A. PHN M U
I. Lý do chn ti:
Thi gian gn õy, ch dy k nng sng cho tr c rt nhiu ph
huynh quan tõm. Bờn cnh ú, ỏp ng nhu cu v k nng sng cho tr, cỏc
trung tõm dy k nng sng cng ln lt ra i. Tuy nhiờn dy tr k nng sng
nh th no li l mt vn cn t ra nhiu cõu hi.
Vn con tr thiu k nng sng, thiu tớnh t tin, t lp, sng ớch k, vụ
tõm, thiu trỏch nhim vi gia ỡnh v bn thõn ang l nhng cn tr ln cho s
phỏt trin ca tr khin khụng ớt cỏc bc cha m phi phin lũng vỡ con, trong mt
xó hi phỏt trin nng ng nh hin nay.
Nhiu v ph huynh lo lng trc tỡnh trng con ca mỡnh thiu t tin, luụn
t ra rt rố khi cú c hi th hin mỡnh trc ỏm ụng hoc cỏc em
khụng bit cỏch x lý tỡnh hung dự l tht n gin nh kờu gi s giỳp t
ngi khỏc, tỡm ng, nh hng,... thm chớ l t k, khụng thớch giao tip vi
ai.
Trong cuc sng i mi hin nay, thc hin theo ch trng ng li
chớnh sỏch ca ng v phỏp lut ca nh nc. a giỏo dc lờn hng u nhm
o to th h mi thay i v tri thc. ú l trang b cho hc sinh nhng kin
thc, k nng c bn nht giỳp cỏc em cú iu kin ng phú vi cuc sng
Trong những năm gần đây giáo dục của nớc ta đã bắt đầu thay đổi, đẩy mạnh
phong trào phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non. Mục tiêu của việc đổi mới chơng
trình là Xây dựng nội dung, chơng trình giáo dục phát triển toàn diện thế hệ
trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam. Đây là một
vấn đề rất mới, rất khó và đợc toàn quốc quan tâm.
Vic i mi giỏo dc ph thụng ln ny cú ý ngha sõu sc v ton din
nht t trc n nay v nú thc s l mt cuc cỏch mng v vic i mi phng phỏp dy, phng phỏp hc. Trong nhng nm hc trc vic i mi phng phỏp dy hc bc mm non cng c trin khai mt cỏch nghiờm tỳc v cú
hiu qu. nõng cao cht lng ton din th h tr, ỏp ng ngun nhõn lc
phc v s nghip cụng nghip húa, hin i húa t nc, ỏp ng yờu cu hi
nhp quc t v nhu cu phỏt trin ca ngi hc, giỏo dc mm non ó v ang
c i mi mnh m theo bn tr ct ca Giỏo dc th k XXI, m thc cht l
nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng ghép vào các môn học ở bậc mầm non. Đây là
một chủ trương cần thiết và đúng đắn.
Bên cạch đó có thể bởi từ "Kỹ năng sống" còn rất mới mẻ nên một số giáo viên
bỡ ngỡ có vẻ quan trọng hóa "Kỹ năng sống" nên việc lên nội dung, phương pháp
dạy KNS cho trẻ còn lúng túng mà không để ý rằng: trong cuộc sống hàng ngày ở
nhà và ở trường trẻ vẫn được rèn luyện về ‘kỹ năng sống" cơ bản. Chính vì lí do đó
nên tôi chọn đề tài: “ Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non”
II) Mục đích và phạm vi nghiên cứu:
1. Mục đích nghiên cứu:
Giáo dục kĩ năng sống là một trong những nội dung ,nhiệm vụ quan trọng
trong chương trình giáo dục hiện nay nhằm cụ thể những quan điểm, đường lối
chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới phương pháp giáo dục trong thời kì
hội nhập.
Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh là vấn đề cần được quan tâm đúng mức nhằm góp phần trang bị cho học sinh
kiến thức, kỹ năng sống và phát triển trong một môi trường phát triển bền vững.
Đề tài : “Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non” nhằm:
- Tìm ra nội dung, hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường mầm
non theo khung chương trình chung của Bộ giáo dục và Đào tạo đạt hiệu quả cao
2
nhất, đồng thời phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội ở địa phương, thực tế
nhà trường.
