1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung dân cư đông đúc, nơi diễn ra các
hoạt động kinh tế, chính trị, vui chơi, giải trí, giao thông lớn nhất nước. Và với tốc
độ gia tăng của số lượng phương tiện cá nhân quá nhanh như ở thành phố Hồ Chí
Minh đã tạo cho giao thông đô thị hiện nay của thành phố rất nhiều sức ép, vấn nạn
ùn tắc giao thông đã, đang và ngày càng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát
triển kinh tế - xã hội cũng như đời sống hàng ngày của người dân thành phố.
Để giải quyết vấn đề này thì phát triển vận tải hành khách công cộng bằng
xe buýt là giải pháp tối ưu nhất trong thời điểm hiện nay. Vận tải hành khách công
cộng là phương thức phổ biến nhất hiện nay, với tính cơ động cao, hình thức vận
tải này có mặt ở khắp mọi nơi và ở mọi thời điểm, nhờ vậy mà vận tải hành khách
công cộng có thể đảm nhiệm được nhu cầu của hành khách. Nhu cầu ngày càng
cao, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ngày
càng nhiều. Trên các tuyến xe buýt của doanh nghiệp vận tải luôn nâng cao chất
lượng dịch vụ của mình cả về chất và lượng mà vẫn đem lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp, đây là bài toán khó đặt ra cho các doanh nghiệp vận tải.
Để đạt được những yêu cầu trên thì cần phải có những biện pháp tổ chức
quản lý vận tải hợp lý. Việc tổ chức quản lý vận tải hành khách công cộng bằng xe
buýt sẽ giúp cho quá trình hoạt động của các xe buýt trên tuyến nói riêng và tình
hình hoạt động của các tuyến xe buýt trên toàn mạng lưới nói chung sẽ được ổn
định, đảm bảo số chuyến hoạt động đúng theo biểu đồ giờ để phục vụ hành khách,
đồng thời giám sát được kinh phí trợ giá cho các chuyến xe buýt không bị thất
thoát.
Tổ chức và quản lý vận tải hành khách công cộng tốt mang đến cho giao
thông đô thị một bộ mặt mới văn minh hơn, bền vững hơn, thu hút được mọi hành
khách, góp phần giảm ách tắt giao thông như hiện nay.
3
08 Bến xe Quận 8 – Đại học Quốc Gia, các thành phần tham gia công tác quản lý
điều hành xe buýt tại Hợp tác xã vận tải xe buýt Quyết Thắng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những cơ sở lý luận về công tác tổ chức vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt, kết hợp các phương pháp khảo sát, điều tra, và phân tích thực tế để làm
sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương với nội dung
như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tổ chức và quản lý vận tải hành khách công
cộng bằng xe buýt.
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác tổ chức và quản lý vận tải trên tuyến buýt
số 08 (Bến xe Quận 8 – Đại học Quốc Gia) của Hợp tác xã vận tải xe buýt Quyết
Thắng.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt trên tuyến số 08 (Bến xe Quận 8 – Đại học Quốc Gia).
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ VTHKCC
BẰNG XE BUÝT
1.1 Tổng quan về VTHKCC bằng xe buýt
1.1.1 Vai trò và đặc điểm của VTHKCC
1.1.1.1 Khái niệm về VTHKCC
Để có một cái nhìn rõ nét về vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) trước
thể tách rời trong hệ thống giao thông vận tải đô thị và nó có mối quan hệ qua lại
mật thiết với các bộ phận cấu thành khác.
6
VTHKCC là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải đô thị. Hiện nay có
nhiều khái niệm khác nhau về VTHKCC nhưng có 2 khái niệm được dùng phổ biến
là:
+ Theo tính chất xã hội của đối tượng phục vụ thì VTHKCC là loại hình vận
tải phục vụ chung cho xã hội mang tính công cộng trong đô thị, bất luận nhu cầu đi
lại thuộc nhu cầu gì (nhu cầu thường xuyên, nhu cầu ổn định, nhu cầu phục vụ cao
….).Với quan niệm này thì VTHKCC bao gồm cả vận tải hệ thống vận tải Taxi, xe
lam, xe ôm….
