Các biện pháp bảo đảm quyền được thông tin của công dân phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng Tập hợp các chuyên đề - Pdf 34

thanh tra chính phủ

viện khoa học thanh tra

Báo cáo tổng kết các chuyên đề
Thuộc đề tài cấp bộ:
các biện pháp đảm bảo quyền đợc thông tin của công
dân phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng

Chủ nhiệm đề tài: ths . đinh văn minh

6942-1
07/8/2008
hà nội - 2007


MỤC LỤC
STT

Tên Chuyên đề

TRANG

1

Quan niệm, ý nghĩa và những nội dung của quyền thông tin
và bảo đảm quyền thông tin

3

2

bảo đảm quyền được thông tin của công dân

74

7

Quyền được thông tin của công dân và việc thực hiện nghĩa
vụ công khai hoạt động của các cơ quan nhà nước hiện nay

87

8

Cơ chế thông tin đi và đến đối với người dân và khả năng
vận dụng cơ chế trong công tác phòng, chống tham nhũng
hiện nay

105

9

Những lĩnh vực cần được ưu tiên đảm bảo thực hiện quyền
được thông tin của công dân góp phần phòng, chống tham
nhũng

114

10

Kinh nghiệm các nước về bảo đảm quyền thông tin của công

14

Vai trò của Internet trong việc nâng cao nhận thức của công
chúng về công tác phòng, chống tham nhũng

190

15

Thực tiễn thực hiện quyền được thông tin của công dân tại
địa phương - những vấn đề đang đặt ra

199

2


Chuyên đề số 1:
QUAN NIỆM, Ý NGHĨA VÀ NHỮNG NỘI DUNG CỦA QUYỀN THÔNG
TIN VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN THÔNG TIN
ThS. Lê Thị Thuý
Nghiên cứu viên, Viện KHTT
Thông tin là nhu cầu thiết yếu trong mọi hoạt động của xã hội kể
từ khi xuất hiện xã hội loài người. Thông tin đã trở thành công cụ quan trọng
để quản lý đất nước. “Một Chính phủ không có thông tin hay không có
phương tiện tiếp cận thông tin là màn dạo đầu cho tấn hài kịch hoặc bi kịch
hay cả hai thứ đó” (James Madison-1981). Thông tin là phương tiện để qua
đó thực hiện sự hợp tác giao lưu giữa các dân tộc, là điều kiện cần thiết để
công dân có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của
pháp luật và cũng là một yếu tố hết sức quan trọng để nhân dân tham gia quản

rằng “chỉ khi nào công dân biết mọi điều và phán xét mọi điều, đồng thời họ
tham gia một cách tự giác vào hoạt động quản lý thì khi đó nhà nước mới có sức
mạnh”.
I/ Quan niệm về quyền được thông tin của công dân và việc bảo đảm
quyền được thông tin của công dân
Quyền tự do thông tin hay quyền được bảo đảm tiếp cận thông tin với tư
cách là một trong những quyền hết sức thiết yếu để bảo đảm công dân có thể
thực hiện các quyền tự do dân chủ khác đang ngày càng được nhìn nhận như là
một trong những biểu hiện của một nền dân chủ. Với việc bảo đảm quyền được
thông tin của người dân, Chính phủ thể hiện sự cởi mở và tính minh bạch trong
hoạt động của mình cũng như nâng cao trách nhiệm giải trình trước công chúng.
Để có một cái nhìn tương đối toàn diện về quyền tự do thông tin, cần thiết
phải khảo sát những quan niệm trong nước và quốc tế từ trước đến nay về vấn
đề này.
Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người ghi nhận: “Mọi người đều có
quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không
phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận,
4


truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và
không giới hạn về biên giới”1.
Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và Chính trị khẳng định: "Mọi
người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm bao gồm quyền tự do tìm kiếm,
tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn
phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác,
không kể biên giới quốc gia... Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì
nhu cầu tôn trọng những quyền tự do, thanh danh của người khác và bảo vệ an
ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý".2
Hiến pháp năm 1992 đã chính thức ghi nhận quyền được thông tin là một

