1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lưu Thị Hương
2
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này, tôi đã nhận được sự
quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban Giám Hiệu, Khoa Đào Tạo sau Đại học,
Trường Đại học Thương mại Hà Nội; Cán bộ, công chức tại Chi cục thuế Huyện
Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội và một số hộ kinh doanh trên địa bàn huyện. Nhân
dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình có trách nhiệm
và quý báu đó.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Văn Sơn với tư cách là
người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp sâu sắc
và giá trị đối với luận văn này. Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tài liệu và viết bài,
nhưng do sự hiểu biết và thông tin thu thập được còn hạn chế nên bài viết của tôi
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sự ủng hộ giúp đỡ của gia đình, cảm ơn những nhận
THNVDT
LXP
UBND
HC-NS-TV
UNT
CNTT
KBNN
CSDL
: Hộ kinh doanh
: Mã số thuế
: Người nộp thuế
: Đối tượng nộp thuế
: Đăng ký kinh doanh
: Giá trị gia tăng
: Thu nhập doanh nghiệp
: Thu nhập cá nhân
: Môn bài
: Tiêu thụ đặc biệt
: Ngân sách nhà nước
: Kê khai - kế toán thuế
: Tổng hợp nghiệp vụ dự toán
: Liên xã phường
: Ủy ban nhân dân
: Hành chính - nhân sự - tài vụ
: Uỷ nhiệm thu
: Công nghệ thông tin
: Kho bạc nhà nước
: Cơ sở dữ liệu
Thực tế, trong công cuộc đổi mới kinh tế gắn với phát triển kinh tế thị
trường, quản lý thu thuế đối mặt với áp lực của nhiệm vụ thu ngân sách cộng với sự
gia tăng về số lượng, quy mô người nộp thuế trong khi nguồn lực quản lý thuế có
hạn. Khu vực hộ kinh doanh không chỉ đem lại nguồn thu lớn cho NSNN, mà còn
đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, thu nhập của người dân và các hộ
gia đình. Song đây là nguồn thu phức tạp, số lượng hộ kinh doanh rất lớn và không
ngừng tăng lên, tình trạng thất thu, nợ đọng thuế phổ biến, nhân lực và chi phí quản
lý thuế khá lớn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý thuế hộ kinh doanh vừa
đảm bảo thu ngân sách, thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh doanh, vừa kích
thích phát triển sản xuất kinh doanh đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước.
Trong thời gian qua, công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
trên địa bàn huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp
phần hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách Nhà nước với tỷ lệ tăng năm sau cao
hơn năm trước. Tuy nhiên, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các hộ
kinh doanh cá thể vẫn còn thấp, tình trạng vi phạm pháp luật thuế vẫn luôn xảy ra ở
nhiều hình thức, với mức độ khác nhau, nợ thuế ngày càng tăng. Đối với nguồn thu
này còn nhiều tiềm năng khai thác bởi thực trạng quản lý thuế còn sót hộ, doanh thu
tính thuế còn chưa tương xứng với doanh thu thực tế kinh doanh của hộ… Do đó,
vấn đề cấp thiết đặt ra là phải hoàn thiện chính sách và công cụ quản lý để nâng cao
hiệu lực của công tác quản lý thuế đối với các HKD cá thể trên địa bàn huyện
Chương Mỹ nhằm hướng tới 2 mục tiêu cơ bản là:
- Về phía ngành thuế: Thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế vào Ngân sách
7
7
Nhà nước, đảm bảo nguồn thu ổn định và tăng thu qua các năm.
8
8
tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đồng thời đề xuất
một số kiến nghị nhằm chỉnh sửa, cải cách công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh,
-
nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng nộp thuế.
Nguyễn Công Thạch (2013), “ Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh
doanh cá thể trên địa bàn huyện Phú Thiên, tỉnh Gia Lai”. Luận văn đưa ra thực
trạng quản lý thu thuế hộ tại địa bàn huyện Phú Thiên, tỉnh Gia Lai từ đó đề xuất
các các giải pháp chống thất thu thuế của hộ kinh doanh về doanh số, nợ đọng thuế
-
và hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.
Đỗ Ngọc Nam (2011), “ Quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại chi
cục thuế huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” Luận văn thạc sỹ, Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, đã trình bày quy trình quản lý thu thuế hộ kinh doanh, thực trạng từng giai
đoạn quản lý thu thuế.