+ Theo tính chất phục vụ của vận tải (không theo đối tượng phục vụ) thì
VTHKCC là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu
cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian
xác định, theo tuyến và hướng ổn định trong từng thời kì nhất định ..
Tóm lại, VTHKCC là các loại hình vận tải có thu tiền cước theo giá quy định,
hoạt động trên hành trình và theo biểu đồ giờ quy định nhằm phục vụ nhu cầu đi lại
của nhân dân trong thành phố và các vùng kế cận.
1.1.1.2 Vai trò của VTHKCC
VTHKCC góp phần tiết kiệm chi phí chung cho toàn xã hội: chi phí mua sắm
phương tiện cá nhân, tiết kiệm quỹ đất của thành phố, tiết kiệm chi phí xây dựng
mở rộng, cải tạo mạng lưới đường xá trong thành phố và tiết kiệm được số liệu
xăng dầu tiêu thụ cho đi lại trong khi nguồn năng lượng có hạn.
Vận tải hành khách công cộng đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân trong
thành phố bởi vì nhu cầu đi lại ngày càng tăng lên do dân số tăng nhanh và đời sống
được nâng cao.
VTHKCC là biện pháp hữu hiệu để giảm mật độ phương tiện giao thông trên
thẩm mỹ, hình thức bên ngoài, màu sắc, cách bố trí các thiết bị trong xe giúp hành
khách dễ nhận biết và tạo tâm lý thiện cảm về tính hiện đại, chuyên nghiệp của
phương tiện.
8
Thời gian hoạt động của VTHKCC bằng xe buýt chủ yếu vào ban ngày do phục
vụ nhu cầu đi của hành khách chủ yếu là đi làm việc, mua sắm, học hành và buôn
bán.
Với nhu cầu sử dụng VTHKCC rất cao, phương tiện phải chạy với tần suất lớn,
một mặt đảm bảo độ chính xác về thời gian và không gian, mặt khác phải đảm bảo
chất lượng phục vụ hành khách, giữ gìn trật tự an toàn giao thông đô thị. Bởi vậy để
quản lý và điều hành hệ thống VTHKCC đòi hỏi phải có hệ thống trang thiết bị
đồng bộ và hiện đại.
Do cự ly ngắn, phương tiện dừng tại nhiều điểm, tốc độ thấp nên năng suất vận
tải thấp, dẫn đến giá thành vận chuyển cao. Vì vậy, giá vé do nhà nước quy định và
giá vé này thường thấp hơn giá thành để có thể cạnh tranh với các loại phương tiện
vận tải cá nhân đồng thời phù hợp với thu nhập bình quân của người dân. Điều này
dẫn đến hiệu quả tài chính trực tiếp của các nhà đầu tư vào VTHKCC thấp, vì vậy
không hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân. Bởi vậy Nhà nước thường có chính sách trợ
giá cho VTHKCC bằng xe buýt ở các thành phố lớn.
1.1.2 Khái niệm và phân loại tuyến VTHKCC
1.1.2.1 Khái niệm tuyến VTHKCC
Tuyến VTHKCC là đường đi của phương tiện để thực hiện chức năng vận
chuyển xác định. Tuyến VTHKCC là một phần của mạng lưới giao thông của thành
phố được trang bị các cơ sở vật chất chuyên dụng như: nhà chờ, biển báo ….để tổ
chức hành trình vận chuyển bằng phương tiện VTHKCC, thực hiện chức năng vận
chuyển hành khách trong thành phố đến các vùng ngoại vi và các trung tâm đô thị
vệ tinh nằm trong quy hoạch tổng thể của thành phố.
cung, gấp khúc, gấp khúc kết hợp với cung. Thực chất loại này gồm các tuyến đơn
ghép lại với nhau.
+ Tuyến khép kín một phần: Thực chất là tuyến tạo bởi đường vòng khép kín và
tuyến đơn độc lập.
10
+ Tuyến khép kín số 8: tạo bởi hai đường vòng khép kín.
Tùy theo vùng thu hút, hệ thống giao thông yêu cầu mà người ta lựa chọn dạng
tuyến này hay tuyến khác với mục đích đảm bảo cự ly ngắn nhất, số lần chuyển tải
ngắn nhất.