- Đề ra các giải pháp nhằm thực hiện chương trình giáo dục kĩ năng sống có
hiệu quả trong trường mầm non
- Đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả, kích thích được sự hứng
thú của trẻ qua đó phát triển được kỹ năng sống cho trẻ giúp trẻ ứng phó được mọi
hoạt động, mọi tình huống trong cuộc sống
2. Đối tượng và phạm vi đề tài
hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất về mặt
thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực
tâm lý xã hội này.KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực
(positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức
của cuộc sống hàng ngày”
(*) Theo quỹ nhi đồng liên hiệp quốc UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi
hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu
kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. giáo dục dựa trên Kỹ năng sống cơ bản là
sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa
kiến thức, thái độ và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức
(phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào
giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
- Theo UNESCO, KNS gắn với 4 trụ cột của GD, đó là: Học để biết, gồm các KN
tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu
quả,…; Học làm người gồm các KN cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm
xúc, tự nhận thức, tự tin,…; Học để sống với người khác, gồm các KN xã hội như;
giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự
cảm thông; Học để làm, gồm KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như KN đặt
mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…
Vậy bản chất của KNS là: Bản chất của KNS là kỹ năng tự quản bản thân và kỹ
năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu
quả. Và rèn luyện kỹ năng sống là quá trình đưa nhận thức (qua kiến thức và thái
độ) thành hành động (hành vi tích cực)
Hiểu một cách đơn giản thì kỹ năng sống là năng lực của mỗi người giúp
giải quyết những nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả (cách
sống tích cực trong xã hội hiện đại). là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người,
khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó
tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội cơ bản giúp cá nhân tồn tại và thích
nghi trong cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực
- Tự quản
- Tham gia hiệu quả
- Suy nghĩ/tư duy bình luận, phê phán
- Suy nghĩ sáng tạo
- Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
* Ở Việt Nam :
- Nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình: tự nhận thức, xác định giá
trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin, ...
- Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác: giao tiếp có hiệu quả, giải
quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,...
- Nhóm các KN ra quyết định một cách có hiệu quả: tìm kiếm và xử lí thông
tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,...
* Theo tài liệu tập huấn hè năm học 2012 – 2013 thì xác định một số kỹ năng
cốt lõi sau:
- Kỹ năng tự nhận thức
- Tự trọng
5
- Thể hiện cảm thông
- Có trách nhiệm
- Ứng phó với sự căng thẳng
- Kiểm soát cảm xúc
- Giao tiếp hiệu quả
- Quan hệ của cá nhân với người khác
- Suy nghĩ sáng tạo
- Ra quyết định
- Giải quyết vấn đề
2.2 Các nội dung kỹ năng sống có thể dạy cho trẻ mầm non.
* Theo tài liệu tập huấn hè năm học 2012 – 2013 thì các nội dung có thể dạy
bảo vệ quyển con người.
- Giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp
nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề xã hội. Giáo dục KNS
còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân
được công nhân trong luật pháp Việt Nam và quốc tế.
*Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ
- Trẻ thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động … hiện nay, thế hệ trẻ
thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn
được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những
khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu thiếu KNS, các em dễ bị lôi kéo
vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị
phát triển lệch lạc về nhân cách.
- GD KNS giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép của CS và
sự lôi kéo thiếu lành mạnh, giúp các em xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với GĐ, bạn
bè và mọi người, sống an toàn, lành mạnh và phát triển tốt.
* Đối với trẻ MN
- Trong quá trình phát triển nhân cách nếu trẻ được sớm hình thành và tôn vinh
các giá trị đích thực của mình thì các em sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện,
bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự
khẳng định mình trong cuộc sống...
- Trẻ em là giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển
NC, do đó cần giáo dục KNS cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng
xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ
- Kỹ năng sống là kỹ năng nền tảng giúp trẻ mầm non hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách, sẵn sàng đi học lớp 1.