điều này không thể tuỳ thích mà phải coi là nghĩa vụ thể hiện tính chất nhà nước
của dân, do dân, vì dân. Những qui định cụ thể về quyền được thông tin của dân
cần được thể chế hoá”.
Nghị quyết số 04-NQ/TƯ (tháng 8/2006) của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng,
chống tham nhũng, lãng phí và đặt ra yêu cầu: "Nghiên cứu ban hành Luật Bảo
đảm quyền được thông tin của công dân".
Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã cam kết tạo điều kiện để người dân
tiếp cận thông tin từ các cơ quan nhà nước và khẳng định nghĩa vụ công khai,
minh bạch của Nhà nước, thể hiện tại Hiệp định Thương mại Việt nam – Hoa
Kỳ đã được Quốc hội Việt Nam Khoá X phê chuẩn tại kỳ họp thứ 10 ngày
28/11/2001 và kết quả đàm phán gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam đã ký
kết và trong quá trình phê chuẩn đã có những nguyên tắc khá rõ ràng trong
vấn đề này:
1. Mỗi quốc gia thành viên của Công ước, trong khả năng có thể và
phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp nước mình, áp dụng các
biện pháp thích hợp, nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của các cá nhân và
tổ chức…và nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên
nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự đe doạ của tham nhũng... thông
qua các biện pháp như:
(a) Tăng cường tính minh bạch trong các quá trình ra quyết định, thúc
đẩy đóng góp của công chúng vào các quá trình ra quyết định;
(b) Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu
quả;
(c) Tổ chức các hoạt động thông tin cho công chúng góp phần đấu
tranh không khoan nhượng chống tham nhũng, cũng như các chương trình
giáo dục công chúng, bao gồm cả chương trình giảng dạy trong nhà trường
và trường đại học.
6

+ Quyền tìm kiếm thông tin: Công dân chủ động bằng các phương thức
hợp pháp khác nhau để có được thông tin mà họ thấy cần thiết hoặc quan tâm.
Nội dung này đặc biệt liên quan đến quyền đề nghị của công dân đối với các cơ
quan, tổ chức hoặc những ngưòi có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước cung
cấp các thông tin mà họ nắm giữ.
7


+ Quyền phổ biến, chia sẻ thông tin: công dân có quyền truyền đạt, chia
sẻ quan điểm, thông tin mà mình nắm giữ bằng các phương thức hợp pháp
Như vậy có thể thấy việc thực hiện quyền thông tin chủ yếu được thực
hiện thông qua hai con đường:
+ Nhà nước chủ động cho dân chúng biêt thông tin về hoạt động của bộ
máy (Nhà nước là người chủ động còn người dân là người được thụ hưởng
thông tin do Nhà nước mang đến);
+ Hoặc, Nhà nước tạo cơ chế và sẵn lòng đáp ứng khi công chúng có yêu
cầu.
Như vậy trong cả hai trường hợp, trách nhiệm đều thuộc về phía nhà
nước, ngoài việc tạo ra cơ chế để công dân có thể tiếp cận dễ dàng với các
nguồn thông tin, thì việc bảo dảm thực hiện quyền thông tin của công dân còn
thể hiện ở việc nhà nước phát triển hệ thống cung cấp thông tin cho công dân
một cách đa dạng và phù hợp với nhiều đối tượng.
III/ Phạm vi, chuẩn mực và giới hạn quyền được thông tin của công
dân.
Nhìn chung, pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều đưa ra
chuẩn mực cho việc thực hiện quyền thông tin và khả năng tiếp cận thông tin
như: Các thông tin về hoạt động công quyền được tiếp cận phải là các thông tin
chính thức, mục đích sử dụng thông tin không được phương hại đến an ninh
quốc gia, quyền và tự do của người khác; không làm ảnh hưởng đến hoạt động
bình thường của các cơ quan tổ chức hoặc ảnh hưởng đến trật tự công cộng, sức