- Hướng tuyến:
+ Tuyến hướng tâm: Tuyến VTHKCC hướng tâm là tuyến xuất phát từ ngoại vi
trung tâm thành phố (nội hoặc ngoại thành) đi vào trung tâm thành phố và kết thúc
(điểm cuối) ở trung tâm thành phố (tuyến h trên hình 1.2).
+ Tuyến xuyên tâm: Tuyến VTHKCC đô thị xuyên tâm là tuyến xuất phát từ
nội, ngoại vi thành phố, đi qua trung tâm thành phố và có thể kéo dài ra khu vực
ngoại thành hoặc kế cận (tuyến X1, X2 trên hình 1.2).
+ Tuyến tiếp tuyến: Là tuyến có hướng đi ngang qua khu vực trung tâm thành
phố. Tuyến này được lập trong trường hợp dòng hành khách khá lớn xuất hiện ở
khu vực trung tâm. Thông thường thành phố có dân số từ 25 vạn mới có khả năng
tạo thành loại tuyến này trừ trường hợp thành phố có dân số thấp hơn nhưng sự
phân bố dân cư đòi hỏi phải có tuyến tiếp tuyến (tuyến T trên hình 1.2).
+ Tuyến vành đai thành phố: Tuyến VTHKCC vành đai thành phố là tuyến
vòng tròn khép kín hoặc được hình thành tại khu vực ngoại vi thành phố hoặc cách
xa trung tâm ở cự ly cần thiết theo nhu cầu đi lại thực tế của thành phố và khu vực
(tuyến V trên hình 1.2).
+ Tuyến phụ: Tuyến phụ trong mạng lưới VTHKCC là tuyến vận chuyển hành
khách từ những khu vực dân cư nhỏ đến những tuyến chính của thành phố cách xa
liên hiệp Anh, cũng như ở Berlin, Stockholm, Paris, Vienna. Đây là loại xe buýt 2
tầng, có từ 1 đến 2 cầu thang. Thường chiều cao từ 4÷4,5 m, chiều dài từ 9÷12 m.
Xe buýt điện (trolley bus). Sức chứa của xe buýt điện nhiều hơn xe buýt và có
thể nâng cao sức chứa bằng cách kéo thêm rơmooc.
1.1.3.3 Yêu cầu kĩ thuật đối với phương tiện vận tải
Về kích thước: Tuân theo các qui định chung về kích thước của phương tiện
vận tải đường bộ.
Chiều dài < 18.0m.
Chiều rộng < 2.5m.
Chiều cao < 3.8m.
Sức chứa: Sức chứa của xe buýt liên quan đến kích thước và được xác định theo
3 yếu tố: diện tích hữu ích của sàn xe, định mức diện tích hữu ích cho 1 hành khách,
cách bố trí chỗ ngồi .
Định mức diện tích hữu ích của sàn xe:
Chỗ ngồi: 0.315 m2/chỗ ngồi
Chỗ đứng: 0.2 m2/chỗ đứng
Giờ cao điểm cho phép 0.125 m2/chỗ
Tính kinh tế nhiên liệu: Tính kinh tế nhiên liệu phụ thuộc vào kết cấu của động
cơ, trọng tải xe … chi phí nhiên liệu của động cơ điêzen ít hơn so với động cơ xăng.
Yêu cầu đối với động cơ xăng, diesel cho 100 km quãng đường: Loại xe buýt
nhỏ: 30 lít, loại xe buýt trung bình: 40 lít, loại xe buýt lớn : 45 lít.
Các chỉ tiêu khác:
13
- Bố trí ghế ngồi, bố trí cửa lên xuống
9.210
11.210
11.990
1.395
2.035
2.300
2.500
2.500
2.060
2.640
3.075
3.330
4.185
790
4.262
Toàn bộ
*Sức chứa (đứng+ngồi)
chỗ
12
17 + 23
26 + 29
36 + 44 12 + 77
(Nguồn: P.Kế hoạch điều hành Trung tâm)
1.1.4 Cơ sở hạ tầng VTHKCC bằng xe buýt
1.1.4.1 Khái niệm
Cơ sở hạ tầng cho hoạt động xe buýt là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, công
trình phục vụ cho việc vận chuyển hành khách bằng xe buýt.
1.1.4.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho VTHKCC
- Các trạm dừng đỗ dọc đường:
14
Khái niệm: Trạm dừng đỗ là nơi để hành khách đón xe, xuống xe và là nơi xe
buýt dừng để đón trả khách.
