Bùi Thị Ban Mai, luận văn thạc sỹ khoa học, Đánh giá sơ bộ chất lượng
nước một số sông tỉnh Bắc Ninh, dự báo diễn biến chất lượng nước, đề xuất
các biện pháp quản lý tài nguyên nước mặt một cách bền vững, 2007, Trường
ĐHKHTN-ĐHQG Hà Nội
Lời Mở đầu
I.
Lý do chọn đề tài
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, nếu như không có nước thì sự
sống không tồn tại và cũng không có một hoạt động kinh tế nào diễn ra được.
Nước là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế-xã hội. Mặt khác, nước được sử dụng làm môi trường tiếp nhận các
loại chất thải dư thừa khác nhau của hệ sản xuất và sinh hoạt. Việc sử dụng nước
mặt làm nơi tiếp nhận nước thải đã gây ô nhiễm nước bề mặt nặng nề, gây hậu
quả xấu cho hệ sinh thái dưới nước và cũng làm ảnh hưởng tới các hình thức sử
dụng nước khác nhau. Những năm gần đây, do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp
hóa ngày càng nhanh, kéo theo sự ô nhiễm nước ngyaf càng tăng và lan rộng.
việc sử dụng nguồn nước à làm ô nhiễm môi trường nước. Nước trong các sông,
hồ về mùa khô không đủ để hòa tan, pha loãng chất bẩn làm cho sự ô nhiễm
ngày càn nghiêm trọng trên nhiều đoạn sông. Việc hiện đại hóa, công nghiệp
hóa càng nghiêm trọng cũng đã và đang xuất hiện những ô nhiễm mới.
Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam đã đưa ra những lĩnh vực ưu tiên
nhằm phát triển bền vững: Năm lĩnh vực về kinh tế, năm lĩnh vực về xã hội, và
chín lĩnh vực về môi trường [11]. Một trong những lĩnh vực ưu tiên về môi
trường nhằm phát triển bền vững là bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền
vững tài nguyên nước.
Việc quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước chưa tốt làm cho các nguồn
nước đang bị suy thoái, nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nguy cơ nguồn
nước bị cạn kiệt, cộng với tình hình phân bố không đều theo thời gian và không
2
Tiến hành nghiên cứu chất lượng nước các sông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
bao gồm sông NHK và sông Cầu, đây là hai con sông ô nhiễm nhất trên toàn hệ
thống sông suối trong tỉnh, hàng ngày phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải
chưa được xử lý từ các khu vực làng nghề và tụ điểm dân cư. Điều tra phân tích
tìm nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường của các làng nghề trên lưu vực sông
NHK, sông Cầu.
2. Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề sau:
*Đánh giá chất lượng nước của sông NHK, sông Cầu theo từng thông số như
NH4+, NO2-, NO3-, SS, BOD5, COD, Coliform tổng số,... so với Tiêu chuẩn Việt
Nam.
*Thống kê các nguồn gây ô nhiễm chính, phân tích các tác nhân gây ô
nhiễm, tính toán lưu lượng thải,...
*Đánh giá thải lượng ô nhiễm của BOD5, COD, SS,... trong nước thải sinh
hoạt, nước thải làng nghề. Dự báo xu hướng diễn biến chất lượng nước mặt.
*Đề xuất các biện pháp quản lý nguồn nước sông NHK, sông Cầu.
III. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá hiện trạng đất chất lượng các con sông
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, điều tra nghiên cứu nguồn gây ô nhiễm chính. Điều
này đóng vai trò quan trọng đối với các biện pháp quản lý tài nguyên nước một
cách bền vững, giúp các nhà quản lý tài nguyên và môi trường ở địa phương có
những lựa chọn phù hợp để quản lý môi trường đạt hiệu quả cao.
Đánh giá diễn biến chất lượng nước, ước tính lưu lượng thải, thải lượng ô
nhiễm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp tính đến thời điểm 2010 và
2020 là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chiến lược, chính sách, kế hoạch
bảo vệ môi trường và các giải pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường để hướng
tới sự phát triển bền vững.
đến 4 tháng va 20-30% được tạo ra trong một tháng cao điểm [22]. Do lượng
4
mưa chảy từ ngoài lãnh thổ vào chiếm tỷ lệ lớn (khoảng trên 60%) cho nên tiềm
năng nước mặt của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội
của các nước phía thượng lưu. Lượng nước mặt phát sinh trên lãnh thổ Việt
Nam có khoảng 310 tỷ m3/năm [5]. Với dân số như hiện nay thì bình quân đầu
người có khoảng 4.000 m3/năm. [22] Tham khảo đánh giá xếp loại của Hội tài
nguyên nước quốc tế thì quốc gia nào cũng có lượng nước bình quânđầu người
dưới 4.000 m3/năm là quốc gia thiếu nước.
