TỔ CHỨC CHO HỌC SINH LÀM PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TOÁN THCS - Pdf 34

(TÊNDỤC
CƠ QUAN,
ĐƠN
VỊHUYỆN
CHỦ QUẢN)
PHÒNG GIÁO
VÀ ĐÀO
TẠO
GIAO THỦY
(TÊN CƠ
QUANHỌC
ÁP DỤNG
SÁNG
TRƯỜNG
TRUNG
CƠ SỞ
GIAOKIẾN)
TIẾN

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
(Tên sáng kiến)
TỔ CHỨC CHO HỌC SINH LÀM PHIẾU
HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TOÁN THCS

Tác giả:...................................................................
Trình
độNguyễn
chuyênThị
môn:...........................................
Tác

Nơi làm việc: Trường THCS Giao Tiến
Điện thoại: 0918 584 838
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Giao Tiến
Địa chỉ: Giao Tiến- Giao Thủy- Nam Định
Điện thoại: 03503 895 800


BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.

Xuất phát từ mục tiêu cấp học, mục tiêu môn học, định hướng chung về
dạy học môn toán THCS trong giai đoạn mới là: Đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, chú trọng phát triển năng lực của
học sinh, phân hóa học sinh. Tích cực đổi mới kiểm tra đánh giá, chuyển dần từ
kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng sang hình thức đánh giá năng
lực học sinh.
Trong định hướng dạy học này, giáo viên là người thiết kế, tổ chức hướng
dẫn, điều khiển học sinh học tập và giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo, còn
học sinh là chủ thể nhận thức, biết cách tự học, tự rèn luyện từ đó hình thành
phát triển nhân cách và các năng lực cần thiết của con người lao động mới đã đề
ra. Để đạt được điều đó, giáo viên phải là người thiết kế, sáng tạo các hình thức
tổ chức dạy học sao cho linh hoạt phù hợp với từng bài, từng nội dung kiến thức,
phù hợp với từng đối tượng học sinh trong đó có việc tổ chức cho học sinh làm
phiếu học tập. Vậy tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập như thế nào để đạt
hiệu quả cao nhất ? Qua trực tiếp giảng dạy môn toán, qua dự giờ thăm lớp các
đồng nghiệp tôi nhận thấy, giáo viên cũng đã tổ chức cho học sinh làm phiếu học
tập để củng cố kiến thức và phát hiện ra kiến thức mới song bên cạnh đó còn
những tồn tại sau:

Khi tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập tôi đã thực hiện theo những
bước sau:
- Lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập.
- Lựa chọn cách thức tổ chức và thời điểm làm phiếu học tập.
2.1. Lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập.
a. Nội dung làm phiếu học tập nhằm củng cố, kiểm tra kiến thức
Sau khi dạy xong một đơn vị kiến thức hoặc trước khi dạy một đơn vị kiến
thức, muốn củng cố kiến thức vừa học hoặc kiểm tra kiến thức cũ thì giáo viên
có thể tung ra phiếu học tập.
Ví dụ 1: Bài hình bình hành trong chương trình hình học lớp 8 rất quan
trọng. Để củng cố định nghĩa, các tính chất và dấu hiệu nhận biết của hình bình
hành tôi đã cho học sinh làm 2 phiếu học tập:
Phiếu 1: Cho hình bình hành MNPQ như hình vẽ. Hãy điền nội dung
thích hợp vào dấu (…) để hoàn thành các khẳng định sau:
+ MN // ……..; ……….//………
+ ……… = ; = …….
+ ……… = QP; ………= MQ
+ MI = ……….; …….. = IN

Phiếu này học sinh sẽ được làm ngay sau khi học xong tính chất của hình
bình hành. Qua phiếu này, học sinh biết vận dụng định nghĩa, tính chất của hình
bình hành đồng thời học sinh khái quát được: Cho hình bình hành thì suy ra
được: Các cạnh đối song song và bằng nhau, các góc đối bằng nhau, hai đường
chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.


Phiếu 2: Trong các tứ giác sau tứ giác nào là hình bình hành?
750

1100

B. x + 3 = 4x – 2 và 0,5(x + 3) = 2x – 1
C. 2x – 1 = 2 và x(2x - 1) = 2x
D. (x - 4)(x2 + 1) = 0 và x – 4 = 0
Phiếu trên có tác dụng rất lớn trong việc củng cố kiến thức cho học sinh
đồng thời giúp học sinh tránh được những sai sót dễ mắc phải: Phương trình có
hệ số a = 0, phương trình có hai ẩn hoặc một ẩn nhưng bậc của ẩn lại lớn hơn 1
thì đều không phải là phương trình bậc nhất một ẩn; khi nhân hoặc chia cả hai vế


của một phương trình với cùng một biểu chứa ẩn thì ta được một phương trình
mới có thể không tương đương với phương trình đã cho.
Phiếu học tập còn dùng để kiểm tra một khối lượng kiến thức lớn có tính
tổng hợp trong một khoảng thời gian ngắn.
Ví dụ 3: Khi dạy bài rút gọn biểu thức chứa căn thức bậc hai - Toán 9, tôi
cho học sinh làm phiếu sau :

Điền vào chỗ (…) để hoàn thành các công thức sau:
1) A2 = ...........................
2) A.B = ...................., với A.........., B...............
3)
4)
5)
6)

A
= ................... , với A.........., B...............
B
A2 B = ......... B , với B....................
A
AB

mang lại hiệu quả rất tốt trong việc khắc ghi kiến thức cho học sinh. Dùng bản
đồ tư duy dưới dạng điền khuyết vừa rút ngắn được thời gian ôn lý thuyết, vừa
giúp học sinh có cái nhìn khái quát, trực quan, dễ nhớ, nhớ lâu từ đó học sinh
biết vận dụng kiến thức vào làm bài tập. Phiếu này học sinh có thể giữ lại làm tư
liệu học tập cho mình, có những em còn tự vẽ cho mình một bản đồ tư duy theo
ý thích cá nhân trong thời gian ôn tập ở nhà.
b. Nội dung phiếu học tập nhằm hình thành kiến thức mới
Đây là nội dung thường gặp nhằm giúp học sinh phát hiện ra kiến thức
mới nhưng ở mức độ đơn giản mà cá nhân học sinh có thể tự giải quyết được.
Mức độ yêu cầu đối với phiếu học tập nhằm phát hiện ra kiến thức mới thường là
một thử nghiệm bằng các thao tác, quan sát, đo đạc, cắt ghép… từ đó phát hiện
ra một vấn đề.
Ví dụ 1: Khi dạy chứng minh định lý tổng 3 góc của một tam giác- Toán 7
tôi đã cho học sinh làm phiếu với các hoạt động thành phần sau:

1)Vẽ tam giác bất kỳ, đo 3 góc của tam giác đó rồi tính tổng số
đo của 3 góc đó. Có nhận xét gì về kết quả trên?
2) Lấy một tấm bìa hình tam giác ABC. Cắt rời góc B và góc C
ra rồi đặt chúng kề với góc A. Hãy nêu dự đoán về tổng 3 góc A, B, C
của tam giác ABC ?
3) Điền vào chỗ trống để chứng minh định lí “ Tổng ba góc của
một tam giác bằng 1800 ”

Chứng minh
Qua A kẻ đường thẳng xy// BC (Hình 2)

µ = ·xAB vì …………………………………..……….……………
B
µ = yAC
·

·
·
+ ·yOz = xOz
“ Nếu tia Oy nằm giữa hai tia Ox và Oz thì xOy
.

Ví dụ 3: Ở tiểu học, học sinh đã học phân số bằng nhau nhưng chỉ đối với
phân số có tử, mẫu là các số tự nhiên. Lên lớp 6 học sinh đã được học phân số
mà tử, mẫu là các số nguyên, để giúp học sinh hiểu bản chất khi nào

a c
=
tôi đã
b d

tiến hành cho học sinh làm phiếu học tập sau.
1) Lấy ví dụ về hai phân số bằng nhau. So sánh các tích của tử phân
số này với các mẫu của phân số kia.
2) Lấy ví dụ về hai phân số không bằng nhau. Có nhận xét gì về các
tích trên?
3) Qua các ví dụ trên em có nhận xét gì?

