nửa thập kỷ gần đây
nên việc phát triển thương hiệu đồ gỗ Việt Nam trên thị trường quốc
tế còn hạn chế và chưa được chú trọng.. Một thực tế đáng buồn là các
doanh nghiệp chủ yếu đang làm hàng gia công và hàng thô. Đối tác
nước ngoài đến đặt hàng ở Việt Nam và xuất sản phẩm đi nhưng dưới
những nhãn hiệu khác. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít
cơ hội bán hàng trực tiếp cho các khách hàng Mỹ, mà chủ yếu qua các
thương nhân Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Hơn nữa, có đến 60%
kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ VN vào thị trường Mỹ thuộc về các công
ty 100% vốn của Trung Quốc hay Đài Loan đang đầu tư ở TP HCM,
Đồng Nai, Bình Dương. Đối với thị trường Mỹ, để xâm nhập vào thì
sản phẩm gỗ Việt Nam có hai phương cách là bán trực tiếp cho các
nhà bán lẻ (như Haverygs, Pottery Bản, Crate and Barel…) hoặc qua
các nhà nhập khẩu. Bán qua các nhà bán lẻ sẽ không phải qua môi giới
16


nên sẽ được giá cao, nhưng số lượng đặt hàng ít và họ không biết
nhiều về công nghệ chế biến nên sẽ không hỗ trợ được gì cho các nhà
sản xuất. Còn đối với các nhà nhập khẩu, do hầu hết họ đều có kinh
nghiệm trong chế biến gỗ nên hiểu những khó khăn của nhà sản xuất,
vì thế họ có thể giúp các nhà sản xuất cải tiến kỹ thuật, chất lượng và
do có mạng lưới tiêu thụ rộng nên dễ dàng cung cấp cho nhà sản xuất
thông tin thị trường hoăc tiếp thị hiệu quả cho sản phẩm. Tuy nhiên,
việc chúng ta chưa có thương hiệu và các doanh nghiệp xuất khẩu sản
phẩm qua những nhà nhập khẩu trung gian và sử dụng những nhãn
hiệu khác nhau đã làm giảm tính cạnh tranh của mặt hàng này, và đây

nghiệp gỗ. Tất cả những điều này đang làm ảnh hưởng đến thương
hiệu gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới.
c) Các doanh nghiệp còn đang rất thiếu thông tin do khả năng
tiếp cận thị trường còn hạn chế:
Đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến gỗ, họ
không có bất kì sự tư vấn, tham mưu nào của các công ty tư vấn, của
các hiệp hội ngành gỗ, hoặc các cơ quan hữu quan, dẫn đến việc mất
phương hướng mở rộng đầu tư, đi sau các nước bạn về đầu tư công
nghệ, máy móc, và hiển nhiên thua kém nước bạn về chiếm thị phần
trên thương trường quốc tế. Còn đối với các doanh nghiệp mới muốn
xâm nhập, đầu tư vào ngành này, cũng không hề có bất kỳ sự tư vấn
hướng dẫn nào về các kế hoạch, dự án đầu tư máy móc, thiết bị, công
nghệ của thế giới. Họ bị động và dẫn đến nhiều doanh nghiệp tự đầu
tư và đầu tư sai, không mang lại hiệu quả trong sản xuất, vì thực tế do
các thiết bị, máy móc, công nghệ đầu tư không phù hợp với sự phát
triển ngành chế biến gỗ toàn cầu.
Hiện nay, thị trường đầu ra lớn nhất cho các doanh nghiệp sản xuất
đồ gỗ xuất khẩu là Mỹ, Nhật và EU. Tuy nhiên, do khả năng tiếp cận
thị trường quốc tế còn hạn chế, thiếu thông tin hỗ trợ thị trường mà
các doanh nghiệp Việt Nam không am hiểu về văn hoá của họ, chỉ đưa
ra các sản phẩm mang bản sắc văn hoá Việt Nam mà quên mất rằng
người tiêu dùng cần có những sản phẩm mang dấu ấn văn hoá quê
hương họ. Vì thế nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng xuất khẩu các
mặt hàng “lệch pha” so với nhu cầu thị trường và “chậm tiến” so với
các đối thủ cạnh tranh. Việc thiếu thông tin còn dẫn đến không nắm
bắt được giá cả, nhu cầu, xu thế của thị trường, chưa am hiểu văn hoá,
thị hiếu của người tiêu dùng nước ngoài… trong khi các thông tin này
lại vô cùng cần thiết đối với những người làm kinh doanh, đăc biệt là
trong hoàn cảnh hiện nay, đang có một xu hướng thay đổi nhanh về thị
hiếu tiêu dùng các sản phẩm đồ gỗ.