Việt Nam có số sông suối dài trên 10 km là 2.360 sông, trong đó có 10 lưu
vực có diện tích trên 10.000km2, mật độ lưới sông trung bình vào khoảng
0,6km/km2 [12]. Những năm gần đây do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa
tăng nhanh kéo theo sự ô nhiễm nước ngày càng tăng nhanh và lan rộng. Tỉnh
Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày, mật độ sông từ 1,8-2,0km/km 2, được
đánh giá là cao so với các tỉnh vùng ĐBSH (mật độ lưới sông của ĐBSH là
1,5km/km2. Hệ thống sông của Bắc Ninh có thể được chia thành các nhóm chính
như sau:
-Các sông lớn chỉ chảy qua địa bàn tỉnh (điểm đầu và điểm kết thúc không
thuộc địa bàn tỉnh): Sông Thái Bình.
-Các sông bắt nguồn từ bên ngoài chảy qua địa bàn tỉnh sau đó đổ ra sông
Thái Bình: Sông Cầu, Sông Đuống, sông Bùi.
-Các sông bắt nguồn từ bên ngoài chảy qua địa bàn tỉnh sau đó đổ ra sông
Cầu: Sông Cà Lồ, Sông Ngũ Huyện Khê.
-Các sông nội bắt nguồn từ các sông lớn trong tỉnh: Ngòi Tào Khê, sông Dâu
Lang tài, sông Đại Quảng Bình, sông Đồng KHởi.
Kết quả cho thấy, trong số 10 con sông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thì sông
Ngũ Huyện Khê chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc xả thải của các làng nghề.
Đường quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Hà Nội-Quảng Ninh), quốc lộ 38, đường sắt
xuyên Việt đi Trung Quốc. Trong tỉnh có nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các
tỉnh lân cận và cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân như sông Cầu, sông Đuống, sông
Thái Bình. Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là một trong những thuận lợi để giao
6
lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tếxã hội và khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh.
Bắc Ninh có diện tích tự nhiên nhỏ nhất nước nhưng lại là địa phương có
nhiều tiềm năng trở thành tỉnh công nghiệp vì đây là nơi tập trung khá đông các
làng nghề, các cơ sở sản xuất tieeu thủ công nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, thế
mạnh trên cũng có mặt trái là đã gây ra một vấn đề lớn về môi trường. Công
nghệ sản xuất lạc hậu cộng với ý thức bảo vệ môi trường của dân làng chưa cao
đã gây ô nhiễm nguồn nước. Nước thải từ các hộ sản xuất trong làng nghề tái
chế giấy Phong Khê-Bắc Ninh đã biến những con mương của làng thành màu
đen, nồng nặc mùi hôi. Sau đó, dòng nước đen ngòm ấy lại đổ thẳng ra sông
NHK, một con sông lớn trong vùng. Trong khi đó, 100% các làng nghề không
có chương trình cấp nước sạch. Cư dân làng nghề chủ yếu dùng nước giếng
khoan cho sản xuất và cả sinh hoạt mà các chỉ số về độ ô nhiễm nước tại hầu hết
các làng nghề đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 đến 5 lần [31]. Không chỉ
ở làng nghề giấy Phong Khê, các làng nghề khác ở tỉnh Bắc Ninh như làng nghề
sắt thép Đa Hội, làng đúc nhôm, chì Văn Môn, làng gôc mỹ nghệ Đồng Kỵ, tất
cả đều chung tình trạng ô nhiễm tương tự mà chưa có biện pháp khắc phục hữu
hiệu.
