Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non - Pdf 41

Header Page 1 of 113.

A. PHN M U
I. Lý do chn ti:
Thi gian gn õy, ch dy k nng sng cho tr c rt nhiu ph
huynh quan tõm. Bờn cnh ú, ỏp ng nhu cu v k nng sng cho tr, cỏc
trung tõm dy k nng sng cng ln lt ra i. Tuy nhiờn dy tr k nng sng
nh th no li l mt vn cn t ra nhiu cõu hi.
Vn con tr thiu k nng sng, thiu tớnh t tin, t lp, sng ớch k,
vụ tõm, thiu trỏch nhim vi gia ỡnh v bn thõn ang l nhng cn tr ln cho
s phỏt trin ca tr khin khụng ớt cỏc bc cha m phi phin lũng vỡ con, trong
mt xó hi phỏt trin nng ng nh hin nay.
Nhiu v ph huynh lo lng trc tỡnh trng con ca mỡnh thiu t tin, luụn
t ra rt rố khi cú c hi th hin mỡnh trc ỏm ụng hoc cỏc em
khụng bit cỏch x lý tỡnh hung dự l tht n gin nh kờu gi s giỳp
t ngi khỏc, tỡm ng, nh hng,... thm chớ l t k, khụng thớch giao tip
vi ai.
Trong cuc sng i mi hin nay, thc hin theo ch trng ng li
chớnh sỏch ca ng v phỏp lut ca nh nc. a giỏo dc lờn hng u nhm
o to th h mi thay i v tri thc. ú l trang b cho hc sinh nhng kin
thc, k nng c bn nht giỳp cỏc em cú iu kin ng phú vi cuc sng
Trong những năm gần đây giáo dục của n-ớc ta đã bắt
đầu thay đổi, đẩy mạnh phong trào phổ cập giáo dục cho
trẻ mầm non. Mục tiêu của việc đổi mới ch-ơng trình là
Xây dựng nội dung, ch-ơng trình giáo dục phát triển
toàn diện thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn
nhân lực, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam.
Đây là một vấn đề rất mới, rất khó và đ-ợc toàn quốc
quan tâm.
Vic i mi giỏo dc ph thụng ln ny cú ý ngha sõu sc v ton din
nht t trc n nay v nú thc s l mt cuc cỏch mng v vic i mi phng phỏp dy, phng phỏp hc. Trong nhng nm hc trc vic i mi phng phỏp dy hc bc mm non cng c trin khai mt cỏch nghiờm tỳc v cú

là một ngày vui”, Trao cho trẻ sự hứng thú với mỗi bài học, mỗi hoạt động học
tập. Khổng tử đã từng dạy học trò rằng: “ Biết mà học không bằng thích mà học,
thích mà học không bằng vui say mà học”. Vì vậy, một trong những giải pháp đảm
bảo sự thành công trong dạy học là tạo sự hứng thú nhận thức cho các em. Kĩ
năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể
ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, trẻ
được trực tiếp trải nghiệm những kiến thức, kỹ năng mới. Bắt đầu từ năm học 2008
– 2013, ngành giáo dục và đào tạo phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.” Năm học 2012 - 2013, Bộ GD- ĐT đa
nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng ghép vào các môn học ở bậc mầm non. Đây là
một chủ trương cần thiết và đúng đắn.
Bên cạch đó có thể bởi từ "Kỹ năng sống" còn rất mới mẻ nên một số giáo viên
bỡ ngỡ có vẻ quan trọng hóa "Kỹ năng sống" nên việc lên nội dung, phương pháp
dạy KNS cho trẻ còn lúng túng mà không để ý rằng: trong cuộc sống hàng ngày ở
nhà và ở trường trẻ vẫn được rèn luyện về ‘kỹ năng sống" cơ bản. Chính vì lí do đó
nên tôi chọn đề tài: “ Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non”
II) Mục đích và phạm vi nghiên cứu:
1. Mục đích nghiên cứu:
Giáo dục kĩ năng sống là một trong những nội dung ,nhiệm vụ quan trọng
trong chương trình giáo dục hiện nay nhằm cụ thể những quan điểm, đường lối
chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới phương pháp giáo dục trong thời kì
hội nhập.
Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh là vấn đề cần được quan tâm đúng mức nhằm góp phần trang bị cho học sinh
kiến thức, kỹ năng sống và phát triển trong một môi trường phát triển bền vững.
Footer Page 2 of 113.