Các đề tài, bài viết có đề cập ở mức độ nhất định về quản lý thu thuế đối với hộ
kinh doanh như chống thất thu về hộ, về doanh số, chống nợ đọng thuế, tuy nhiên
không có đề tài nào nghiên cứu độc lập về hộ kê khai, hộ khoán (nay là hộ khoán sử
dụng hóa đơn); cách thức quản lý từng loại hộ tại Chi cục thuế huyện Chương Mỹ .
Để thực hiện đề tài, tôi có tham khảo ý tưởng trong các công trình khoa học,
bài viết đã công bố, giúp cho việc hệ thống hóa lĩnh vực nghiên cứu từ khi đổi mới
đến nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới.
Đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế hộ kinh doanh
trên địa bàn Chi cục thuế huyện Chương Mỹ, Hà Nội đến năm 2015 và những năm
tiếp theo.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của việc
quản lý thu thuế hộ kinh doanh tại Chi cục thuế Huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá về quy trình quản lý
thu thuế hộ kinh doanh và tình hình thực hiện quy trình đó ở Chi cục thuế huyện
Chương Mỹ và đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế.
Quản lý thu thuế hộ kinh doanh tại Chi cục thuế Chương Mỹ bao gồm những nội
dung sau: Tình hình thực hiện công tác đăng ký, kê khai thuế; Công tác tuyên
truyền hỗ trợ người nộp thuế; Công tác thu nợ và cưỡng chế thuế.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
- Phạm vi về mặt thời gian: Đề tài thu thập và phân tích tài liệu, số liệu về quản lý thu
thuế của Chi cục thuế huyện Chương Mỹ, Hà Nội trong thời gian 3 năm gần đây (2012
-2014). Giải pháp đề xuất áp dụng cho giai đoạn năm 2015 và các năm tiếp theo.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử; vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quá trình
đổi mới kinh tế để phân tích thực trạng quản lý và thực hiện chính sách thuế ở địa
bàn nghiên cứu. Từ đó rút ra một số nhận xét và kiến nghị đề xuất các giải pháp để
góp phần hoàn thiện công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh tại Chi cục thuế huyện
Chương Mỹ, Hà Nội.
Phương pháp tiếp cận: xem xét, nghiên cứu dưới góc độ các quy trình nghiệp vụ,
biệt ý kiến đánh giá của các nhóm đối tượng được điều tra về nội dung chính sách
thuế và công tác quản lý thu thuế.
- Phương pháp đồ thị và biểu đồ để phân tích đánh giá một cách khách quan, khoa
học về các nội dung nghiên cứu.
5.2.4 Phương pháp chuyên gia
11
11
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia và những người có kinh nghiệm về
lĩnh vực thuế, nhằm thu thập các thong tin làm cơ sở đánh giá, nhận xét quy trình
quản lý thu thuế hộ kinh doanh của Chi cục thuế, từ đó làm căn cứ đề xuất các giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế.
6.KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được kết cấu chia làm 3 phần như sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn
huyện Chương Mỹ - Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý thuế đối
với hộ kinh doanh tại địa bàn huyện Chương Mỹ - Hà nội
Phần kết luận, kiến nghị
Ngoài ra còn có danh mục tài liệu tham khảo, mục lục của luận văn.
12
đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân.
Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế
được thể hiện ở chỗ thuế được hoàn trả gián tiếp cho NNT thông qua việc cung cấp
các dịch vụ công cộng của nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể
cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp
một dịch vụ công cộng nào cho NNT. Sau khi nộp thuế nhà nước cũng không có sự
bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT.
Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được
quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng
13
13
pháp luật.
c. Chức năng của thuế
- Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn có công dụng là phương tiện động viên nguồn tài
chính cho nhà nước, là chức năng cơ bản của thuế. Nhờ chức năng huy động nguồn
lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm
bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Chức năng này đã tạo
ra những tiền đề để nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm
của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Thuế là một nguồn chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong cho ngân sách nhà nước.
- Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thong qua việc quy định các
hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng
nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của
NNT, sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn giảm thuế.
Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế
có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng huy động nguồn lực tài chính
một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
1.1.2.2 Vai trò của hộ kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ kinh doanh có một vai trò hết sức to
lớn đó là góp phần tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời
đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân
phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ. Thông qua các HKD có thể huy động được
nguồn vốn lớn còn đang tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế. Đặc biệt trong
điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày
càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của HKD đã góp
phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội.
Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế HKD cũng có
một số mặt hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản
xuất rất hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất
rất hạn chế. Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những chỗ sơ hở để kinh
doanh trái phép và trốn lậu thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý. Chính vì vậy
cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật nhằm
15
15
tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh
tế này hoạt động có hiệu quả.