Yêu cầu:
+ Điểm đỗ phải ở gần điểm thu hút hành khách.
+ Phải đảm bảo các chỉ tiêu khai thác kỹ thuật phương tiện để vừa đảm bảo chỉ
tiêu khai thác kỹ thuật của phương tiện, vừa đảm bảo phục vụ hành khách.
Tiêu chuẩn:
lớn thường có những gara có công suất từ 180- 250 xe buýt. Hầu hết các gara lớn có
một khu vực để chứa xe buýt, được xây dựng với dịch vụ BDSC và thiết bị rửa xe
cũng như văn phòng quản lý và điều hành. Một gara nhỏ chỉ có các dịch vụ và thiết
bị rửa xe.
- Đường cho xe buýt: Bề rộng của làn đường vận hành xe buýt tiêu chuẩn
thường từ 3 - 3.7 m. Vận hành xe buýt trong trong điều kiện làn đường hẹp hơn 3m
là có thể tuy nhiên khi đó vận tốc giảm và độ an toàn thấp.
Đường một làn có độ rộng từ 3- 3.75 m.
Đường hai làn đảm bảo vận hành xe buýt với vận tốc bình thường nên có độ
rộng từ 6.10- 7.5 m (cho cả hai chiều).
Để xe buýt vận hành với vận tốc 70 km/h trở lên xe buýt cần vận hành trong làn
đường dành riêng trong dải phân cách cứng, với bề rộng 5.5 m/ làn và lề đường ở
mỗi bên.
- Mạng lưới tuyến VTHKCC: Mạng lưới tuyến VTHKCC bằng xe buýt là tập
hợp các tuyến VTHKCC bằng xe buýt được quy hoạch và thiết kế sao cho đảm bảo
tính thống nhất, liên thông giữa các tuyến nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu đi lại của
người dân và phù hợp với mạng lưới giao thông nơi tuyến buýt đi qua.
Các dạng mạng lưới tuyến:
16
Hình 1.3: Các dạng mạng lưới tuyến
- Dạng 1: Được tạo bởi các tuyến đường vòng và các tuyến hướng tâm, loại
mạng lưới này có ưu điểm là tránh được tình trạng tập trung hành khách lớn ở khu
vực trung tâm thành phố. Nhưng cũng có nhược điểm là luồng hành khách ngoại
thành muốn đi ra ngoài thành phố thì phải chuyển tuyến.
- Dạng 2: Được tạo bởi các tuyến đường vòng và tuyến đơn xuyên tâm. Dạng
này có ưu điểm là hành khách đi ngang qua thành phố không phải chuyển tuyến,
đồng thời phục vụ luôn cả hành khách nội thành. Nhược điểm của loại này là tập
tính các chỉ tiêu dựa trên ý chí chủ quan của nhà quản lý sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu
quả khai thác, thậm chí làm giảm khả năng phục vụ và tính hấp dẫn của dịch vụ.
- Ở các thành phố có hệ thống giao thông đô thị phát triển, công tác điều
chỉnh các chỉ tiêu khai thác kế hoạch trên tuyến, điều chỉnh lộ trình tuyến và lựa
chọn loại phương tiện phù hợp trên từng tuyến vận tải hành khách công cộng được
tiến hành định kỳ hàng năm trên cơ sở các số liệu thống kê và khảo sát thực tế khai
thác trên tuyến.
18
- Công tác thống kê các chỉ tiêu khai thác hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào
báo cáo của các đơn vị khai thác trên tuyến. Các đơn vị này, đặc biệt là các hợp tác
xã chưa quan tâm và đầu tư đúng mức cho công tác thống kê nên tính chính xác của
các số liệu thống kê không cao.