IV/ Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền thông tin của công dân
Cơ chế công khai thông tin, mà trong đó quyền được tiếp cận thông tin,
không thể tự nó loại trừ tham nhũng mà chúng có thể tạo ra môi trường trong đó
việc tham nhũng sẽ trở nên khó khăn hơn.
Trong các Nguyên tắc về tự do ngôn luận năm 2002 của Uỷ ban Châu Phi
về nhân quyền và dân quyền có đưa ra một nhận định hết sức xác đáng như sau:
“Quyền tiếp cận thông tin được thực hiện bởi các cơ quan công quyền sẽ dẫn
đến sự minh bạch và trách nhiệm giải trình công khai tốt hơn và cũng dẫn đến
sự quản lý tốt và tăng cường tính dân chủ”.
Quan điểm cho rằng quyền tiếp cận thông tin là “oxy của một nền dân
chủ” được rất nhiều người chia sẻ.
9


Thực hiện quyền được thông tin của dân sẽ tạo ra một chính phủ cởi mở
hơn và gần gũi với công chúng. Nó sẽ tạo điều kiện để người dân tham gia vào
quá trình hoạch định chính sách cũng như thực hiện nó trên thực tế, tạo điều
kiện để công chúng giám sát hoạt động công quyền, một yếu tố hết sức quan
trọng để giảm thiểu tham nhũng.
“Loại trừ tận gốc tham nhũng và tính hiệu quả là những mục đích
chính của công khai và minh bạch trong Chính phủ. Tiếp cân thông tin làm
cho Chính phủ cởi mở hơn và làm cho các cán bộ nắm giữ quyền lực trở nên
có trách nhiệm hơn nhân dân…tiếp cận thông tin đặc biệt quan trọng với
kiềm chế tham nhũng cũng như kiểm soát được hành vi chuyên quyền. Với
cách hiểu rộng hơn này, đối với công dân, tiếp cận thông tin sẽ là cánh cửa
then chốt đưa họ tham gia vào một nền quản trị dân chủ, ở đó họ không chỉ
được đặt câu hỏi mà ý kiến của họ còn được lắng nghe. Người dân được trao
quyền và được tham gia, khi ấy họ thức tham gia vào những quyết định ảnh
hưởng trực tiếp đến cuộc sống cũng như họ có khả năng mưu sinh”. (Nikhil
Dey, Mazdoor Kisai Shakthi Sanghatan)

Quản lý nhà nước là lĩnh vực rất rộng, liên quan đến hoạt động nội bộ của
các cơ quan nhà nước và liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các yêu cầu cụ
thể của công dân.
Trong quan hệ nội bộ, nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chủ động công
khai, minh bạch hoạt động của mình theo các hình thức đã được quy định. Nhiều
cơ quan còn công khai các nội dung thông tin đó trên phương tiện thông tin đại
chúng và trang thông tin điện tử để cán bộ, công chức, nhân dân có thể giám sát.
Trong giải quyết công việc của công dân, các thủ tục hành chính, phí, lệ phí
đã được niêm yết công khai tại nhiều trụ sở của cơ quan nhà nước, đặc biệt là
việc thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính ở địa phương đã tạo
thuận lợi cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia giao dịch với Nhà
nước. Nhiều cơ quan cũng chủ động công bố công khai thủ tục hành chính, phí
và lệ phí trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trang thông tin điện tử.
11