2


Header Page 3 of 113.

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Khái niệm kỹ năng sống. (KNS)
Có rất nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau về KNS tùy thuộc vào từng
thời kỳ, từng đất nước, từng môi trường và từng thực trạng.

Footer Page 3 of 113.

3


Header Page 4 of 113.

(*) Theo tổ chức y tế thế giới WHO (1993) Kỹ năng sống là “Năng lực tâm lý xã
hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của
cuộc sống. Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khoẻ
mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác
với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã
hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất về
mặt thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực
thi năng lực tâm lý xã hội này.KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive)
và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu
và thách thức của cuộc sống hàng ngày”
(*) Theo quỹ nhi đồng liên hiệp quốc UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi
hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu
kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. giáo dục dựa trên Kỹ năng sống cơ bản là
sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa
kiến thức, thái độ và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến
thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin
tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
- Theo UNESCO, KNS gắn với 4 trụ cột của GD, đó là: Học để biết, gồm các KN

như thế nào (hành vi)? để giải quyết các tình huống khác nhau trong cuộc sống.
2. Các nội dung về kỹ năng sống
2.1 Các nội dung về kỹ năng
Về nội dung giáo dục kỹ năng sống cũng có nhiều quan điểm khác nhau, phụ
thuộc vào thực trạng của từng quốc gia, Kỹ năng sống thay đổi theo nền văn hoá và
hoàn cảnh xã hội. Vì vậy, trong quá trình dạy kỹ năng sống, cần xem xét các yếu tố
văn hoá và xã hội có ảnh hưởng đến việc ra quyết định hay lựa chọn hành động.
* Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kỹ năng cốt
lõi sau:
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng suy nghĩ/tư duy phân tích có phê phán
- Kỹ năng giao tiếp hiệu quả
-Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng giao tiếp ứng xử cá nhân
- Kỹ năng tự nhận thức và tự tin của bản thân, xác định giá trị
- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc.
* Trong giáo dục ở Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là:
- Hợp tác nhóm
- Tự quản
- Tham gia hiệu quả
- Suy nghĩ/tư duy bình luận, phê phán
- Suy nghĩ sáng tạo
- Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
* Ở Việt Nam :
- Nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình: tự nhận thức, xác định giá
trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin, ...
- Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác: giao tiếp có hiệu quả, giải
quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,...

+ Học cách cảm thông và chia sẻ
+ Kiểm soát tình cảm
+ Lòng tự trọng
- Nhóm KN giao tiếp và quan hệ xã hội
+ Kỹ năng thết lập quan hệ với bạn bè và người lớn
+ Kỹ năng thuyết phục và thương thuyết
+ Sự tự tin
+ Kỹ năng thay đổi hành vi
+ Kỹ năng giao tiếp
- Nhóm kỹ năng tương tác
+ Kỹ năng tổ chức hoạt động
Footer Page 6 of 113.

6


Header Page 7 of 113.

+ Kỹ năng làm việc nhóm
+ Kỹ năng ra quyết định
+ Kỹ năng giải quyết vấn đề
3. Sự cần thiết phải dạy cho trẻ kỹ năng sống (KNS)
* Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội
Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người,
có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng.
- KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ,
hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh.
- KNS góp phần thúc đẩy sự phát triển XH, ngăn ngừa các vấn đề xã hội và
bảo vệ quyển con người.
- Giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp

Header Page 8 of 113.

hiểm... Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, trong đó việc thiếu kỹ năng
sống là nguyên nhân sâu xa nhất. Ở lứa tuổi mầm non, hầu hết các bậc cha mẹ luôn
có thói quen làm thay cho trẻ vì sợ con làm hỏng việc. Các cô giáo lại muốn trẻ có
kết quả nhanh nên hay dùng mệnh lệnh... Khi người lớn yêu cầu, trẻ luôn làm theo
nhưng vẫn cảm thấy như mình bị sai khiến. Chính vì thế rất khó hình thành được
những ý thức và kỹ năng trong đầu trẻ. Do đó, việc dạy kỹ năng sống cho trẻ là rất
cần thiết. Có kỹ năng, trẻ sẽ biết việc gì nên làm và việc gì không nên làm, từ đó
mỗi ngày trẻ lại có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống. Khi đã tự tin thì trẻ sẽ chủ
động hơn và biết cách xử lý các tình huống thành thục. Điều này còn giúp trẻ khơi
gợi khả năng tư duy.
- Giáo dục kỹ năng sống có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển toàn diện
của trẻ mầm non
+ Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ được an toàn, khỏe mạnh, khéo léo, bền
bỉ, có khả năng thích ứng với những thay đổi của điề kiện sống
+ Giáo dục KNS giúp cho trẻ biết khiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu
thương, sự chia sẻ đồng cảm với người xung quanh.
+ Giáo dục KNS giúp trẻ mạnh dạn tự tin, tự trọng và tôn trọng ngườ khác, có
khả năng giao tiếp tốt, trẻ biết lắng nghe, nói năng lịch sự, hòa nhã và cưởi mở.
+ Giáo dục KNS giúp trẻ ham hiểu biết, sáng tạo có những ký năng thích ứng
với hoạt động học tập ở lớp 1 như: sẵn sàng hòa nhập, nỗ lực vượt qua khó khăn để
hoàn thành nhiệm vụ, có trách nhiệm với bản thân, với công việc, với các mối quan
hệ xã hội...
- Mặt khác bậc phụ huynh nào cũng muốn con mình được học đọc học viết
ngay trong những năm tháng ở mẫu giáo. Những thực chất còn nhiều kỹ ăng quan
trọng nhất trẻ phải được học trong giai đoạn này chính là những KNS như: sự hợp
tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Trong
những năm tháng đầu tiên trẻ đến trường sự lo lắng của giáo viên mầm non thường
tập trung vào những trẻ có vấn đề về hành vi và khả năng tập trung. Đơn giản là vì

tạo điều kiện cho tôi hoàn thành các ý tưởng.
- Ngay từ đầu năm học nhà trường đã tổ chức lớp tập huấn cho giáo viên về
chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ”.
Đặt hàng 6 tiết dạy mẫu về chuyên đề trải nghiệm tại trường Mầm Non
Quang Trung 2 vào ngày 06 tháng 11 năm 2012

Tiết dạy mẫu dạy trẻ kỹ năng sống: “Gấp quần áo”
tại trường mầm non Quang Trung 2

Footer Page 9 of 113.

9


Header Page 10 of 113.

“Bé phân loại rác” tiết dạy mẫu đề tài “nghề lao công” Tại trường MN
Quang Trung 2
Xây dựng tiết dạy mẫu tại trường các lĩnh vực Phát triển nhận thức 2 tiết
toán (cô Ngọc), khám phá khoa học (Cô Huệ), 1 tiết phát triển ngôn ngữ (Cô
hạnh), 2 Tiết phát triển thẩm mỹ âm nhạc (cô Hà), tạo hình (cô Chung), Phát triển
tình cảm xã hội (Cô Dung), 1 tiết trải nghiệm (Cô Hạnh). Giúp cho giáo viên hiểu
rõ hơn về KNS cho trẻ
- Tôi là người thông thạo về công nghệ thông tin nên thuận lợi trong việc tìm
tòi những tài liệu mới, những phương pháp mới nhằm xây dựng các phương pháp,
hình thức phù hợp và phong phú với lớp của mình giúp trẻ hình thành tốt KNS.
2. Khó khăn
2.1 Đối với phụ huynh
Lớp của tôi là lớp mẫu giáo lớn nên các bậc cha mẹ trẻ em luôn nóng vội
trong việc dạy con; do đó, khi trẻ về nhà mà chưa biết đọc, chưa biết viết chữ, hoặc

+ Kỹ năng tự bảo vệ trước những tình huống nguy hiểm (Kỹ năng phân biệt
nguy hiểm, Kỹ năng tự xoay sở)
+ Nhận biết giá trị bản thân.
- Nhóm KN giao tiếp và quan hệ xã hội ( Kỹ năng giao tiếp với bạn bè, Kỹ năng
giao tiếp với bố mẹ, ông bà, Kỹ năng giao tiếp với người lạ)
- Nhóm kỹ năng tương tác
+ Kỹ năng tổ chức hoạt động
+ Kỹ năng làm việc ( Kỹ năng tạo niềm vui thông qua kết quả tập thể đạt
được, Kỹ năng tạo ra tinh thần đồng đội )
+ Kỹ năng ra quyết định
+ Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Nhóm Kỹ năng khám phá thế giới xung quanh
+ Kỹ năng khám phá không gian
+ Kỹ năng khám phá sự vật
+ Kỹ năng khám phá chất liệu
+ Kỹ năng khám phá thiên nhiên
Qua quá trình thực hiện chuyên đề “Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non” tôi
đã rút ra được một số kinh nghiệm sau:
2. Về phương pháp thực hiện.
PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và
trẻ, trong những điều kiện xác định, nhằm đạt tới mục đích bài học.
2.1 Nhóm phương pháp 1: Nhóm phương pháp trực quan Làm gương/làm mẫu
- Chúng ta biết tư duy của trẻ ở giai đoạn này là tư duy trực quan hình
tượng, trẻ tư duy thông qua các hình tượng mà trẻ nhìn thấy và nắm bắt được, đến
cuối độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì tư duy logic mới bắt đầu phát triển. Đối với trẻ mọi
sự vật hiện tượng, hay một công việc nào đó đều mới mẻ và lạ. Nên khi chúng ta
truyền thụ cho trẻ một kiến thức hay một kỹ năng nào đó thì chúng ta phải làm
mẫu kết hợp với phân tích giảng giả thì trẻ mới có thể nắm bắt được kiến thức và
thông qua một thời gian trẻ mới có thể hình thành được kỹ năng đó. Ngược lại nếu
chúng ta chỉ nói, phân tích mà không làm mẫu thì chắc chắn trẻ sẽ không thể hiểu

giáo là người mẹ thứ 2, là người có ảnh hưởng với trẻ rất nhiều, đa số thời gian
trong ngày là ở với cô, cố là người cô đầu tiên là người mà trẻ yêu, và thần tượng
nhất trong giai đoạn này. Trẻ rất thích làm theo cô, từ những hành động cử chỉ, lời
nói, nét mặt thậm chí là cách cô dạy trẻ như thế nào trẻ sẽ bắt chước như thế đó vì
vậy trước mắt trẻ cô phải luôn luôn là tấm gương, cô hướng dẫn trẻ các kỹ năng đó
như thế nào thì bình thường cô cũng phải thực hiện đúng những kỹ năng đó để trẻ
Footer Page 12 of 113.

12


Header Page 13 of 113.

làm theo và thông qua đó cũng tạo thêm có hội cho trẻ được khắc sâu kỹ năng là
làm lại tốt hơn từ đó sẽ giúp kỹ năng của trẻ phát triển.
2.2 Nhóm phương pháp2: Nhóm phương pháp dùng lời: Trò chuyện, đàm thoại
Trong quá trình truyền thụ kỹ năng sống cho trẻ thì nhóm phương pháp trò
chuyện, đàm thoại sẽ giúp trẻ hiểu và khắc sâu hơn những kỹ năng mà mình vừa
được học. Khi truyền thụ đến trẻ một kỹ năng mới chúng ta trò chuyện cùng trẻ, sử
dụng hệ thống câu hỏi để đà thoại với trẻ vừa kích thích trẻ sáng tạo, tự trẻ khám
phá cùng cô, và nó còn giúp trẻ hiểu sâu hơn và ghi nhớ hơn về kỹ năng mà trẻ vừa
được học. Nhưng khi vận dụng dụng phương pháp này giáo viên cần chú ý: Phải
tạo cho trẻ sự thoải mái; Phải chuẩn bị câu hỏi đàm thoại chu đáo và câu hỏi phải
kích thích được trẻ khám phá, câu hỏi không quá dễ sẽ không kích thích được trẻ
mà còn gây sự nhàm chán, không muốn tìm hiểu; Cô phải linh hoạt trong mọi tình
huống có thể xảy ra. Cô có thể áp dụng phương pháp này mọi lúc mọi nơi. mọi
hoạt động.
2.3 Nhóm phương pháp 3: Nhóm phương pháp thực hành Trải nghiệm, Giải
quyết tình huống, Trò chơi, Tập luyện thường xuyên, Khen ngợi, động viên
trẻ kịp thời, Thông qua các hoạt động nghệ thuật như vẽ tranh, ca hát, nhảy

diễn xuất trước đám đông, kỹ năng tự bảo vệ mình khi gặp nguy hiểm là phải bình
tĩnh không được sợ hãi.

Bé đóng kịch Chú Dê đen
Ví dụ 3: Tiết âm nhạc tổng hợp, cho trẻ thực hành các kỹ năng như: Kỹ năng
biểu diễn cá nhân, nhóm, tập thể, kỹ năng hoạt động nhóm, phối hợp nhóm, kỹ
năng trình diễn, kỹ năng khẳng định giá trị bản thân, qua việc cho cháu thể hiện
dưới các hình thức như hát đơn ca phối hợp múa phụ họa, múa theo nhóm, nhạc
trưởng chỉ đạo dàn hợp xướng.....
Ví dụ 4: Tiết khám phá “Bé làm gì khi đi chơi khi bị lạc đường”. Cô tạo tình
huống để giúp trẻ biết cách xử lý: Bé phải làm gì? Phải tìm sự giúp đỡ từ ai? Phải
cung cấp cho họ những thông tin gì? Sau đó đưa ra các giải pháp để trẻ thảo luận
và chọn phương án cho mình:
+Nếu bị lạc đường, trẻ cần bình tĩnh, không kêu khóc mà đứng im tại
chỗ để chờ cha mẹ quay lại tìm
Footer Page 14 of 113.

14


Header Page 15 of 113.

+Nếu chờ một lúc mà không thấy bố mẹ trẻ có thể tìm đến chú bảo vệ
công an ở nơi gần nhất.
+ Trẻ nói với người đáng tin cậy, địa chỉ nhà mình, số điện thoại của
cha mẹ, nhờ họ giúp hoặc nhờ phát thanh lên loa công cộng để bố mẹ đón về.
+ Khi bị lạc không nên đi theo bất kỳ người lạ nào, vì có nguy cơ bị
bắt cóc. Nếu có người cố tình kéo đi, thì trẻ phải la hét to lên “Đây không phải là
bố mẹ cháu, cháu bị bắt...”
Thông qua đó giúp trẻ hình thành được kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng

- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động;
không khô khan, nhàm chán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một
cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những
mệt mỏi, căng thẳng trong học tập.
- Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh,
giữa giáo viên với học sinh.”
Tóm lại, phương pháp giáo dục kỹ năng sống tốt nhất là những phương pháp
tạo ra sự tương tác và vai trò tham gia của học viên trong việc học và thực hành kỹ
năng. Với trẻ, phương pháp giáo dục kỹ năng sống tốt nhất là phương pháp trò
chơi. Cách học tốt nhất của trẻ là khi chơi. Những trò chơi chính là chương trình
học hoàn hảo để trẻ có thể hình thành và phát triển toàn diện về kỹ năng nhận thức,
tình cảm, thể lực và xã hội.
Trong các tiết học, trong các giờ hoạt động giáo viên cần phải linh hoạt sử
dụng các trò chơi phù hợp với nội dung, kiến thức, kỹ năng và tình hình điều kiện
của lớp, phải sắp xếp phù hợp giữa trò chơi động và tĩnh.
c.Hoạt động vui chơi:
Việc tổ chức HĐVC cho trẻ không chỉ giúp hình thành khả năng mà còn đặt
nền tảng khá vững chắc để phát triển những KN sống.Việc chơi trò chơi đóng vai
là một trong những cách mà qua đó ngôn ngữ có thể được dạy và học. Trò chơi
đóng vai là một hoạt động tự nhiên dành cho những đứa trẻ thích thú với môi
trường xung quanh gần gũi của chúng, con người trong cuộc sống và đối tượng mà
trẻ tiếp xúc hàng ngày. Ví dụ, đứa trẻ sống trong một gia đình, khi trẻ được mua
một con búp bê thì trẻ sẽ rất thích được "giả bộ làm mẹ", đút cho búp bê ăn và thay
tã cho búp bê.
Các chuyên gia đều có sự nhất trí chung rằng việc chơi trò đóng vai đóng một
vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Ví dụ, chuyên gia Angela Uchoa
Branco từ trường đại học Brasilia, Brazil nói rằng, "Tầm quan trọng của trò chơi
Footer Page 16 of 113.

16

18


Header Page 19 of 113.

Các hoạt động nghệ thuật có tính hấp dẫn riêng đôi với trẻ, nó khơi dậy ở trẻ
sự sảng khoái, xua đi cái mệt mỏi. Hoạt động này cũng rất hấp dẫn đối với trẻ, trẻ
sẽ bớt nhàm chán, sẽ tích cực hoạt động thông qua đó các kỹ năng sẽ được hình
thành và phát triển.
Ví dụ: Hoạt động vẽ “Chân dung mẹ” trong quá trình vẽ giúp trẻ phát triển
được kỹ năng cầm bút, kỹ năng tưởng tưởng, tính kiên trì, và phát triển được kỹ
năng thể hiện tình cảm đối với những người thân yêu.

Giờ học vẽ
Trong hoạt động ca hát, nhảy múa, kể chuyện trẻ sẽ phát triển được kỹ năng
làm chủ bản thân, bình tĩnh, tự tin, kỹ năng thể hiện mình, xác định được giá trị
của bản thân, . Khi trẻ biểu diễn cá nhân trẻ sẽ thể hiện mình, khi trẻ biểu diễn
cùng bạn trẻ phải phối hợp với bạn, phải quan sát bạn và từ đó sẽ hình thành được
kỹ năng tạo ra tinh thần đồng đội, hoạt động nhóm.
đ. Trong các hoạt động khác:
Thực hiện trong các hoạt động khác như giờ ăn, ngủ, đón trả trẻ, vệ sinh...
Thông qua các hoạt động đó trực tiếp giáo dục trẻ các kỹ năng tự phục vụ, Kỹ năng
tự xúc ăn, Kỹ năng tự mặc quần áo, Kỹ năng tự chăm lo vệ sinh cá nhân, tự dọn
đồ đạc, tự làm việc nhà tùy theo lứa tuổi....

Footer Page 19 of 113.

19



thể thì trẻ sẽ càng thích thú, trẻ biết đó chính là phần thưởng khi mình làm tốt
công việc được giao.
d. Thực hiện thường xuyên. Vì ở độ tuổi này trẻ rất dễ nhớ nhưng mau
quên, nếu không được thực hiện thường xuyên trẻ sẽ quên ngay. Bất cứ kỹ năng
nào dù đơn giản hay phức tạp sẽ không hình thành được nếu cô chỉ truyền đạt và
cho cháu thực hiện chỉ được 1 vài lần mà phải được rèn luyện thường xuyên.
Thông qua việc được thục hiện thường xuyên thì kỹ năng của trẻ sẽ được rèn luyện
và phát triển, vì vậy quá trình hình thành KNS cho trẻ là một quá trình cần có
nhiều thời gian và giáo viên phải sắp xếp linh hoạt, hợp lý.
Ngoài ra có những phương pháp có thể kể đến như: phương pháp nghiên cứu
tình huống, hoạt động nhóm nhỏ, phương pháp dự án. Với những phương pháp này
đã góp phần tạo nên môi trường giáo dục kỹ năng sống khá toàn diện cho trẻ.
Các phương pháp khác nhau ảnh hưởng khác nhau tới sự tiếp thu của trẻ. Cụ thể
như sau: với phương pháp nghe - giảng, nghe - đọc, nghe - nhìn qua băng đĩa
lượng tiếp thu của trẻ lần lượt là 5%, 10 % và 20%. Trong khi đó những
phương pháp học tập tích cực khác như quan sát, thảo luận nhóm thì khả năng tiếp
Footer Page 21 of 113.

21


Header Page 22 of 113.

thu ở trẻ đã cao hơn, lần lượt là 30% và 50%. Đặc biệt, với phương pháp học tập
trẻ là trung tâm của hoạt động, trẻ được thực hành và dạy lại cho người khác thì tỉ
lệ % tiếp thu cao hơn hẳn, lần lượt là 80% và 90%. Từ những con số trên đã chỉ ra
phương pháp giáo dục nào là quan trọng và nên áp dụng trong quá trình giáo dục
nói chung và trong quá trình giáo dục giúp trẻ hình thành kỹ năng sống nói riêng.
3. Về các giải pháp thực hiện.
Ở độ tuổi mầm non, trẻ vẫn còn thụ động không biết ứng phó kịp thời với những

bỏng không thể tự làm được mọi việc. Vì thế mà tạo cho trẻ thói quen ỷ lại, không
cần làm và cũng không biết làm, không có tính tự lập lúc nào cũng chờ chực ai đó
làm thay làm hộ. Do đó, nhà trường cụ thể giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp
phải có vai trò tuyên truyền đến phụ huynh về nội dung, ý nghĩa, vai trò của việc
Footer Page 22 of 113.