Một ví dụ về kết quả:
2 4
=
ta có 2.10 = 4.5( = 20)
5 10
1 2
= ta có 1.6 = 2.5( = 6)
3 6

cho học sinh dưới dạng phiếu học tập một số bản đồ tư duy chưa đầy đủ để học
sinh vẽ tiếp, viết tiếp lên đó hoặc cũng có thể vẽ lên bìa, hay bảng cho các nhóm
hoàn thiện.


Ví dụ 5: Bài “lũy thừa của một số hữu tỷ”- Toán 7. Đặc điểm của bài này
là học sinh đã học về lũy thừa với số mũ tự nhiên từ lớp 6, vì vậy có thể đưa ra
bản đồ tư duy thiếu nội dung hoặc thiếu nhánh cho học sinh hoàn thiện tiếp như
hình

sau:


c. Nội dung phiếu học tập nhằm rèn luyện và hình thành kỹ năng giải toán
cho học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy bài nhân đa thức với đa thức (Toán 8) để hình thành cho
học sinh kĩ năng tính nhẩm tôi đã cho học sinh làm phiếu sau:
Cho hai số tự nhiên có 2 chữ số ab và ac trong đó b + c = 10
+ Hãy chứng minh. ab . ac = 100(a + 1) + bc
+ Từ đó rút ra cách tính nhẩm phép nhân hai số tự nhiên có hai chữ số mà
chữ số hàng chục bằng nhau còn chữ số hàng đơn vị có tổng bằng 10
Kết quả: Biến đổi vế trái
ab . ac = (10a + b)(10a + c)
= 100a2+ 10 ac + 10ab + bc
= 100a2 +10a(b + c) + bc
= 100a2 + 100a + bc
= 100a(a + 1) + bc = VP
Vậy ab . ac = 100(a+1) + bc
Cách tính nhẩm: Muốn nhân ab với ac trong đó b + c = 10, ta viết tích
a(a + 1) rồi viết thêm tích bc vào sau

phương độ dài cạnh lớn nhất với tổng bình phương độ dài của hai cạnh còn lại.
Sửa lại: AB2 + BC2 = 82 + 152 = 64+225 = 289
AC2 = 172 = 289
Nên AB2 + BC2 = AC2
Do đó, tam giác ABC vuông tại B.
Qua bài toán trên, học sinh được hình thành kỹ năng giải toán xét xem tam
giác ABC có vuông hay không nhờ định lý Pytago đảo. Một tam giác biết độ dài
3 cạnh, muốn xét xem tam giác đó có phải là tam giác vuông hay không, ta so
sánh bình phương độ dài cạnh lớn nhất với tổng các bình phương độ dài của hai
cạnh còn lại:
- Nếu chúng bằng nhau thì tam giác đó vuông tại đỉnh đối diện với cạnh
lớn nhất
- Nếu chúng không bằng nhau thì tam giác đó không phải là tam giác
vuông
d. Nội dung phiếu học tập nhằm rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò
thái độ của học sinh trước một vấn đề.
Rèn luyện một thao tác hoặc nhiều thao tác tư duy cho học sinh là một
mục tiêu của tiết học. Bằng hình thức phiếu học tập học sinh sẽ được rèn luyện
về khả năng khái quát hoá, tương tự hoá, khả năng suy luận…
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Tính chất của thứ tự trên tập hợp Q” ( Toán 7) tôi
đã dùng phiếu học tập sau.
+ Điền dấu thích hợp vào ô trống(<; >; =) và hoàn thành nội dung tổng
quát.
6
⋅ 20
5
6 5


Bài tập: Trong các khẳng định sau, khẳng định nào đúng, khẳng định nào
sai? Đánh dấu “x” vào ô thích hợp. Từ đó hãy rút ra các dấu hiệu nhận biết tam
giác cân đồng dạng.
TT
1
2
3
4
5

Khẳng định
Hai tam giác cân luôn đồng dạng với nhau.
Hai tam giác vuông cân luôn đồng dạng với nhau.
Hai tam giác đều luôn đồng dạng với nhau.
Hai tam giác cân có góc ở đỉnh bằng nhau thì đồng dạng với
nhau.
Hai tam giác cân có một góc ở đáy bằng nhau thì đồng dạng với
nhau.
Kết quả: Các khẳng định đúng: 2,3,4,5
Khẳng định sai: 1

Đ

S

Qua đây học sinh rút ra được các dấu hiệu nhận biết tam giác cân đồng
dạng.
- Hai tam giác cân có góc ở đỉnh bằng nhau thì đồng dạng với nhau.
( Trường hợp đặc biệt: Góc ở đỉnh bằng 60 0 → tam giác đều; góc ở đỉnh bằng 900
→ tam giác vuông).

⇔ x=5

Hãy cho biết ý kiến của em về hai lời giải trên?


Học sinh sẽ nêu được hai lời giải trên thiếu điều kiện xác định của phương
trình nên dẫn tới kết luận sai.
Lời giải đúng:
ĐKXĐ: x ≠ 5
x2 − 5x
=5
x−5
⇒ x2 – 5x = 5(x - 5)
⇔ x2 – 5x = 5x – 25
⇔ x2 – 10x + 25 = 0
⇔ (x – 5)2 = 0
⇔ x = 5 ( không thoả mãn ĐKXĐ)

Vậy phương trình (1) vô nghiệm
Hoặc:
(1) ⇔

x( x − 5)
=5
x−5

⇒ x = 5( không thoả mãn ĐKXĐ)

Vậy phương trình (1) vô nghiệm
2.2. Lựa chọn cách thức tổ chức và thời điểm làm phiếu học tập.

Vận dụng những kinh nghiệm trên vào giảng dạy tôi thấy có hiệu quả khá
tốt. Nhờ đó học sinh nắm chắc kiến thức hơn, có kỹ năng làm bài tốt hơn, lường
trước và tránh được những sai sót dễ mắc phải. Bên cạnh đó, học sinh được làm
việc nhiều hơn, các em hiểu bài ngay tại lớp và vận dụng tốt những kiến thức đã
học vào giải toán. Ngoài ra, học sinh còn được rèn luyện các thao tác tư duy,
giáo dục cho học sinh tính tự lực, biết giữ vững quan điểm, lập trường trong học
tập và rèn luyện. Chính vì vậy, kết quả học tập của học sinh được nâng lên. Các
kỳ thi chất lượng và các bài kiểm tra các em đều đạt kết quả khá tốt. Hơn nữa
việc làm trên đã kích thích được học sinh niềm say mê, hứng thú đối với môn
học.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Để đạt hiệu quả cao nhất trong việc dùng phiếu học tập, người dạy cần chú
ý một số điểm sau:
1. Lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập phải phù hợp với
mục tiêu bài học, với định hướng của giáo viên;
2. Nội dung phiếu học tập không quá khó, nặng nề như nội dung hoạt
động nhóm bởi vì nội dung phức tạp quá thì cá nhân học sinh không thể giải
quyết được trọn vẹn hoặc không giải quyết được một cách nhanh chóng, mất
nhiều thời gian của tiết học;
3. Chọn hình thức xử lý phiếu sao cho phù hợp, sao cho phát huy hết được
hiệu quả của việc dùng phiếu, kích thích được hứng thú học tập của học sinh;


4. Không quá lạm dụng hình thức dùng phiếu học tập hoặc dùng phiếu có
tính chất hình thức, hời hợt, không triệt để. Giáo viên cần phải kết hợp với các
hình thức dạy học khác nhằm hình thành và phát triển ở học sinh tư duy tích cực,
độc lập, sáng tạo.
V. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN


2. Một số vấn đề đổi mới PPDH môn Toán của Bộ GD-ĐT
3. Thiết kế bản đồ tư duy dạy- học môn Toán của TS Trần Đình Châu và TS
Đặng Thị Thu Thủy.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status