còn thấp, mức độ đầu tư chưa cao. Đại bộ phận các doanh nghiệp sản
xuất gỗ, đặc biệt là đồ gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị lạc hậu. Trong
khi đó, yêu cầu của thị trường ngày càng cao. Hiện chỉ có 10% trong
tổng số hơn 1.800 cơ sở chế biến gỗ tại Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc
tế.
Các doanh nghiệp đồ gỗ hiện nay vừa nhỏ lại vừa phân tán, phát
triển tự phát thiếu sự liên kết nên dù các doanh nghiệp Việt Nam có
lợi thế là có nguồn nhân công giá rẻ, tay nghề khéo léo, kỹ thuật tinh
xảo và sản phẩm đạt chất lượng tương đương hàng nước ngoài, giá
bán lại thấp hơn 20% so với hàng hóa cùng loại của nước ngoài vẫn
khó cạnh tranh. Khách hàng quốc tế thường đặt yêu cầu cao về sự “an

19


toàn” của hợp đồng trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chưa biết
liên kết với nhau trong sản xuất.
Ngành chế biến gỗ của nước ta phát triển mạnh trong những năm
gần đây, nhưng vẫn mang tính chất đơn lẻ, không có sự kết hợp, phát
triển đồng bộ của các ngành cơ khí, chế tạo vật tư, Hardware đi kèm
với sản phẩm gỗ, thường chỉ chiếm 5-10% giá trị sản phẩm. Các
Hardware, vật tư lại không được đảm bảo, giá thành cao, phần nào
làm chậm bước tiến phát triển của ngành này. Ngoài ra, còn các lĩnh
vực, ngành nghề khác hỗ trợ cho ngành gỗ, nhưng cho đến nay vẫn
hoàn toàn bế tắc, như ngành chế biến và sản xuất hoá chất chẳng hạn.
Việt Nam không có bất kỳ nhà máy chế biến, sản xuất hoá chất tầm
cỡ, đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý nào cả, giá thành cung cấp
quá cao trong khi chất lượng quá yếu kém, không cung cấp kịp thời
cho doanh nghiệp.
e) Những quy định khắt khe từ những thị trường lớn (Mỹ, Nhật,


21


22


III. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU CÁC SẢN PHẨM ĐỒ GỖ CỦA VIỆT NAM:
1. Phát triển nguồn nguyên liệu, khai thác bền vững tài nguyên
rừng:
a) Tập trung trồng rừng theo phương thức thâm canh để tự túc
nguồn nguyên liệu gỗ vào năm 2020.
Giải quyết vấn đề nguyên liệu đầu vào không thể chỉ trong một
sớm, một chiều mà cần phải có quy hoạch vùng nguyên liệu ngay từ
bây giờ. Do vậy, Bộ NN-PTNT đã đề ra mục tiêu phát triển lâm
nghiệp, trồng rừng là hình thành vùng nguyên liệu gỗ từ rừng trồng ổn
định với diện tích 825.000 ha từ nay tới năm 2020. Để có thể thực
hiện được mục tiêu này thì Chính phủ đã chỉ thị các Bộ, ngành, Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung làm tốt một số việc sau
đây:
 Khẩn trương rà soát, hoàn chỉnh và phê duyệt quy hoạch
trồng rừng nguyên liệu, trong đó đảm bảo cung cấp ổn định cho
nhu cầu của công nghiệp chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ; quy
hoạch diện tích thích hợp để trồng loại rừng cây gỗ lớn, các loại
cây bản địa quý hiếm, tạo nguồn gỗ ổn định dể duy trì và phát
triển sản xuất hàng gỗ thủ công mỹ nghệ.
 Chỉ đạo lựa chọn cơ cấu cây rừng phù hợp với điều kiện của
từng vùng, có hiệu quả kinh tế, đảm bảo tiêu chuẩn nguyên liệu
cho chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ; đồng thời có biện pháp đảm

tranh:
Chính phủ cần xúc tiến thoả thuận cấp cao giữa Việt Nam với các
nước trong khu vực và trên thế giới có nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào
về việc cung cấp gỗ dài hạn cho Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho các
doanh nghiệp chế biến gỗ thực hiện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên
thành lập các chợ nguyên liệu cung cấp gỗ đạt chuẩn, khiến cho việc
mua bán gỗ trở nên thuận tiện, nhanh chóng, giá cả thống nhất. Hiện
nay, đã có 3 trung tâm giao dịch gỗ ở cả 3 miền đang được xây dựng
để giúp các doanh nghiêp nhập khẩu gỗ dễ dàng hơn, giá rẻ hơn. Nhà
nước cũng đã có chính sách miễn thuế nhập nguyên liệu gỗ và miễn
thuế xuất khẩu để khuyến khích nghề gỗ phát triển.
c) Nhà nước nên khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân và
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào trồng rừng, thậm chí là đầu tư
nuôi dưỡng rừng tự nhiên.

24


Hiện nay có một số doanh nghiệp ở nước ta đầu tư trồng rừng ở
Nam Phi, Nga… Nhà nước nên có các chính sách khuyến khích và táo
điều kiện thuận lợi cho hướng phát triển này. Tuy nhiên về lâu dài vẫn
cần đẩy mạnh trồng rừng trong nước. Trong những năm tới, vùng
duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cần có quy
hoạch phát triển các dự án trồng rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ
xuất khẩu.
2. Nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công tác xúc
tíến thương mại, quảng bá, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam
trên thị trường quốc tế:
a) Các giải pháp để xúc tiến thương mại tầm vĩ mô:
 Tăng cường mối liên kết giữa xúc tiến thương mại với xúc tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status