22


Header Page 23 of 113.

hình thành kỹ năng sống cho con cái, thông qua các buổi họp phụ huynh, giờ đón
trả trẻ, làm các hình ảnh có nội dung cụ thể trang trí ở góc tuyên truyền.

Tuyên truyền với phụ huynh trong giờ đón trẻ
Giải pháp 3: Tạo môi trường thực hiện nhiệm vụ dạy kỹ năng sống cho trẻ
Môi trường là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hình thành và giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy, giải pháp không thể thiếu là tạo môi trường phù hợp
để giáo dục. Môi trường trong nhà trường phải theo phương châm lấy trẻ làm trung
tâm, tạo cho trẻ biết cách giải quyết vấn đề. Thông qua những kinh nghiệm thực
hành môi trường hoạt động để giáo dục trẻ mà ở đó người lớn phải luôn mẫu mực
và làm gương cho trẻ noi theo. Tạo môi trường thân thiện với trẻ: Gần gũi thương
yêu và luôn giúp trẻ thấy tự tin, thoải mái. Môi trường học tập phải tràn ngập tính
sáng tạo, đáp ứng nhu cầu khát vọng và cả tính tò mò của trẻ. Một trong những
phương tiện góp phần hình thành kỹ năng sống cho trẻ là hoạt động vui chơi.
Thông qua các trò chơi, kỹ năng sống sẽ được hình thành và nó luôn có mặt trong
cuộc sống của trẻ thơ.
2. Một số điểm cần lưu ý khi dạy trẻ kỹ năng sống:
- Không hạ thấp trẻ: Cứ mỗi lần chúng ta nói những lời hạ thấp trẻ vô tình
chúng ta đã làm trẻ mất hứng thú khám phá, trẻ cảm thấy bị hụt hẫng và không

TT
1

2
3
4
5
6
7
8

Nhóm kỹ năng
nhận thức về
bản than

Nhóm kỹ năng
giao tiếp và
quan hệ xã hội

Nhóm kỹ năng
tương tác

9
10

11

Nhóm kỹ năng

Footer Page 24 of 113.

45%
60%
53%
24


Header Page 25 of 113.

12
13
14

khám phá thế
giới xung
quanh

Kỹ năng khám phá sự vật
Kỹ năng khám phá chất liệu
Kỹ năng khám phá thiên nhiên

58%
58%
63%

2. Sau khi nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu

TT

1

quanh

Kỹ năng tự phục vụ: Tự xúc ăn, tự mặc quần
áo, tự chăm lo vệ sinh cá nhân, tự dọn đồ
đạc, tự làm việc nhà tùy theo lứa tuổi
Kỹ năng tự bảo vệ trước những tình huống
nguy hiểm: Kỹ năng phân biệt nguy hiểm,
kỹ năng tự xoay xở, kỹ năng xử lý tình
huống
Kỹ năng nhận biết giá trị bản thân
Kỹ năng giao tiếp với bạn bè
Kỹ năng giao tiếp với bố mẹ
Kỹ năng giao tiếp vơi người lạ
Kỹ năng tổ chức hoạt động
Kỹ năng làm việc nhóm: Kỹ năng tạo niềm
vui, Kỹ năng tạo ra tinh thần đồng đội, kỹ
năng làm thủ lĩnh,
Kỹ năng ra quyết định
Kỹ năng giải quyết vẫn đề
Kỹ năng khám phá không gian
Kỹ năng khám phá sự vật
Kỹ năng khám phá chất liệu
Kỹ năng khám phá thiên nhiên

Học kỳ Học kỳ
1

2

90%

82%
82%
82%
84%

BIỂU DIỄN KẾT QUẢ TRÊN ĐỒ THỊ
1. Nhóm kỹ năng nhận thức bản thân

Footer Page 25 of 113.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status