Qua 3 năm thực hiện cơ chế "một cửa", cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở
địa phương đã giải quyết cơ bản những yêu cầu của dân và doanh nghiệp trong
các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, các quyết định về đầu tư, các lĩnh
vực về đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, chính sách xã hội v.v…Thời gian giải quyết
được rút ngắn, chất lượng và giải quyết công việc được nâng lên, người dân chỉ
cần đến một nơi, với thời gian nhất định để được giải quyết công việc đúng
nguyện vọng, không phải đi lại nhiều lần4.
Ở cơ sở, hoạt động chính quyền được công khai thông qua việc thực hiện
các quy định về dân chủ theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã được ban hành
theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (sau đó là Nghị định số
79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 Chính phủ) và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn năm 2007. Thực hiện các quy định này, chính quyền cơ sở
cũng công khai nhiều nội dung để nhân dân biết, nhân dân bàn, nhân dân quyết

nghĩa vụ công khai, minh bạch của các cơ quan nhà nước theo yêu cầu của công
dân. Cụ thể là, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
các cơ quan báo chí và có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung
cấp thông tin về hoạt động của cơ quan nhà nước mình. Cán bộ, công chức, viên
chức và người lao động khác có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan nhà
nước nơi mình làm việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan nhà nước
đó. Công dân có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
nơi mình cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn đó.7 Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu cung
cấp thông tin có căn cứ cho rằng việc cung cấp thông tin là chưa đầy đủ hoặc
trái pháp luật thì có quyền khiếu nại, việc khiếu nại được thực hiện theo quy
định của pháp luật về khiếu nại. Người được yêu cầu cung cấp thông tin mà
không thực hiện đúng nghĩa vụ về cung cấp thông tin thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật8.
Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế:

5

Điều 8 Luật Báo chí năm 1989
Điều 8 Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành
Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
7
Điều 31, điều 32 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005
8
Điều 11 Nghị định 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật
phòng, chống tham nhũng
6

13

cách khác, Nhà nước cần tạo ra một khuôn khổ pháp lý để người dân được
14


bảo đảm về quyền thông tin đồng thời sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu về
phương diện tài chính và kỹ thuật để phục vụ cho việc vận hành cơ chế đó
trên thực tế.
Một là, xây dựng một hệ thống các qui định đến việc bảo đảm quyền thông
tin của công dân theo hai hướng:
Qui định trách nhiệm và phương thức thực hiện trách nhiệm của các cơ
quan tổ chức đơn vị trong việc chủ động mang thông tin đến với công dân;
Qui định quyền của công dân và trình tự thủ tục cho phép công dân tiếp cận
với các thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức đơn vị;
Hai là, tạo ra cơ chế, điều kiện thuận lợi để cung cấp thông tin cho công
dân; thậm chí có là một thể chế giúp đỡ công dân trong viêc tìm kiếm tiếp cận
các thông tin trong hoạt động công quyền mỗi khi họ gặp khó khăn; có thể thông
qua vai trò của các tổ chức đoàn thể mà công dân là thành viên để thực hiện
quyền được tiếp cận thông tin, trong đó bao gồm cả việc khiếu nại khi quyền
này bị cản trở thực hiện.
- Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc
chuyển tải đến với người dân;
+ Thông tin rộng rãi về hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị;
+ Yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin và trả lời các vấn đề mà
công dân đặt ra trên các phương tiện thông tin đại chúng;
+ Là diễn đàn để nhân dân phổ biến, chia sẻ thông tin.
- Xây dựng một hệ thống cung cấp thông tin cho công dân phù hợp với nhu
cầu và đặc điểm của nhóm đối tượng theo ngành nghề, vùng miền, đặc điểm giới
tính, lĩnh vực công tác, xây dựng tủ sách pháp luật xã phường;
- Thực hiện chương trình tuyên truyền phổ biến và giáo dục pháp luật một
cách thường xuyên và sâu rộng (hiện nay các địa phương đều có Hội đồng tuyên