- Ở độ tuổi mầm non, trẻ vẫn còn thụ động không biết ứng phó kịp thời với
những hoàn cảnh nguy cấp, chưa biết cách tự bảo vệ bản thân trước mọi nguy
hiểm... Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, trong đó việc thiếu kỹ năng
sống là nguyên nhân sâu xa nhất. Ở lứa tuổi mầm non, hầu hết các bậc cha mẹ luôn
có thói quen làm thay cho trẻ vì sợ con làm hỏng việc. Các cô giáo lại muốn trẻ có
rất nhiều thời gian vào đầu năm học để trẻ có được những kỹ năng sống cơ bản ở
trường mầm non, trẻ cần phải học cách ứng xử hki vào trong các nhóm trẻ khác
nhau, khi tiếp thu được những kỹ năng giao tiếp xã hội và các hành vi ứng xử cơ
bản trong nhóm bạn, thì sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng tập trung vào
việc học và tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất
II/ CƠ SỞ THỰC TIỂN :
1. Thuận lợi:
Bộ Giáo dục - Đào tạo đã phát động phong trào“ Xây dựng trường học thân
thiện-học sinh tích cực” với những kế hoạch nhất quán từ trung ương đến địa
phương, Phòng giáo dục - Đào tạo cũng đã có kế hoạch từng năm học với những
biện pháp cụ thể để rèn kỹ năng sống cho học sinh một cách chung nhất cho các
bậc học, đây chính là những định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện
kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng
làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ
8
năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác;
rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và
các tệ nạn xã hội.
Trường học nơi tôi công tác là ngôi trường được xây mới, thuận lợi trong
việc thực hiện nội dung xây dựng môi trường giáo dục sạch đẹp, an toàn cho trẻ.
- Ban giám hiệu lên kế hoạch chương trình giáo dục sớm, kịp thời nên tôi có
thời gian để sắp xếp các nội dung phù hợp với lớp học của mình, luôn ủng hộ và
tạo điều kiện cho tôi hoàn thành các ý tưởng.
- Ngay từ đầu năm học nhà trường đã tổ chức lớp tập huấn cho giáo viên về
chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ”.
Đặt hàng 6 tiết dạy mẫu về chuyên đề trải nghiệm tại trường Mầm Non
Quang Trung 2 vào ngày 06 tháng 11 năm 2012
- Bản thân còn có con nhỏ nên việc thực hiện các biện pháp đôi lúc còn gặp
khó khăn về thời gian và còn bị dán đoạn.
III/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Những kỹ năng đã đưa vào thực hiện.
- Theo TS Trần Bội Lan, chuyên gia tư vấn đào tạo, Trung tâm ABS TPHCM
cho biết: “Ở các nước trên thế giới, giáo dục kỹ năng sống được đưa vào CT giảng
dạy và là một môn học”.
- Nhưng đối với độ tuổi mầm non thì phải lựa chọn nội dung GD Kỹ năng
sống cho trẻ em hết sức đơn giản và gần gũi với trẻ, phù hợp với khả năng, kinh
nghiệm của trẻ.
- Nhóm kỹ năng nhận thức về bản thân
+ Kỹ năng tự phục vụ bản thân (Kỹ năng tự xúc ăn, Kỹ năng tự mặc quần áo, Kỹ
năng tự chăm lo vệ sinh cá nhân, tự dọn đồ đạc, tự làm việc nhà tùy theo lứa tuổi)
10
+ Kỹ năng tự bảo vệ trước những tình huống nguy hiểm (Kỹ năng phân biệt
nguy hiểm, Kỹ năng tự xoay sở)
+ Nhận biết giá trị bản thân.
- Nhóm KN giao tiếp và quan hệ xã hội ( Kỹ năng giao tiếp với bạn bè, Kỹ năng
giao tiếp với bố mẹ, ông bà, Kỹ năng giao tiếp với người lạ)
- Nhóm kỹ năng tương tác
+ Kỹ năng tổ chức hoạt động
+ Kỹ năng làm việc ( Kỹ năng tạo niềm vui thông qua kết quả tập thể đạt
được, Kỹ năng tạo ra tinh thần đồng đội )
+ Kỹ năng ra quyết định
+ Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Nhóm Kỹ năng khám phá thế giới xung quanh
+ Kỹ năng khám phá không gian
+ Kỹ năng khám phá sự vật
cầm 2 tay vào 2 chốt khoá, tay trái bấm khoá, tay phải rút chốt ra.”
Nếu cô chỉ nêu cách đội, không làm mẫu và cho trẻ thưc hiện thao tác chắn
chắn 100% trẻ sẽ không có trẻ nào có thể đội được mũ bảo hiểm đúng cách, vì
trẻ chưa hiểu được thế nào là phía trước của mũ quay vào phía trong lòng
mình, hay là 2 dây vắt sang 2 bên cạnh ngoài của mũ, 2 ngón trỏ và ngón cái
giữ lấy 2 quai mũ, 2 tay vuốt 2 dây quai cho thẳng. với vốn từ và trí tưởng
tưởng của trẻ thì trẻ không thể hiểu được đúng vẫn đề.
Nhưng nếu cô vừa nêu và làm mẫu trẻ quan sát cô làm thì trẻ sẽ hiểu à thế này
là ngửa mũ ra, vắt 2 dây sang 2 bên là thế này… thì chắc chắn trẻ sẽ làm được.
Bé học đội mũ bảo hiểm
- Đối với trẻ mầm non cô giáo luôn là tầm gương cho trẻ. Ở độ tuổi này cô
giáo là người mẹ thứ 2, là người có ảnh hưởng với trẻ rất nhiều, đa số thời gian
trong ngày là ở với cô, cố là người cô đầu tiên là người mà trẻ yêu, và thần tượng
nhất trong giai đoạn này. Trẻ rất thích làm theo cô, từ những hành động cử chỉ, lời
nói, nét mặt thậm chí là cách cô dạy trẻ như thế nào trẻ sẽ bắt chước như thế đó vì
vậy trước mắt trẻ cô phải luôn luôn là tấm gương, cô hướng dẫn trẻ các kỹ năng đó
như thế nào thì bình thường cô cũng phải thực hiện đúng những kỹ năng đó để trẻ
làm theo và thông qua đó cũng tạo thêm có hội cho trẻ được khắc sâu kỹ năng là
làm lại tốt hơn từ đó sẽ giúp kỹ năng của trẻ phát triển.
2.2 Nhóm phương pháp2: Nhóm phương pháp dùng lời: Trò chuyện, đàm thoại
12
Trong quá trình truyền thụ kỹ năng sống cho trẻ thì nhóm phương pháp trò
chuyện, đàm thoại sẽ giúp trẻ hiểu và khắc sâu hơn những kỹ năng mà mình vừa
được học. Khi truyền thụ đến trẻ một kỹ năng mới chúng ta trò chuyện cùng trẻ, sử
dụng hệ thống câu hỏi để đà thoại với trẻ vừa kích thích trẻ sáng tạo, tự trẻ khám
phá cùng cô, và nó còn giúp trẻ hiểu sâu hơn và ghi nhớ hơn về kỹ năng mà trẻ vừa
được học. Nhưng khi vận dụng dụng phương pháp này giáo viên cần chú ý: Phải
Ví dụ 2: Tiết chuyện “chú dê đen” tôi sắp xếp cho trẻ làm quen mọi lúc mọi
nơi để khi dạy tôi có thể chọn tiết đa số trẻ đã biết. Và trực tiếp cho trẻ đóng các
vai chú dê trắng, dê đen và sói. Thông qua đó giúp trẻ có thể phát triển kỹ năng
diễn xuất trước đám đông, kỹ năng tự bảo vệ mình khi gặp nguy hiểm là phải bình
tĩnh không được sợ hãi.
Bé đóng kịch Chú Dê đen
Ví dụ 3: Tiết âm nhạc tổng hợp, cho trẻ thực hành các kỹ năng như: Kỹ năng
biểu diễn cá nhân, nhóm, tập thể, kỹ năng hoạt động nhóm, phối hợp nhóm, kỹ
năng trình diễn, kỹ năng khẳng định giá trị bản thân, qua việc cho cháu thể hiện
dưới các hình thức như hát đơn ca phối hợp múa phụ họa, múa theo nhóm, nhạc
trưởng chỉ đạo dàn hợp xướng.....
Ví dụ 4: Tiết khám phá “Bé làm gì khi đi chơi khi bị lạc đường”. Cô tạo tình
huống để giúp trẻ biết cách xử lý: Bé phải làm gì? Phải tìm sự giúp đỡ từ ai? Phải
cung cấp cho họ những thông tin gì? Sau đó đưa ra các giải pháp để trẻ thảo luận
và chọn phương án cho mình:
+Nếu bị lạc đường, trẻ cần bình tĩnh, không kêu khóc mà đứng im tại
chỗ để chờ cha mẹ quay lại tìm
+Nếu chờ một lúc mà không thấy bố mẹ trẻ có thể tìm đến chú bảo vệ
công an ở nơi gần nhất.
+ Trẻ nói với người đáng tin cậy, địa chỉ nhà mình, số điện thoại của
cha mẹ, nhờ họ giúp hoặc nhờ phát thanh lên loa công cộng để bố mẹ đón về.
14
+ Khi bị lạc không nên đi theo bất kỳ người lạ nào, vì có nguy cơ bị
bắt cóc. Nếu có người cố tình kéo đi, thì trẻ phải la hét to lên “Đây không phải là
bố mẹ cháu, cháu bị bắt...”
Thông qua đó giúp trẻ hình thành được kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng
mệt mỏi, căng thẳng trong học tập.
- Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh,
giữa giáo viên với học sinh.”
Tóm lại, phương pháp giáo dục kỹ năng sống tốt nhất là những phương pháp
tạo ra sự tương tác và vai trò tham gia của học viên trong việc học và thực hành kỹ
năng. Với trẻ, phương pháp giáo dục kỹ năng sống tốt nhất là phương pháp trò
chơi. Cách học tốt nhất của trẻ là khi chơi. Những trò chơi chính là chương trình
học hoàn hảo để trẻ có thể hình thành và phát triển toàn diện về kỹ năng nhận thức,
tình cảm, thể lực và xã hội.
Trong các tiết học, trong các giờ hoạt động giáo viên cần phải linh hoạt sử
dụng các trò chơi phù hợp với nội dung, kiến thức, kỹ năng và tình hình điều kiện
của lớp, phải sắp xếp phù hợp giữa trò chơi động và tĩnh.
c.Hoạt động vui chơi:
Việc tổ chức HĐVC cho trẻ không chỉ giúp hình thành khả năng mà còn đặt
nền tảng khá vững chắc để phát triển những KN sống.Việc chơi trò chơi đóng vai
là một trong những cách mà qua đó ngôn ngữ có thể được dạy và học. Trò chơi
đóng vai là một hoạt động tự nhiên dành cho những đứa trẻ thích thú với môi
trường xung quanh gần gũi của chúng, con người trong cuộc sống và đối tượng mà
trẻ tiếp xúc hàng ngày. Ví dụ, đứa trẻ sống trong một gia đình, khi trẻ được mua
một con búp bê thì trẻ sẽ rất thích được "giả bộ làm mẹ", đút cho búp bê ăn và thay
tã cho búp bê.
Các chuyên gia đều có sự nhất trí chung rằng việc chơi trò đóng vai đóng một
vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Ví dụ, chuyên gia Angela Uchoa
Branco từ trường đại học Brasilia, Brazil nói rằng, "Tầm quan trọng của trò chơi
đóng vai đối với sự phát triển của trẻ là một điều rất đáng ghi nhận."
Tuy nhiên, chúng ta phải chuẩn bị một môi trường mà có lợi cho khả năng
đóng vai của trẻ và bao gồm cả chính họ vào trong sự phát triển của trò chơi đóng
vai. Hãy ghi nhớ rằng điều quan trọng ở đây là giáo viên không kiềm chế những
16
tạo ra tinh thần đồng đội.
Ví dụ: Trẻ chơi gia đình có bố, mẹ, và các con. Khi về góc chơi trẻ sẽ phải
tự phân vai chơi ai sẽ là bố, là mẹ là con. Bố sẽ người có quyền nhất trong gia đình
và sẽ giao nhiệm vụ cho mọi người. mẹ sẽ đi chợ, con sẽ ở nhà dọn dẹp giúp bố
đón tết… Quá trình đó chính là quá trình mà kỹ năng sinh hoạt nhóm của trẻ đang
được hình thành và phát triển.
Ví dụ: Góc xây dựng người kỹ sư trưởng sẽ phải biết cách phân công công
việc cho các thành viên còn lại, trong quá trình xây dựng cô có thể tạo tình huống
là người qua đường bị đau bụng và cần được đưa đi cấp cứu, thì kỹ sư trưởng sẽ
phải phân công người giúp người qua đường bị đau bụng đi bẹnh viện. Từ đó hình
thành cho trẻ những kỹ năng ra quyết định và kỹ năng giải quyết vẫn đề và thể hiện
được vai trò làm thủ lĩnh của mình, hay của bạn
Bé làm kỹ sư xây dựng
d. Thông qua các hoạt động nghệ thuật như vẽ tranh, ca hát, nhảy múa,
kể chuyện
Các hoạt động nghệ thuật có tính hấp dẫn riêng đôi với trẻ, nó khơi dậy ở trẻ
sự sảng khoái, xua đi cái mệt mỏi. Hoạt động này cũng rất hấp dẫn đối với trẻ, trẻ
sẽ bớt nhàm chán, sẽ tích cực hoạt động thông qua đó các kỹ năng sẽ được hình
thành và phát triển.
18
Ví dụ: Hoạt động vẽ “Chân dung mẹ” trong quá trình vẽ giúp trẻ phát triển
được kỹ năng cầm bút, kỹ năng tưởng tưởng, tính kiên trì, và phát triển được kỹ
năng thể hiện tình cảm đối với những người thân yêu.
Giờ học vẽ
Trong hoạt động ca hát, nhảy múa, kể chuyện trẻ sẽ phát triển được kỹ năng
làm chủ bản thân, bình tĩnh, tự tin, kỹ năng thể hiện mình, xác định được giá trị
kỹ năng giao tiếp , kỹ năng sắp xếp đồ dùng....
e. Hình thức tuyên dương
Trẻ rất thích được khen, khen chính là nguồn động viên khích thích trẻ hoạt
động tích cực hơn, trẻ hứng thú với công việc hơn vì vậy trong quá trình giáo
dục giáo viên phải khen trẻ kịp thời, và trong mỗi hình thức đều phải nêu rõ
hình thức khen thưởng và nếu cô đặt ra được mức thưởng, vật khen thưởng cụ
thể thì trẻ sẽ càng thích thú, trẻ biết đó chính là phần thưởng khi mình làm tốt
công việc được giao.
d. Thực hiện thường xuyên. Vì ở độ tuổi này trẻ rất dễ nhớ nhưng mau
quên, nếu không được thực hiện thường xuyên trẻ sẽ quên ngay. Bất cứ kỹ năng
nào dù đơn giản hay phức tạp sẽ không hình thành được nếu cô chỉ truyền đạt và
cho cháu thực hiện chỉ được 1 vài lần mà phải được rèn luyện thường xuyên.
Thông qua việc được thục hiện thường xuyên thì kỹ năng của trẻ sẽ được rèn luyện
và phát triển, vì vậy quá trình hình thành KNS cho trẻ là một quá trình cần có
nhiều thời gian và giáo viên phải sắp xếp linh hoạt, hợp lý.
Ngoài ra có những phương pháp có thể kể đến như: phương pháp nghiên cứu
tình huống, hoạt động nhóm nhỏ, phương pháp dự án. Với những phương pháp này
đã góp phần tạo nên môi trường giáo dục kỹ năng sống khá toàn diện cho trẻ.
Các phương pháp khác nhau ảnh hưởng khác nhau tới sự tiếp thu của trẻ. Cụ thể
như sau: với phương pháp nghe - giảng, nghe - đọc, nghe - nhìn qua băng đĩa
lượng tiếp thu của trẻ lần lượt là 5%, 10 % và 20%. Trong khi đó những
phương pháp học tập tích cực khác như quan sát, thảo luận nhóm thì khả năng tiếp
21
thu ở trẻ đã cao hơn, lần lượt là 30% và 50%. Đặc biệt, với phương pháp học tập
trẻ là trung tâm của hoạt động, trẻ được thực hành và dạy lại cho người khác thì tỉ
lệ % tiếp thu cao hơn hẳn, lần lượt là 80% và 90%. Từ những con số trên đã chỉ ra
phương pháp giáo dục nào là quan trọng và nên áp dụng trong quá trình giáo dục
nói chung và trong quá trình giáo dục giúp trẻ hình thành kỹ năng sống nói riêng.