I.2.2. Các yếu tố tự nhiêm ảnh hưởng đến môi trường nước
I.2.2.1. Đặc điểm địa hình
Địa hình Bắc Ninh tương đối bằng phẳng. Tuy dốc từ Bắc xuống Nam và từ
Tây sang Đông nhưng độ dốc không lớn, được thể hiện các dòng chảy bề mặt đổ
về Sông Đuống và sông Thái Bình. Vùng đồng bằng chiếm gần hết diện tích tự
4
5
5
6
6
7
7
8
8
9
9
10
10
11
11
12
12
13 TB cả năm
Số giờ nắng
2001
17,9
17,1
20,9
23,8
26,8
28,7
29,1
28,5
27,7
25,4
22,9
17,5
24,4
2004
19,8
17,7
20,1
23,9
26,1
29,1
28,8
28,9
27,9
24,9
22,5
18,6
24,0
2005
15,9
17,6
18,9
24,0
28,7
29,6
29,5
28,7
28,4
9
9
10
10
11
11
12
12
13
TB cả năm
Chế độ mưa
2001
47,7
22,8
50,3
55,2
148,5
175,0
179,7
183,5
174,6
131,4
189,0
84,5
144,2
2002
69,9
30,4
36,4
79,7
147,1
147,1
117,4
184,6
167,2
168,5
129,8
162,1
1481,2
2005
31,6
18,3
25,3
77,6
202,6
202,6
214,6
165,9
177,0
148,4
132,1
64,4
1387,3
Mùa mưa thường tập trung từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9 hoặc tháng 10
và mùa khô tập trung vào các tháng đầu năm. Lượng mưa theo từng mùa ảnh
hưởng lớn đến quá trình tự làm sạch cảu sông. Theo số liệu thống kê lượng mưa
331,3
2003
39,5
46,2
7,8
46,9
181,1
2004
7,7
34,4
37,2
121,1
204,2
2005
13,9
37,6
29,5
9,8
220,7
9
6
6
7
7
1573,3
255,6
240,5
303,7
167,7
95,3
2,3
1386,8
112,9
290,0
218,4
80,5
17,9
100,1
1224,4
357,2
229,6
428,8
257,1
5,7
17,9
31,6
1639,4
Bắc Ninh là một tỉnh có mật độ sông khá dày, độ ẩm trung bình các tháng
trong năm thường cao. Năm 2005, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 12 (73%0,
tháng cao nhất là tháng 8 với độ ẩm là 89% [14].
81,0
65.4
62.2
49.8
93,1
89,4
97,8
81,3
2002
81.3
56.6
81.2
85.8
89,6
94,3
93,6
88,9
2003
92.4
77.5
111.6
97.8
115,8
136,3
124,7
82,4
2004
108,3
12
12
87,9
13
TB cả năm
81,2
I.2.2.3. Tài nguyên thiên nhiên
94,8
91,7
95,6
77,7
85,9
83,0
129,5
138,2
135,6
110,4
92,3
150,2
127,5
122,7
102
84,2
97,2
69,9
11
2.3.2. Áp lực đối với môi trường nước mặt
2.3.2.1. Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Với địa hình tương đối bằng phẳng, thời tiết khí hậu ôn hòa nguồn nước
phong phú, đất đai mầu mỡ do được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và
sông Thái Bình, rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển của nhiều loại cây
trồng. Đây là tiền đề quan trọng, tạo thuận lợi để ngành nông nghiệp Bắc Ninh
phát triển toàn diện.
Dựa vào lợi thế địa lý, gần thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh trọng điểm
Bắc Bộ, có hệ thống giao thông phát triển, kết cấu hạ tầng đang được hoàn
chỉnh, công nghiệp, nông nghiệp Bắc Ninh đang có lợi thế phát triển mạnh,
gồm: Cơ khí, kỹ thuật điện, vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản, đặc biệt đồ gỗ
cao cấp, chế biến lương thực thực phẩm, dệt may.
Về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp phục vụ công nghiệp và đô thị, cung
cấp lương thực, thực phẩm rau sạch, chất lượng cao cho các thị trường lớn như
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Đặc biệt là rau xanh, hoa tươi, cây cảnh, thủy
sản, thịt lợn lạc, bò sữa,...
Trong những năm qua kinh tế xã hội Bắc Ninh đã có bước phát triển, tổng
sản phẩm GDP tăng bình quân 12,9%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa từng bước nâng cao hiệu quả nền kinh tế
2.3.2.2. Áp lực từ sự phát triển của làng nghề tới môi trường
Làng nghề Bắc Ninh có lịch sử phát triển và tồn tại hàng năm nay, làng nghề
được phân bố khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động của làng nghề mạnh chưa từng
thấy. Một số làng nghề mới được thanhg lập, một số khác quy mô phát triển lớn
hơn, đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất và thu hút ngày càng nhiều lao
động tại chỗ. Hoạt động kinh doanh được mở rộng và phát triển thị trường trong
nước và quốc tế. Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, trong đó có 30 làng nghề
truyền thống, 32 làng nghề mới. Hiện các làng nghề nói trên đang được khôi
Hệ thống sông của tỉnh Bắc Ninh bao gồm sông Thái Bình là sông chạy qua
địa bàn tỉnh. Sông Cầu, sông Đuống và sông Bùi là các sông chảy qua địa bàn
tỉnh sau đó đổ ra sông Thái Bình. Sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê là các sông
chảy qua sau đó đổ ra sông Cầu. Sông Dâu Lang Tài, sông Đại Quảng Bình,
sông Đồng Khởi, ngòi Tào Khê là các sông nội địa bắt nguồn từ các sông lớn
trong tỉnh.