1.1.2.3 Đặc điểm của hộ kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và
hộ gia đình mình là chính. Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, điều kiện áp dụng khoa
học công nghệ tiên tiến hạn chế
Hộ kinh doanh có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất,
+ Thực hiện lưu giữ đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và xác định
được doanh thu nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ đàu
vào, không xác định được chi phí và giá trị gia tăng.
- Việc quản lý nghĩa vụ kê khai, xử lý tờ khai và kế toán thuế, đôn đốc thu nợ thuế
của các hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai thực hiện theo các quy trình quản lý
khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế và quy trình quản lý nợ thuế của Tổng cục thuế,
tương tự như đối với doanh nghiệp, tổ chức
* Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là các hộ kinh doanh:
+ Không thực hiện đăng ký kinh doanh hoặc không phải đăng ký kinh doanh, không
thực hiện đăng ký thuế theo thời hạn đôn đốc của CQT;
+ Không thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ;
+ Có mở sổ sách kế toán, nhưng không đúng chế độ kế toán, không thực hiện đúng
quy định về chế độ hoá đơn, chứng từ khi mua bán hang hoá, dịch vụ.
+ Không thực hiện nộp tờ khai theo quy định, hoặc nộp tờ khai thuế nhưng số liệu
kê khai không chính xác, không trung thực, cơ quan thuế không thể căn cứ vào sổ
sách kế toán, hoá đơn chứng từ để xác định số thuế phải nộp phù hợp với thực tế
kinh doanh.
-Căn cứ vào doanh thu kinh doanh, Đội thuế LXP phân loại hộ kinh doanh nộp thuế
khoán theo nhóm: Hộ kinh doanh thuộc diện không phải nộp thuế GTGT, hộ kinh
doanh thuộc diện nộp thuế khoán… Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu quản lý thực tế tại
địa phương, Đội thuế LXP có thể phân loại theo bậc môn bài, theo địa bàn kinh
doanh hoặc theo các nhóm ngành nghề kinh doanh… cho phù hợp.
1.1.3 Các chính sách thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh
Sau khi thực hiện chương trình cải cách thuế, nếu không kể các khoản thu về
tiền sử dụng đất và thu lệ phí trước bạ, các loại phí, hiện nay hệ thống thuế của nước ta
bao gồm 9 sắc thuế, trong đó các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với HKD gồm:
17
500.000
300.000
100.000
50.000
(Nguồn: Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính)
Về thời gian tính và nộp thuế môn bài:
Cơ sở kinh doanh đang kinh doanh hoặc mới thành lập, được cấp đăng ký
thuế và mã số thuế trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức Môn bài cả
năm, nếu thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế trong thời gian 6 tháng cuối
năm thì nộp 50% mức thuế Môn bài cả năm. Cơ sở đang sản xuất kinh doanh nộp thuế
Môn bài ngay tháng đầu của năm dương lịch; cơ sở mới ra kinh doanh nộp thuế Môn
bài ngay trong tháng được cấp đăng ký thuế và cấp mã số thuế.
Cơ sở kinh doanh có thực tế kinh doanh nhưng không kê khai đăng ký thuế,
phải nộp mức thuế Môn bài cả năm không phân biệt thời điểm phát hiện là của 6
tháng đầu năm hay 6 tháng cuối năm.
Tuy số thu hàng năm của thuế môn bài luôn giữ một địa vị khiêm nhường so
với số thu các loại thuế khác nhưng đây lại là một tài nguyên tương đối vững chắc
cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngay từ
đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa phát sinh hoặc có phát sinh nhưng chưa
nhiều. Một ưu điểm quan trọng nhất của thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho
18
18
thuế TNDN và thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt. Đồng thời qua đó làm cơ sở cho
việc phân loại cơ sở kinh doanh theo quy môn lớn, vừa hay nhỏ để có biện pháp
quản lý thích hợp với từng đơn vị và động viên một phần đóng góp của họ ngay từ
19
bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi trả
góp, lãi trả chậm.
Đối với dịch vụ gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế GTGT.
Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình
hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng,
lắp đặt không bao thầu nguyên liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây
dựng, lắp đặt không bao gồm giá nguyên liệu, máy móc, thiết bị.
Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có
thuế GTGT, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách
Nhà nước.
Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóavà dịch vụ hưởng hoa
hồng là tiền hoa hồng thu được từ hoạt động này chưa có thuế GTGT.
Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá
đã có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau:
Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán/(1+thuế suất hàng hóa, dịch vụ)
Giá tính thuế đối với các trường hợp nêu trên bao gồm cả các khoản phụ thu và phí
thu thêm mà cơ sở sản xuất kinh doanh được hưởng.
-Thuế suất thuế GTGT: Theo quy định của Luật thuế GTGT, thuế suất thuế
GTGT gồm 3 mức: 0%; 5%; 10%. Trong đó mức thuế suất 0% áp dụng đối với
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế
GTGT quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp
chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài, dịch vụ tái
bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính
phát sinh, dịch vụ bưu chính, viễn thông, sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản
khai thác chưa qua chế biến quy định tại khoản 23 điều 5 Luật thuế GTGT.
20
=
Giá tính thuế của hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế bán
ra
x
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ
tương ứng
Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì
thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ giá tính thuế xác định theo
quy định tại Điều 7 của Luật thuế GTGT
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT được ghi trên
hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa
nhập khẩu và đáp ứng quy định tại Điều 12 của Luật thuế GTGT.
21
21
Quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Thuế GTGT đầu vào của hàng
hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
được khấu trừ toàn bộ. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng
thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ
khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Các cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng
vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh
toán qua ngân hàng của hàng hóa, dịch vụ mua trả góp, trả chậm để kê khai khấu trừ
thuế GTGT đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do
chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê
khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu
không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT
đầu vào và cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh lại số thuế GTGT đầu vào đã
khấu trừ. Hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa,
dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra cũng được coi là thanh toán
qua ngân hàng. Trường hợp sau khi bù trừ mà phần giá trị còn lại được thanh toán
bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường
hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của
một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng
ngày có tổng giá trị trên 20 triệu đồng thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp
có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Các trường hợp khác thực hiện theo quy
định của Luật thuế GTGT.
+ Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: Phương pháp này được thực hiện
theo quy định tại Điều 11- Luật thuế GTGT.
Đối với các hộ kinh doanh đã thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ
theo quy định: Hàng hóa dịch vụ mua vào và bán ra đều có hóa đơn, chứng từ hợp
lệ thì thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức sau:
Thuế GTGT phải nộp =
GTGT của hàng hoá
x
dịch vụ bán ra
Thuế suất thuế GTGT
tương ứng
x
Thuế suất thuế
GTGT tương
ứng
Trong đó tỷ lệ % GTGT tính trên doanh thu được quy định theo từng hoạt
động như sau
- Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%;
- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;
- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu
nguyên vật liệu: 3%;
- Hoạt động kinh doanh khác: 2%.
Doanh thu để tính thuế GTGT là tổng số tiền bán hàng hoá, dịch vụ thực tế
ghi trên hoá đơn bán hàng đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm các
khoản phụ thu, phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Trường hợp cơ sở kinh doanh có doanh thu bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và doanh thu hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu
thì không áp dụng tỷ lệ (%) trên doanh thu đối với doanh thu này.
Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý và hoạt động chế
tác vàng, bạc, đá quý thì phải hạch toán riêng được hoạt động kinh doanh mua bán
vàng, bạc, đá quý và hoạt động chế tác vàng, bạc, đá quý để áp dụng theo phương
pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Đối với các hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hóa
đơn, chứng từ khi mua bán hàng hóa, dịch vụ. Những hộ loại này thường là những
24
Bậc
Phần thu nhập tính thuế/năm
Phần thu nhập tính
Thuế suất
thuế
1
2
3
4
5
6
7
(triệu đồng)
Đến 60
Trên 60 đến 120
Trên 120 đến 216
Trên 216 đến 384
Trên 384 đến 624
Trên 624 đến 960
Trên 960
thuế/tháng (triệu đồng)
Đến 5
Trên 5 đến 10
Doanh
thu
khoán
trong kỳ tính thuế
x
Tỷ lệ thu nhập chịu
thuế ấn định
a.) Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa đơn.
- Trường hợp cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa
đơn quyển, nếu trong quý doanh thu trên hóa đơn cao hơn doanh thu khoán thì
ngoài việc nộp thuế theo doanh thu khoán còn phải nộp bổ sung thuế thu nhập cá
nhân đối với phần doanh thu trên hóa đơn cao hơn doanh thu khoán.
- Trường hợp cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán sử dụng hóa đơn
do cơ quan thuế bán lẻ theo từng số thì khai và nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ
10% tính trên thu nhập chịu thuế của từng lần phát sinh.
Thu nhập chịu thuế của từng lần phát sinh được xác định như sau: