XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁTTRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH - Pdf 34

Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I.Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ năm học 2014 - 2015, Bộ giáo dục và đào tạo
đã triển khai kế hoạch đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá, xây dựng các
chuyên đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
II. Mô tả giải pháp:
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
Chương trình SGK hiện hành theo các chương, bài/tiết, nội dung chọn vẹn
một vấn đề có thể kéo dài trong nhiều bài học, kiến thức rời rạc về lý thuyết và
thực hành; phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá truyền thống là chủ yếu.
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến:
Xây dựng các chuyên đề dạy học dựa vào nội dung chương trình SGK hiện
hành có thể thực hiện trong nhiều tiết, sử dụng các PP và kỹ thuật dạy học tích
cực trong các hoạt động dạy học để giải quyết trọn vẹn một vấn đề học tập.
III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
1. Hiệu quả kinh tế
GV đã sử dụng triệt để các PPDH tích cực tạo hứng thú cho học sinh học
tập môn Công nghệ; chất lượng bài kiểm tra tăng, HS đạt khá giỏi nhiều hơn và
HS đã yêu thích môn học hơn.
2. Hiệu quả về mặt xã hội
Sáng kiến đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát
triển năng lực, tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống của người học.
IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Tôi xin cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền SKKN của ai.
CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN


Nơi thường trú: xóm Trại Làng - xã Hồng Quang - huyện Nam Trực - tỉnh
Nam Định.
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Kỹ thuật.
Chức vụ công tác: Giáo viên, UVBCH Công Đoàn
Nơi làm việc: Trường THPT Nguyễn Du.
Địa chỉ liên hệ: Trường THPT Nguyễn Du - xã Nam Tiến - huyện Nam Trực
- tỉnh Nam Định.
Điện thoại: 0948.348.114
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 95 %.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT Nguyễn Du
Địa chỉ: xã Nam Tiến - huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định.
Điện thoại: 03503.827.326

2
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

Trường THPT Nguyễn Du - xã Nam Tiến - huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định

3
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lý do chọn đề tài

tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông
tin - truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng
rãi và hiệu quả trong các trường phổ thông.
4
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là nhiều học sinh phổ thông còn thụ
động trong việc học tập môn Công nghệ; khả năng sáng tạo và năng lực vận
dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn
chế. Do đó,trong phạm vi chương trình Công nghệ 12, việc nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng chuyên đề dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Công nghệ lớp 12
THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh” là cần thiết, để đáp ứng
nhu cầu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
2.Mục đích nghiên cứu.
Vận dụng lý luận về các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy
học chuyên đề môn Công nghệ 12 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo và năng lực tự học của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
môn Công nghệ của nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu một số luận điểm về cơ sở lý
luận của một số phương pháp dạy học tích cực môn Công nghệ THPT.
- Phạm vi nghiên cứu:Phương pháp dạy học môn Công nghệ 12; nội dung
chương trình môn học Công nghệ 12; học sinh khối 12 trường THPT Nguyễn
Du; giáo viên dạy môn Công nghệ ở một số trường trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Xây dựng một số chuyên đề dạy học ở bộ môn Công nghệ lớp 12 THPT.

1.6. Tình hình dạy học môn Công nghệ lớp 12 hiện nay
Kết luận chương 1
Chương 2. Xây dựngchuyên đề dạy học môn Công nghệ lớp 12 THPT
2.1. Đặc điểm nội dung môn Công nghệ lớp 12
2.2. Xây dựng chuyên đề dạy học
2.3. Một số chuyên đề dạy học môn Công nghệ lớp 12
Kết luận chương 2
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm
3.3. Đối tượng thực nghiệm
3.4. Điều kiện thực nghiệm
3.5. Tổ chức thực nghiệm
3.6. Kết quả thực nghiệm
Kết luận chương 3
6
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

PHẦN II. NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. XU HƯỚNG ĐỔI MỚI DẠY HỌC HIỆN NAY.