Qua điều tra, quan sát các sông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cho thấy sông
NHK và sông Cầu là hai con sông bọ ô nhiễm do việc xả thải của các cơ sở sản
xuất trên địa bàn tỉnh. Sông NHK là con sông chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ
việc xả thải từ các làng nghề tuôi xối xả ra sông mà không qua bất kỳ một hình
thức xử lý nào. Nước thải đổ trực tiếp xuống sông, còn chất thải rắn thì được tập
kết thành những bãi rác trong làng và đổ bừa bãi trên bờ sông NHK. Hiện nay
chất lượng sông bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt vào mùa khô gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng dân cư trong vùng. Những người dân sống
ven sôn gọi Ngũ Huyện Khê là “Dòng sông chết”.
2.1.1. Sông Ngũ Huyện Khê
Sông NHK có một nhánh bắt nguồn từ Đầm Thiếp thuộc huyện Mê LinhVĩnh Phúc, một nhánh bắt nguồn từ sông Đuống qua cống Long Tửu. Sông
NHK chay qua năm huyện, trong đó có ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh là Từ
Sơn, Tiên Du và Yên Phong cuối cùng đổ vào sông Cầu tại xã Vạn An, Huyện
Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.
Tổng chiều dài của sông NHK là 48,4 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh có
chiều dài 24km, bắt đầu từ xã Châu KHê huyện Từ Sơn và kết thúc tại xã Hòa
Long, huyện Yên Phong. Trên lưu vực sông có các xã thuộc ba huyện Từ Sơn,
Tiên Du và Yên Phong. Đây là con sông nhỏ nhưng trực tiếp nhận nước thải từ
các làng nghề khác nhau như làng nghề chế biến gỗ Đồng Kỵ, làng nghề tái chế
14
Võ rồi đổ ra sông Thái Bình tại Phả Lại. Điểm cuổi sông Cầu ở Bắc Ninh là xã
Đức Long-huyện Quế Võ. Sông Cầu là nguồn cung cấp nước tưới, nước sinh
hoạt và cũng là nơi nhận nước tiêu thoát cho cùng phía Bắc của tỉnh Bắc Ninh.
Hiện nay nước sông NHK và sông Cầu bị ô nhiễm chủ yếu do ảnh hưởng của
các nguồn nước thải trên lưu vực, đặc biệt là nước thải của các làng nghề, Ngoài
ra nước sông còn chịu tác động của các quá trình rửa trôi, xói mòn do mưa và do
nguồn thải nội tại dạng hạt từ trầm tích đáy, chúng quay trở lại tần nước bằng
các con đường khoáng hóa.
2.1.3. Các làng nghề trên lưu vực sông NHK, sông Cầu
Sự phát triển của các làng nghề trên lưu vực sông là nguyên nhân chính làm
ô nhiễm nước sông NHK, sông Cầu. Làng nghề là một giải phát phát triển kinh
tế của tỉnh Bắc Ninh, hiện nay các làng nghề đang được khôi phục, phát triển và
mở rộng mang lại nhiều hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển của các làng
nghề đã dẫn tới môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nước thải của các cơ sở
sản xuất không được xử lý nước thải xả thẳng ra sông NHK làm nước sông bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Các làng nghề trên lưu vực sông NHK, sông Cầu bao gồm:
-Làng nghề tái chế sắt Đa Hội;
-Làng nghề đúc nhôm chì Văn Môn;
-Làng nghề chế biến gỗ Đồng Kỵ;
-Làng nghề sản xuất tái chế giấy Phú Lâm;
-Làng nghề sản xuất tái chế giấy Phong Khê;
-Làng nghề nấu rượu xã Tam Đa.