- Do đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển mạng lưới, mạng lưới
tuyến xe buýt hiện nay phần lớn dựa trên lộ trình của các tuyến xe buýt được hình
thành một cách tự phát do lựa chọn của các đơn vị khai thác xe buýt trong những
ngày đầu phát triển mạng lưới. Gần đây mạng lưới tuyến đã bắt đầu để lộ những
hạn chế trong tổ chức khai thác như: lộ trình một số tuyến chưa thực sự phù hợp với
nhu cầu đi lại của hành khách, một số tuyến có lộ trình quá dài, hoặc lộ trình trùng
lặp nhau, giữa các tuyến thiếu sự phối kết hợp với nhau trong khai thác. Đã đến lúc
chúng ta phải có sự điều chỉnh lại lộ trình các tuyến cho phù hợp hơn. Việc điều
chỉnh này có ảnh hưởng rất lớn đến việc đi lại của người dân và hiệu quả khai thác
của toàn mạng lưới nên không thể tiến hành trên “bàn giấy” mà phải tiến hành trên
cơ sở thực tế thông qua quá trình điều tra khảo sát.
- Một số các chỉ tiêu khai thác quan trọng chỉ có thể thu thập được từ điều tra
thực tế vì chúng thường xuyên biến động.
b) Nội dung điều tra khảo sát
- Khảo sát sự biến động hành khách trên xe buýt:
hành khách trên tuyến);
+ Mật độ đi lại của hành khách trong ngày, trong tuần;
+ Các ý kiến phản ánh của hành khách về dịch vụ vận tải và phản ứng của
hành khách đối với những thay đổi về chỉ tiêu khai thác trên tuyến.
c) Qui mô và phương thức điều tra khảo sát
- Đối với khảo sát sự biến động hành khách trên xe buýt:
20
+ Căn cứ vào biểu đồ giờ hoạt động của tuyến, chọn khảo sát một số chuyến
trong ngày theo tỷ lệ cao điểm, thấp điểm.
+ Tiến hành khảo sát 07 ngày trong tuần để lấy số liệu về quy luật đi lại của
hành khách.
+ Đếm lượng hành khách lên và xuống xe buýt tại điểm đầu, cuối tuyến và
các trạm đón, trả khách trên dọc lộ trình tuyến đi qua.
+ Thống kê tình hình sử dụng các loại vé (cơ cấu hành khách): vé lượt, vé
tập, vé tháng và đối lượng miễn vé.
+ Trên cơ sở số liệu bốc mẫu trong 07 ngày khảo sát, khái quát hoá thành số
liệu sản lượng của tuyến trên cơ sở số chuyến thực hiện.
(Mẫu khảo sát hành khách đính kèm phụ lục 1a, 1b)
- Đối với phỏng vấn hành khách trên xe buýt:
Đi trên xe buýt, đặt câu hỏi và ghi nhận ý kiến của hành khách qua phiếu
phỏng vấn.
(Mẫu phỏng vấn hành khách đính kèm phụ lục 2)
1.2.1.2 Công tác lập hành trình vận chuyển
Hành trình vận chuyển là đường đi của phương tiện từ điểm đầu đến điểm cuối
nhằm hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển được giao theo các chỉ tiêu đã cho trước.
Công tác lập hành trình vận chuyển là công tác lập đường đi của phương tiện để
rộng làn đường, làn đường dành riêng cho xe buýt, điểm dừng, điểm đầu, điểm
cuối…
Khoảng cách các điểm dừng trong thành phố: 300 – 600m, ngoại ô: 600 –
800m, ngoại thành: 1200 – 1500m.
22
Các điểm đầu cuối phải có đủ điều kiện, ít nhất là về diện tích và thiết bị quay
trở đầu xe không làm ảnh hưởng đến sự lưu thông của các phương tiện khác trên
đường và thuận tiện cho lái xe khi hoạt động.
Thông tin tại các điểm đầu, điểm cuối, các điểm dừng trên xe phải chính xác,
đầy đủ, kịp thời.
Có khả năng kéo dài hành trình trong tương lai.
1.2.1.3 Lựa chọn bố trí phương tiện vào hành trình
Mục đích của việc lựa chọn phương tiện là mang lại hiệu quả cho việc sử dụng
phương tiện một cách cao nhất. Hiệu quả sử dụng phương tiện là khả năng thực
hiện vận chuyển trong điều kiện khai thác xác định và với hao phí là nhỏ nhất. Hiệu
quả sử dụng phương tiện phụ thuộc vào sự hoàn thiện về mặt kết cấu hay chất lượng
khai thác phương tiện.