Hiện nay, phát triển năng lực sáng tạo ở thế hệ trẻ đang trở thành một vấn
đề được quan tâm. Một trong những nguyên nhân của sự quan tâm đó là quy mô
của của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đòi hỏi mỗi người phải có kỹ
năng biết nhìn thấy, biết đặt ra và biết giải quyết những vấn đề đặt ra trong sản
xuất, nghiên cứu khoa học và trong đời sống xã hội v.v…Đó là một trong

Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển nên các thiết bị kỹ thuật ngày
càng hiện đại, vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn, các phương pháp công
nghệ luôn được đổi mới,… điều đó làm cho nội dung dạy học môn Công nghệ
sẽ nhanh chóng lạc hậu, nếu như không biết lựa chọn, bổ sung cập nhật và xây
dựng hợp lý.
Mục tiêu dạy học môn Công nghệ thay đổi, làm cho các phương pháp dạy
học Công nghệ phổ thông truyền thống tỏ ra bất cập. Nếu như trước đây, khi
dạy về một loại máy móc hay thiết bị kỹ thuật, giáo viên có thể chỉ sử dụng
phương pháp thuyết trình, trực quan để truyền đạt kiến thức lý thuyết, sử dụng
các phương pháp dạy học thực hành để rèn luyện kỹ năng thực hành; học sinh
chỉ có thể ghi nhớ rồi tái hiện,… thì ngày nay điều đó là không thể được. Bởi lẽ
không thể ghi nhớ và tái hiện lượng thông tin khổng lồ và luôn biến động. Mặt
khác, nếu chỉ ghi nhớ rồi tái hiện thì sản phẩm của giáo dục sẽ là những con
người chỉ biết vâng lệnh, thừa hành,… không có tư duy sáng tạo. Chính vì vậy,
phải đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học Công nghệ phổ thông
nói riêng, nhằm khắc phục những bất cập nêu trên. Trong việc đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay, điều quan trọng nhất là làm thế nào để học sinh động
não, để nâng cao chất lượng hoạt động trí tuệ, làm phát triển trí thông minh, trí
sáng tạo của học sinh. Việc đổi mới dạy học theo xu hướng nhằm đào tạo con
người phát triển toàn diện mà cụ thể là hình thành và phát triển tính tích cực chủ
động, độc lập, sáng tạo, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình
huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt
động thực hành, thực tiễn.Vì nhờ đó mà họ có thể tiếp tục tự học, tự nâng cao
trình độ và hoàn thiện tri thức của mình, nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày
càng cao của cuộc sống.
Để đạt được những mục tiêu trên, theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy
học hiện nay đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội
dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc

1.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC.
Các phương pháp dạy học truyền thống luôn là những phương pháp quan
trọng trong dạy học. Đổi mới không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp truyền
thống mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược
điểm của chúng.
*Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống.
Trước hết người giáo viên cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành
thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp,
chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết
trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ
thuật làm mẫu trong luyện tập.
Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất
yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử
dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật
dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh.
*Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học.
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn
bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và
9
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và
dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi
một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn
lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt
thông qua làm việc nhóm.
Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc



Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

tác xã hội của việc học tập.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển
hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình
huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm.Vận dụng dạy học
theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào
tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo
dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông.Tuy nhiên, nếu
các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì
chưa phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý
thuyết thì học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết
hợp giữa lý thuyết và thực hành.
*Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt
động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình
học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm
hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân.
Đây là một quan điểm dạy học tích cực hóa và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy
học định hướng hành động có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý
giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã
hội.
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng
hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập
phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra
các sản phẩm có thể công bố.
Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm
dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học

nhau thì việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng
trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây
dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn.
Ví dụ: Thực hành là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của môn
Công nghệ; các phương pháp dạy học như làm mẫu thao tác, phân tích sản
phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương
pháp chủ lực trong dạy học Công nghệ.
*Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh.
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc
tích cực hóa, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận
thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp
tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập
chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập
cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong
bộ môn.
Như vậy có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với
12
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

những cách tiếp cận khác nhau. Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi
những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học,
điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính
chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những
phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá
nhân.
1.3.VỀ HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC.
Hình thức và phương pháp dạy học được đổi mới nhằm phát huy tính chủ

Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có
vẻ “nhàn” hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công
sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện
bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài
trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên
phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có
thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến
ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
- Về kỹ thuật tổ chức hoạt động học của học sinh.
Theo quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh, quá
trình dạy - học bao gồm một hệ thống các hành động có mục đích của giáo viên
tổ chức hoạt động trí óc và chân tay của học sinh, đảm bảo cho học sinh chiếm
lĩnh được nội dung dạy học, đạt được mục tiêu xác định. Trong quá trình dạy
học, giáo viên tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức của học sinh
phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học. Cụ thể:
+ Giáo viên tổ chức tình huống, giao nhiệm vụ cho học sinh. Học sinh
hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải
quyết. Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn ra chính xác hóa, phù
hợp với mục tiêu dạy học và nội dung cụ thể đã xác định.
+ Học sinh tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra. Với sự theo dõi, định
hướng, giúp đỡ của giáo viên, hoạt động của học sinh diễn ra theo một tiến trình
hợp lý, phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận.
+ Giáo viên chỉ đạo trao đổi, tranh luận của học sinh, bổ sung, tổng kết,
khái quát hóa, thể chế hóa tri thức, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu
dạy học các nội dung cụ thể đã xác định.
Tổ chức tiến trình dạy học như vậy, lớp học có thể được chia thành từng
nhóm nhỏ. Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia
ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần

thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kỹ
thuật dạy học được sử dụng.
* Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh thực hiện chuyển từ chú trọng kiểm tra kết quả ghi nhớ
kiến thức cuối kỳ, cuối năm sang coi trọng kết hợp kết quả đánh giá phong cách
học và năng lực vận dụng kiến thức trong quá trình giáo dục và tổng kết cuối
kỳ, cuối năm học để hướng tới phát triển năng lực của học sinh; coi trọng đánh
giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng
thú học tập của các em trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra, đánh giá không
chỉ là việc xem học sinh học được cái gì mà quan trọng hơn là biết học sinh học
như thế nào, có biết vận dụng không.
Thông qua kiểm tra, đánh giá, giáo viên rút kinh nghiệm, điều chỉnh hoạt
động dạy và giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để
động viên, khích lệ; phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học
sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định phù hợp về những ưu điểm nổi
15
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

bật và những hạn chế của học sinh để có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh.
- Đánh giá quá trình học tập của học sinh.
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học,
của mỗi hoạt động trong bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:
+ Theo dõi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của học
sinh/nhóm học sinh theo tiến trình dạy học; quan tâm tiến độ hoàn thành từng
nhiệm vụ của học sinh để áp dụng biện pháp cụ thể, kịp thời giúp đỡ học sinh


cho học sinh báo cáo và thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là phải xây dựng đề thi, kiểm tra
theo ma trận; chỉ đạo việc ra các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn đúng thay vì chỉ có các câu hỏi 1 lựa chọn đúng như trước đây và bài kiểm
tra bao gồm các loại câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu:
+ Nhận biết: học sinh nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kỹ
năng đã học khi được yêu cầu.
+ Thông hiểu: học sinh diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kỹ năng
đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động
phân tích, giải thích, so sánh; áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kỹ
năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập.
+ Vận dụng: học sinh kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kỹ năng đã học
để giải quyết thành cồng tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học.
+ Vận dụng cao: học sinh vận dụng được các kiến thức, kỹ năng để giải
quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã
được hướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lý trước một tình huống, vấn đề
mới trong học tập hoặc trong cuộc sống.
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
1.4.1. Các phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở môn Công nghệ
* Phương pháp dạy học dựa trên giải quyết vấn đề.
Là phương pháp dạy học lấy các vấn đề làm điểm xuất phát, làm bối cảnh
cũng như động lực cho quá trình học tập. Thông qua giải quyết vấn đề đặt ra,
người học sẽ tự định hướng, chủ động, tự lực nắm vững kiến thức cũng như cách
thức đạt được kiến thức đó.
Thông qua phương pháp dạy học này, người học sẽ trải nghiệm, hình thành
và phát triển năng lực giải quyết vấn đề (phát hiện và biểu đạt vấn đề; đề xuất
giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá giải quyết
vấn đề). Bên cạnh đó, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực thiết kế sẽ