Hiện nay, trên thế giới, quyền được thông tin của công dân còn được gọi
với một số tên gọi khác như: quyền được biết của công chúng (public's right to
know), hay quyền tiếp cận thông tin (the right to access to information), quyền
tự do thông tin. Các công ước quốc tế và pháp luật của đa số các quốc gia đều
thừa nhận đây là quyền con người cần phải được Nhà nước bảo vệ.
Nghiên cứu dưới góc độ lịch sử, khái niệm quyền tiếp cận thông tin
được quy định lần đầu tiên trong pháp luật của Thuỵ Điển vào năm 1766 tại Đạo
luật về tự do báo chí. Về sau, Luật này được sửa đổi để hoàn thiện hơn. Điều 1
Chương 2 Luật tự do báo chí của Thuỵ Điển (số 1945:105) quy định: “Nhằm
khuyến khích việc tự do trao đổi ý kiến và việc công khai toàn diện thông tin, tất
17


cả công dân Thuỵ Điển đều có quyền tiếp cận tự do đối với các tài liệu chính
thức”. Đây là những biểu hiện cụ thể của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền
được thông tin của công dân.
Nếu so sánh với các quyền con người khác thì quyền tiếp cận thông tin
của công dân xuất hiện từ rất sớm, tuy nhiên, thời gian đầu kể từ khi xuất hiện
nó mới chỉ được ghi nhận trong phạm vi quốc gia.
Quyền được thông tin của công dân được nhận thức và nhìn nhận trên
phạm vi quốc tế chỉ từ sau khi Liên Hợp quốc thông qua bản Tuyên ngôn Thế
giới về Quyền con người (năm 1948). Điều 19 Tuyên ngôn Thế giới về Quyền
con người quy định: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan
điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của
mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi
phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia”.
Năm 1966 Liên Hợp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các Quyền
dân sự và chính trị. Ðiều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và Chính trị
của Liên Hợp Quốc quy định:
“1. Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can

tại Tokyo Nhật Bản, Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công
chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi
trường ngày 25/6/1998, Công ước Nhân quyền Châu Âu (ECHR), Công ước
Nhân quyền Châu Mỹ (ACHR)... cũng có nhiều quy định về quyền được tiếp
cận thông tin của công chúng.
Ở cấp độ quốc gia, mặc dù có sự khác nhau về thể chế, chính trị, trình độ
phát triển kinh tế, văn hoá... nhưng pháp luật của các quốc gia đều quy định về
việc tiếp cận thông tin của công dân.
Xét một cách chung nhất, quyền được tiếp cận thông tin của công chúng
là quyền con người được Nhà nước bảo đảm thông qua việc công khai, minh
bạch hoạt động của cơ quan công quyền và Nhà nước thiết lập các điều kiện cần
thiết để công chúng được tiếp cận các thông tin đó.
19


Từ các quy định về quyền tiếp cận thông tin trong các điều ước quốc tế
và khu vực cũng như pháp luật của nhiều quốc gia cho thấy quyền được thông
tin của công dân bao hàm 3 quyền: Quyền tự do tìm kiếm thông tin; quyền tự do
tiếp nhận thông tin; quyền tự do phổ biến, chia sẻ thông tin.
Quyền tự do tìm kiếm thông tin, bản thân tên gọi của quyền này cũng thể
hiện tính chủ động của mỗi cá nhân. Công dân có quyền được tìm kiếm các
thông tin mà mình quan tâm, bất kể đó là thông tin thuộc lĩnh vực chính trị, kinh
tế hay văn hoá xã hội. Quyền tự do tìm kiếm thông tin của công dân được thể
hiện thông qua việc cá nhân tìm kiếm các thông tin mà mình quan tâm thông qua
hệ thống phương tiện truyền thông mà còn thể hiện thông qua việc gửi yêu cầu
đề nghị các cơ quan Nhà nước cung cấp.
Quyền tự do tiếp nhận thông tin là việc công dân được tiếp nhận thông
tin từ các phương tiện truyền thông khác nhau như báo chí, internet, phương tiện
truyền thông cơ sở... Gắn với nó là trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo lập
hành lang để các kênh thông tin này hoạt động có hiệu quả.