Việc lựa chọn phương tiện dựa trên các căn cứ sau:
Các quy định, tiêu chuẩn chung đối với loại phương tiện cần lựa chọn đó là các
quy định, tiêu chuẩn, công văn... liên quan đến phương tiện.
Các loại xe hiện có trên thị trường.
Điều kiện khai thác phương tiện: đây là yếu tố rất quan trọng trong công tác lựa
chọn phương tiện. Khi tiến hành lựa chọn phương tiện thì bao giờ người lựa chọn
cũng phải xem xét điều kiện đường sá mà phương tiện sẽ hoạt động để từ đó định
hình loại phương tiện cần lựa chọn.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng và khai thác phương tiện như : năng
suất phương tiện, giá thành sản phẩm, lợi nhuận ...
Từ 6000 đến 10000
60
3
Từ 10000 đến 16000
80 – 85
4
Trên 16000
150 – 160
Nguồn: [5]
Lựa chọn phương tiện
Mục đích của việc lựa chọn phương tiện: để tận dụng tối đa năng suất phương
tiện, giảm chi phí khai thác, nâng cao năng suất, giảm giá thành vận tải và tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
Có rất nhiều phương pháp lựa chọn xe, mỗi phương pháp đều có ưu, nhược
điểm khác nhau. Áp dụng phương pháp nào còn tuỳ thuộc vào mỗi doanh nghiệp
với mục đích chủ yếu là phục vụ VTHKCC trong thành phố do vậy doanh nghiệp
lựa chọn chi tiết phương tiện theo chỉ tiêu năng suất để tận dụng tối đa sức chứa của
phương tiện do VTHKCC sức chứa của phương tiện chủ yếu là số chỗ (gồm chỗ
ngồi + chỗ đứng).
Bảng 1.3: Sức chứa của xe buýt.
Loại xe buýt
-
Loại nhỏ
6÷7
35÷40
18÷20
32÷35
20÷25
Loại trung bình
8÷9.5
50÷60
20÷25
45÷50
25÷26
Loại lớn
10÷12
ghi rõ trong biểu đồ chạy xe và bến (hoặc điểm dừng) để hành khách biết. Hình
thức chạy xe nhanh chỉ đón được hành khách ở một số điểm dừng theo quy định
làm tăng thời gian chờ đợi của hành khách tại các điểm không đón trả khách. Hình
thức chạy xe nhanh phù hợp với vận chuyển hành khách trong giờ cao điểm tại các
tuyến có khối lượng hành khách lớn tại một số điểm.
- Hình thức chạy xe tốc hành: Là chuyến xe chỉ đón, trả khách tại điểm đầu,
điểm cuối còn các điểm còn lại trên hành trình xe không dừng lại. Những chuyến
này cần được ghi rõ ở bến đầu, bến cuối, số hiệu riêng để hành khách biết. Hình
thức chạy xe tốc hành chỉ áp dụng cho các tuyến vào khoảng thời gian có khối
25
lượng hành khách đi từ điểm đầu đến điểm cuối của hành trình. VD: các tuyến xe
buýt nối các bến xe liên tỉnh.
- Hình thức chạy xe đặc biệt: Là những chuyến xe chạy không hết toàn bộ chiều
dài hành trình chỉ chạy trên đoạn có khối lượng hành khách lớn.
Các hình thức chạy xe nhanh, tốc hành, đặc biệt chỉ được thực hiện xen kẽ với
các chuyến xe bình thường để có thể áp ứng được nhu cầu đi lại của hành khách
trên tuyến.
1.2.2 Tổ chức hoạt động vận tải trên tuyến
1.2.2.1 Xây dựng thời gian biểu và biểu đồ chạy xe
Thời gian biểu và biểu đồ chạy xe có tác dụng cho việc tổ chức quản lý phương
tiện, lái xe, nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác của những xe buýt hoạt động
theo hành trình và thông tin cho hành khách biết
Thời gian biểu chạy xe là những tài liệu định mức cơ bản về tổ chức công tác
vận tải của những chuyến xe buýt hoạt động theo hành trình trong đó quy định về
chế độ chạy xe (thời gian lăn bánh, thời gian dừng đỗ), chế độ lao động cho lái xe,
thời gian làm việc của hành trình (mở tuyến, đóng tuyến), số lượng xe, chuyến xe
và giãn cách chạy xe trên hành trình.