dạy học này có tác dụng tích cực trong hình thành và phát triển các năng lực như
năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ kỹ thuật.
1.4.2. Một số kỹ thuật dạy học tích cực
Các kỹ thuật dạy học tích cực có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự
tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo
và sự cộng tác làm việc của HS.
* Động não.
Khái niệm:
Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới
mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên
được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra
“cơn lốc” các ý tưởng).
Quy tắc của động não
Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các
thành viên.
18
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

-

Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày.
Khuyến khích số lượng các ý tưởng.
Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng.

Các bước tiến hành.
Bước 1: Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề.
Bước 2: Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý

19
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có
thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một
bể cá cảnh. Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người
thảo luận sẽ trao đổi vai trò với nhau.
* Tranh luận ủng hộ - phản đối (tranh luận chia phe).

-

-

-

Tranh luận ủng hộ - phản đối là một kỹ thuật dùng trong thảo luận, trong đó
đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột. Những ý kiến khác nhau và những
ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều
góc độ khác nhau. Mục tiêu của tranh luận không phải là nhằm “đánh bại” ý
kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương diện khác nhau.
Cách thực hiện:
Các thành viên được chia thành hai nhóm hướng ý kiến đối lập nhau về một luận
điểm cần tranh luận. Việc chia nhóm có thể theo nguyên tắc ngẫu nhiên hoặc
theo nguyện vọng của các thành viên muốn đứng trong nhóm ủng hộ hay phản
đối.
Một nhóm cần thu thập những lập luận ủng hộ, còn nhóm đối lập thu thập những
luận cứ phản đối đối với luận điểm tranh luận.

Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi.

* Lược đồ tư duy.
+ Khái niệm
Lược đồ tư duy (bản đồ tư duy, bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình
bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc
của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy,
trên bảng trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính.
+ Cách làm:
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.
- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một
khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA.
Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó
đượcnối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên
các nhánh.
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung
thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
+ Ứng dụng của lược đồ tư duy.
Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề; trình bày tổng quan một chủ đề; tóm tắt
nội dung, ôn tập một chủ đề; trình bày tổng quan một chủ đề; chuẩn bị ý tưởng
cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng; thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
ghi chép khi nghe bài giảng.
+Ưu điểm của lược đồ tư duy.
- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu.
- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng.
- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại.
- Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.
* Kỹ thuật khăn trải bàn.

cùng nhau nghiên cứu và hợp tác để xây dựng một báo cáo hoặc bài trình bày.
Khi thành các viên này đã trở thành “chuyên gia”, các nhóm sẽ được chia lại.
Mỗi nhóm mới tạo thành từ những “chuyên gia” của các nhóm trước đó. Nhiệm
vụ của mỗi “chuyên gia” là dạy cho các thành viên khác trong nhóm nội dung
mà mình đã nghiên cứu trước đó. Kết quả, mỗi thành viên trong nhóm mới đều
được thảo luận, lĩnh hội về tất cả các chủ đề học tập.
Cách 2:
Thành lập nhóm hợp tác một cách ngẫu nhiên, và nhóm này gọi là nhóm
gốc. Trong nhóm gốc, mỗi thành viên trong nhóm được giao một phần của bài
dạy để tự nghiên cứu, sau đó thành viên của các nhóm khác nhau có chung chủ
đề gặp nhau để thảo luận trong một nhóm mới gọi là: “chuyên gia”. Sau khi trở
thành “chuyên gia”, họ quay về nhóm gốc và lần lượt trình bày phần kiến thức
được phân công trước đó. Kết quả, tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ
hội dạy và học lẫn nhau về tất cả các chủ đề của bài học.
1.5. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH Ở MÔN CÔNG
NGHỆ THPT.
1.5.1. Đặc điểm dạy học định hướng phát triển năng lực.
22
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