bản. Cụ thể, cha mẹ chủ yếu vẫn làm hộ cho con cái thay vì hướng dẫn giải thích
cho trẻ hiểu và làm theo. Tâm lý cha mẹ lúc nào cũng cảm thấy con mình còn bé
bỏng không thể tự làm được mọi việc. Vì thế mà tạo cho trẻ thói quen ỷ lại, không
cần làm và cũng không biết làm, không có tính tự lập lúc nào cũng chờ chực ai đó
làm thay làm hộ. Do đó, nhà trường cụ thể giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp
phải có vai trò tuyên truyền đến phụ huynh về nội dung, ý nghĩa, vai trò của việc
22
hình thành kỹ năng sống cho con cái, thông qua các buổi họp phụ huynh, giờ đón
trả trẻ, làm các hình ảnh có nội dung cụ thể trang trí ở góc tuyên truyền.
Tuyên truyền với phụ huynh trong giờ đón trẻ
Giải pháp 3: Tạo môi trường thực hiện nhiệm vụ dạy kỹ năng sống cho trẻ
Môi trường là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hình thành và giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy, giải pháp không thể thiếu là tạo môi trường phù hợp
để giáo dục. Môi trường trong nhà trường phải theo phương châm lấy trẻ làm trung
tâm, tạo cho trẻ biết cách giải quyết vấn đề. Thông qua những kinh nghiệm thực
hành môi trường hoạt động để giáo dục trẻ mà ở đó người lớn phải luôn mẫu mực
và làm gương cho trẻ noi theo. Tạo môi trường thân thiện với trẻ: Gần gũi thương
yêu và luôn giúp trẻ thấy tự tin, thoải mái. Môi trường học tập phải tràn ngập tính
sáng tạo, đáp ứng nhu cầu khát vọng và cả tính tò mò của trẻ. Một trong những
phương tiện góp phần hình thành kỹ năng sống cho trẻ là hoạt động vui chơi.
Thông qua các trò chơi, kỹ năng sống sẽ được hình thành và nó luôn có mặt trong
cuộc sống của trẻ thơ.
2. Một số điểm cần lưu ý khi dạy trẻ kỹ năng sống:
- Không hạ thấp trẻ: Cứ mỗi lần chúng ta nói những lời hạ thấp trẻ vô tình
chúng ta đã làm trẻ mất hứng thú khám phá, trẻ cảm thấy bị hụt hẫng và không
muốn tham gia vào hoạt động nữa.
- Không doạ nạt trẻ: Để hình thành kỹ năng là cả một quá trình, chúng ta
8
9
10
11
Các nội dung nghiên cứu
Kỹ năng tự phục vụ: Tự xúc ăn, tự mặc quần áo,
tự chăm lo vệ sinh cá nhân, tự dọn đồ đạc, tự
Nhóm kỹ năng làm việc nhà tùy theo lứa tuổi
nhận thức về Kỹ năng tự bảo vệ trước những tình huống nguy
bản than
hiểm: Kỹ năng phân biệt nguy hiểm, kỹ năng tự
xoay xở, kỹ năng xử lý tình huống
Kỹ năng nhận biết giá trị bản thân
Nhóm kỹ năng Kỹ năng giao tiếp với bạn bè
giao tiếp và
Kỹ năng giao tiếp với bố mẹ
quan hệ xã hội Kỹ năng giao tiếp vơi người lạ
Kỹ năng tổ chức hoạt động
Nhóm kỹ năng
Kỹ năng làm việc nhóm: Kỹ năng tạo niềm vui,
tương tác
Kỹ năng tạo ra tinh thần đồng đội, kỹ năng làm
thủ lĩnh,
Kỹ năng ra quyết định
Kỹ năng giải quyết vẫn đề
Kỹ năng khám phá không gian
Trước khi
Các nội dung nghiên cứu
1
2
3
4
5
6
7
8
Nhóm kỹ năng
nhận thức về
bản thân
Nhóm kỹ năng
giao tiếp và
quan hệ xã hội
Nhóm kỹ năng
tương tác
9
10
11
12
13
14
2
90%
100%
62%
85%
71%
83%
91%
71%
51%
66%
95%
100%
100%
96%
78%
97%
61%
77%
68%
68%
68%
73%