Hiện nay các làng nghề nói trên đang được khôi phục, phát triển, mở rộng
với các quy mô và cấp độ khác nhau nhưng công nghệ sản xuất ít được thay đổi,
chủ yếu vẫn dùng các công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều nhiên liệu đầu vào, sản
xuất phế thải còn nhiều. Bên cạnh đó là quy trình sản xuất không khép kín, hệ
thống xử lý chất thải không được đầu tư, hệ thống tổ chức và quy chế quản lý
17
3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu
Tiến hành lấy mẫu nước, đánh giá diễn biến chất lượng nước theo thời gian
và theo mục đích sử dụng, các mẫu nước được lấy và phân tích làm hai đợt, một
đợt vào mùa khô và một đợt vào mùa mưa.
Quy trình lấy mẫu để phân tích được tiến hành theo hướng dẫn của các tiêu
chuẩn lấy mẫu nước sông, suối TCVN 5996-1995. Quy trình bảo quản lẫu nước
được làm theo hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu TCVN 5993-1995. Các
phương pháp phân tích đều theo TCVN.
*Các điểm lấy mẫu nước đại diện trên sông NHK
Điểm số 1: Cống Long Tửu: Đánh giá chất lượng nước đầu nguồn sông NHK
trước khi chảy vào Bắc Ninh (điểm quan trắc nền).
Điểm số 2-Đa Hội: đánh giá chất lượng nước sông NHK sau điểm thải của
làng nghề sản xuất theo Đa Hội.
Điểm số 3-Trạm Bơm Trịnh Xá: Đánh giá chất lượng nước sông trước khi
cấp vào hai kênh tưới chính của hệ thống Thủy lợi Bắc Đuống.
Điểm số 4-Minh Đức: Đánh giá chất lượng nước sông khu vực làng nghề.
Điểm số 5-Đông Thọ: Đánh giá chất lượng nước sông khu vực làng nghề.
Điểm số 6-Bát Đàn: Đánh giá chất lượng nước sông khu vực làng nghề.
Điểm số 7-Phú Lâm: đánh giá chất lượng nước sông NHK sau điểm thải của
khu công nghiệp Phú Lâm, nơi môi trường nước lưu vực bị tác động rất mạnh
bởi nước thải của các cơ sở sản xuất.
Điểm số 8-Cầu Phú Xuyên: đánh giá chất lượng nước hạ lưu sau khu vực
làng nghề.
Điểm số 9-Đặng Xá (gần trạm bơm Trạm Xá): cửa xả sông NHK trước khi
thải ra sông Cầu.
*Các điểm lấy mẫu trên sông Cầu:
TDS: phương pháp trọng lượng
19
COD: phương pháp KMnO4 và phương pháp K2Cr2O7;
BOD5: phương pháp cấy và pha loãng.
Amoni (NH4+); cất trên máy Kjeldahl-Japan;
Coliform, E.coli: phương pháp nuôi cấy trong môi trường lactoza.
NO2-: phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic
Ca2+: phương pháp chuẩn độ EDTA.
Mg2+: phương pháp chuẩn độ EDTA
SO42-: phương pháp trọng lượng sử dụng BaCl2
Cl-: chuẩn độ AgNO3 chỉ thị Cromat
Fe tổng số: Phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10-phenantrolin.
Các kim loại nặng: phương pháp cực phổ.
5. Các phương pháp đánh giá
Đánh giá chất lượng nước được tiến hành bằng phương pháp đánh giá theo
từng chỉ tiêu phân tích. Chất lượng nước sông được đánh giá theo TCVN 59421995 cột B. Chất lượng nước thải được đánh giá thep TCVN 5945-2005 cột B,
nước thải công nghiệp được phép đổ vào các vực nước dùng cho mục đích giao
thông thủy, tưới tiêu, bơi lội, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt,...
Phương pháp dự báo xu hướng diễn biến chất lượng nước dưới tác động của
các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội trong vùng. Sử dụng các hệ số ô nhiễm
trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. HIỆN TRẠNG NGUỒN XẢ THẢI
Qua điều tra cho thấy sông NHK tiếp nhận nước thải sinh hoạt, nước mưa
chảy tràn, nước thải công ghiệp của các huyện: Từ Sơn, Tiên Sơn, Yên Phong.