Năng lực được hiểu là thuộc tính cá nhân có được trên cơ sở vận dụng
kiến thức, kỹ năng, thái độ để thực hiện thành công một hoạt động nhất định,
đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy, dạy học định
hướng phát triển năng lực không dừng lại ở việc hình thành kiến thức, kỹ năng,
thái độ cho người học mà cần quan tâm tới việc vận dụng kiến thức, kỹ năng,
thái độ để thực hiện một công việc, giải quyết một vấn đề trong học tập cũng
như trong thực tiễn. Như vậy dạy học nhằm phát triển năng lực có các đặc điểm

GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định


Sáng kiến kinh nghiệm dự thi cấp Tỉnh - năm 2015

Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực sáng tạo.
Năng lực tự quản lý.
Năng lực giao tiếp.
Năng lực hợp tác.
Năng lực sử dụng ICT.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Năng lực tính toán.
* Năng lực chuyên biệt.
Ngoài chức năng hình thành và phát triển các năng lực chung, nhiệm vụ
chính của lĩnh vực Công nghệ là hình thành và phát triển các năng lực công nghệ
(được gọi là năng lực chuyên biệt cho mỗi lĩnh vực học tập). Trên cơ sở so sánh
và tìm ra những yếu tố chung từ cấu trúc của hai lý thuyết về “năng lực kỹ
thuật” (nhận thức, thiết kế, vận dụng) và “năng lực C,D,I,O” (theo tiếp cận
CDIO –hình thành ý tưởng, thiết kế, triển khai, vận hành); căn cứ vào kết quả
phân tích thực trạng chương trình giáo dục công nghệ hiện hành; căn cứ vào
kinh nghiệm giáo dục công nghệ Quốc tế và thực tiễn Việt Nam, có thể đề xuất
năng lực công nghệ phổ thông gồm 6 năng lực thành phần sau:
Năng lực sử dụng ngôn ngữ kỹ thuật.
Năng lực hình thành ý tưởng và thiết kế công nghệ.
Năng lực triển khai công nghệ.
Năng lực lựa chọn và đánh giá công nghệ.
Năng lực sử dụng công nghệ cụ thể.
Năng lực tiêu dùng và kinh doanh.
Việc xác định và làm rõ các năng lực cần hình thành ở học sinh (năng lực

tiêu nội dung, chương trình đang dần đổi mới. Mặt khác đời sống của giáo viên
trong những năm gần đây đã ổn định và được nâng cao, nên đội ngũ giáo viên
ngày càng quan tâm đến nghề nghiệp, họ có tinh thần phấn đấu nâng cao năng
lực chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng dạy học.
1.6.2. Khó khăn và tồn tại.
+ Chương trình bộ môn Công nghệ phổ thông còn nặng tính hàn lâm, chưa
phù hợp với mọi đối tượng, chưa đảm bảo được tính vùng miền. Bộ môn được
coi là môn phụ nên học sinh không lo sợ kết quả, không có hứng thú học tập.
Chủ yếu học sinh tập trung vào ôn thi tốt nghiệp nên đa số các em không đầu tư
nhiều thời gian cho bộ môn này. Mặt khác, một số trường phân công giáo viên
dạy không đúng chuyên môn….
+ Công tác quản lý, theo dõi, đánh giá chưa kích thích được tinh thần, khí
thế của người dạy và người học, chưa thúc đẩy được chất lượng, hiệu quả dạy
học và cũng chưa kịp thời uốn nắn được những lệch lạc xảy ra. Kết quả học tập
(thể hiện chất lượng dạy học) ở từng trường, từng lớp chủ yếu phụ thuộc vào sự
đánh giá của cá nhân giáo viên dạy ở lớp đó, trường đó. Bởi vì thường là người
dạy, người ra đề, người chấm thi là một.
25
GV: Phùng Thị Thu HiềnTHPT Nguyễn Du - Nam Trực - Nam Định



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status