Tuy nhiên, cùng với quyền làm chủ của mình, con người còn có các
quyền khác mà bất kỳ nhà nước dân chủ nào cũng không thể tước đoạt. Cùng
với quyền được sống, quyền được an toàn, quyền không bị bắt, giam giữ hay lưu
đày một cách tuỳ tiện .... và các quyền tự do như: tự do báo chí, tự do ngôn luận,
tự do hội họp, quyền tự do đi lại, tự do cư trú. Trong hệ thống các quyền này,
quyền được thông tin của công dân cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đứng
vai trò trung tâm nhờ đó mà công dân có thể thực hiện các quyền trên. Chẳng
hạn, quyền tự do ý chí, tự do bày tỏ quan điểm của công dân chỉ có thể được
thực hiện một cách có hiệu quả khi công dân có được thông tin trước khi đưa ra
quyết định hay quan điểm mang tính chất cá nhân của mình. Gắn bó chặt chẽ với
quyền tự do thông tin, người ta thường đề cập đến quyền “tự do báo chí” và “tự
do ngôn luận”, “tự do bày tỏ quan điểm”. Các quyền này có quan hệ rất gần
nhau, trong nhiều trường hợp nó còn nằm trong nhau.
Ví dụ, Luật Báo chí của Việt Nam ghi rõ hai điều rất quan trọng là Điều
4 về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và
Điều 5 về trách nhiệm của báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do
21


ngôn luận trên báo chí của công dân. Các quy định này đều đề cập đến khía cạnh
đảm bảo quyền được thông tin của công dân trong việc bảo đảm các quyền tự do
báo chí và tự do ngôn luận.
Như vậy, xem xét mối quan hệ giữa quyền được thông tin của công dân
và các quyền con người khác, việc bảo đảm cho công dân có quyền được thông
tin chính là cơ sở, thể hiện bản chất nhà nước thực sự dân chủ và khát vọng tự
do hay không. Với tầm quan trọng đó, việc khẳng định quyền được thông tin của
công dân với tư cách là một quyền độc lập là có ý nghĩa vô cùng cần thiết.
Từ quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước khi
đề cập đến quyền được thông tin của công dân cho thấy, để bảo đảm quyền được
thông tin của công dân, cần có các điều kiện sau:

đã bầu ra, quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh
quốc gia, Điều thứ 10 Hiến pháp 1945 đã ghi rõ: “Công dân Việt Nam có quyền:
Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản”.
- Hiến pháp 1959 tiếp tục được xây dựng trên nền tảng chế độ dân chủ. Các
quyền con người tiếp tục được Nhà nước bảo đảm và được mở rộng hơn. Điều 4
quy định: Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dâm chủ cộng hoà đều thuộc
về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thống qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực
hành nguyên tắc tập trung dân chủ.
Cơ chế tiếp nhận ý kiến góp ý, một phương thức thể hiện quyền phổ biến,
chia sẻ thông tin trong việc thực hiện quyền thông tin của công dân được hình
thành rõ nét hơn. Điều 6 quy định: “Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa
vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm
soát của nhân dân.
Cùng với quyền dân chủ, công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có
các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Điều 25 quy
định: “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được
hưởng các quyền đó”.
23


Cơ chế bảo đảm người dân được thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà
nước cũng được quy định thành điều khoản riêng. Điều 49 quy định: “Các đạo
luật phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày sau khi Quốc hội đã thông
qua”.
- Hiến pháp 1980 ra đời trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ bao
cấp, về cơ bản, các quy định về quyền dân chủ, quyền tự do báo chí, tự do ngôn
luận và các cơ chế đảm bảo cho người dân có quyền được thông tin vẫn được kế
thừa từ Hiến pháp năm 1959.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status