Phong
Yên
Nguyên liệu
Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường
Khí thải
Nước thải
Chất thải rắn
Khê- Vỏ dó, giấy Khí thải (CO2, Nước
thải Xỉ than, chất
Phong phế
liệu, SO2, NO2, Cl2, chứa hóa chất, thải sinh hoạt,
21
(tái chế giấy)
nước,
chất
hóa hơi
kiềm, nước thải sinh giấy
(NaOH, bụi,...)
tuần Xỉ
Phong
nước nhôm, rỉ chì,
(đúc liệu
Pb, Cd, As, hoàn,
than,
rỉ
nhôm chí, kim
Zn, CO, CO2, thải sinh hoạt
chất thải rắn
loại phế liệu)
NO2, SO2, O3,
sinh hoạt
Đồng
HC,...
Bụi, hơi HC
mẩu,
nilon,...
Na2CO3)
3.1.1. Làng nghề sản xuất thép Đa Hội
Đa Hội thuộc xã Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh nằm bên bờ bắc sông NHK
dọc theo quốc lộ 1A. Đa Hội là nơi có truyền thống sản xuấ sắt thép, nghề
truyền thoongsnayf có từ cách đây hơn 400 năm và gắn liền với người dân Đa
Hội qua nhiều thế hệ. Đa Hội có tổng diện tích đất tự nhiên là 415ha, trong đó
22
đất thổ cư chiến 195ha, dân số vào khoảng 6.500 người tương ứng với 1.200 hộ
dâ (dân số Châu Khê là 12.534 người tương ứng vơi 2.511 hộ).
Theo số liệu cung cấp từ UBND xã Châu Khê, toàn làng Đa Hội có 850 hộ
sản xuất, trong đó có 150 hộ sản xuất với năng suất trung bình 100 tấn/tháng và
350 hộ sản xuất với năng suất trung bình là 10 tấn/tháng. Sản phẩm của làng
nghề rất đa dạng, phôi đúc: 17.000 tấn/năm, đinh các loại: 1.000 tấn/năm, lưới
dây thép các loại: 8.000 tấn/năm.
Thép phế liệu được thu mua từ Hải Phòng và Thái Nguyên gồm chủ yếu là
vỏ tàu biển và vỏ ô tô. Các phế thải khác như đồ gia dụng bằng sắt thép cũ hỏng,
các chi tiết của máy móc thiết bị cũ hỏng,... được thu mua từ các vùng lân cận và
trong cả nước thông qua mạng lưới những người buôn bán sắt vụn.
Thép phế liệu có kích thước nhỏ được nấu chảy bằng các lò điện rồi được đổ
vào các khuôn bằng gang, sau khi để nguội tự nhiên, tạo ra sản phẩm là các phôi
thép có chiều dài khoảng 1,2m, đường kính 5cm. Thép phế liệu có kích thước
phù hợp và các phôi thép tiếp tục được qua các lò nung, tạo điều kiện cho quá
trình cán được dễ dàng. Tùy theo loại sản phẩm tạo ra các sản phẩm dân dụng
Tính lưu lượng thải
Theo điều tra, hiện nay Đa Hội có 150 hộ sản xuất lớn với năng suất trung
bình 100 tấn/tháng và 350 hộ sản xuất với năng suất trung bình 10 tấn/tháng.
Năng suất của các hộ sản xuất lớn là:
150 hộ * 100 tấn/tháng = 15.000 tấn/tháng
Năng suất của các hộ sản xuất nhỏ:
350 hộ * 10 tấn/tháng = 3.500 tấn/tháng
Năng suất của làng nghề tái chế sắt Đa Hội là:
15.000 tấn/tháng + 3.500 tấn/tháng = 18.500 tấn/tháng
Dựa theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới WHO (bảng 3.2) ta có thể tính
được lưu lượng nước thải của làng nghề Đa Hội:
24
Bảng 3.2. Thải lượng ô nhiễm trong nước thải của một số ngành công nghiệp
Nguồn: A. Economiopoulos, WHO, 1993
Ngành
công
nghiệp
Thuộc da
Đơn vị
Thể tích
sản phẩm
nước thải
635
104
12
Sunfua: 3,35
Phenol: 0,11
-
Phân bón,
Tấn
0,24
10
-
-
-
phan Ure
Phân
Tấn
Phenol: 0,034
Sunfua: 0,054
Lọc
dầu
1000m3
605
72,9
18,2
28,3
-
Cracking
Cr: 0,007
Dầu:?
Phenol: 4,0
Sunfua: 0,94
Lọc
hóa
-
-
Cr: 0,234
-
kim
Luyện
Tấn
12,3
-
29,3
0,27
-
Phenol: 0,01
thép
Xi mạ
Tấn
9,4